Hẹp niệu đạo ở nam giới là bệnh gì?
Hẹp niệu đạo là một bệnh lý niệu khoa thường gặp, bệnh biểu hiện sau một viêm nhiễm hay sau một chấn thương hệ niệu. Cần hiểu rõ căn nguyên bệnh để có hướng xử trí kịp thời nhằm tránh những biến chứng.
Cấu trúc niệu đạo nam giới
Ảnh minh họa.
Niệu đạo được chia ra 2 phần: niệu đạo trước và niệu đạo sau. Niệu đạo trước có chiều dài 12 – 15cm, được bao bọc bởi vật xốp, gồm phần cố định hay còn gọi là niệu đạo hành và phần di động gọi là niệu đạo dương vật. Niệu đạo sau có chiều dài 4,5 – 5cm, gồm niệu đạo màng đi qua cân đáy chậu và niệu đạo tiền liệt tuyến. Đường kính niệu đạo trung bình 4 – 6mm, khi nong giãn độ 8 – 10 mm, niệu đạo không phải là một ống tròn đều xuyên suốt mà có những chỗ hẹp và chỗ rộng.
Hẹp niệu đạo xảy ra như thế nào?
Hẹp niệu đạo thường là hậu quả sau đợt viêm nhiễm niệu đạo, xuất phát từ các ổ trong tuyến littre do vi khuẩn lậu cầu trú ẩn và gây bệnh, lâu ngày gây xơ sẹo làm chít hẹp niệu đạo nhiều chỗ; do nhiễm khuẩn bao quy đầu thường xảy ra sự lây chéo sau giao hợp, làm chít hẹp và có thể lan tới tiền liệt tuyến và niệu đạo hành; do bệnh lý toàn thân tổn thương của lao thận, lao bàng quang rồi lan đến lao niệu đạo. Hẹp niệu đạo còn do di chứng của chấn thương niệu đạo; sau những thủ thuật lấy sỏi niệu đạo làm tổn thương niêm mạc niệu đạo, sau mổ cắt u xơ tiền liệt tuyến.
Các biểu hiện hẹp niệu đạo
Sau đợt điều trị viêm nhiễm hay sau chấn thương, người bệnh than phiền đi tiểu khó, lúc tiểu tia nước tiểu yếu dần, xoắn tia và nhỏ giọt. Thời gian đi tiểu lâu hơn 30 giây đến 1 phút, cảm giác còn muốn đi tiểu nữa, kích thích rặn nhiều trong lúc tiểu.
Trường hợp bí tiểu thật sự, khi có kèm bội nhiễm hay sỏi kẹt làm chít hẹp hoàn toàn niệu đạo làm người bệnh rất khó chịu, căng trướng bàng quang, vật vã cần tiểu liền.
Thăm khám niệu đạo, phát hiện tổn thương như chít hẹp bao quy đầu, phát hiện những đoạn, cục xơ cứng niệu đạo khi nắn niệu đạo từ đầu đến gốc dương vật. Khi đặt ống sonde tiểu bằng ống sonde Nelaton 18 thì không qua được niệu đạo.
Diễn tiến và biến chứng
Sau khi bị hẹp niệu đạo, người bệnh vẫn chịu đựng, cố gắng đi tiểu theo đường tự nhiên trong một thời gian, tùy theo mức độ tổn thương, tiến triển đến hẹp hoàn toàn. Sự chịu đựng, cố gắng tiểu tự nhiên dần dần đưa đến biến chứng. Ứ đọng nước tiểu bàng quang gây nhiễm khuẩn ngược dòng lên niệu quản, thận. Do ứ trệ lâu ngày không có lối thoát, gây rò rỉ ra da tại vị trí tầng sinh môn hay vùng da bìu và ứ đọng kèm nhiễm khuẩn tạo thành ổ áp xe hình tổ ong, gây hình thành túi thừa bàng quang và lâu dài biến chứng suy thận.
Phân biệt các bệnh khác
Bệnh hẹp cổ bàng quang do viêm xơ cổ bàng quang: gặp trong trường hợp sau mổ u xơ tiền liệt tuyến. Người bệnh có triệu chứng khó đi tiểu, khi đặt sonde tiểu, ống thông dừng lại trước cổ bàng quang, chụp niệu đạo có cản quang, trên hình ảnh X-quang không thấy thuốc cản quang vào được bàng quang.
- U xơ tiền liệt tuyến: người bệnh tiểu khó, tiểu rắt, đang tiểu ngắt giữa dòng, dòng tiểu giảm đột ngột, khi khám thăm trực tràng sờ được khối u. Bệnh này thường gặp ở người già.
Xử trí hẹp niệu đạo
Tùy theo mức độ tổn thương, vị trí của bệnh mà ta có cách xử trí khác nhau. Trường hợp hẹp niệu đạo có viêm nhiễm tiến triển thành áp-xe, rò nước tiểu và bí đái cấp tính, phải mở thông bàng quang dẫn lưu nước tiểu ra da, điều trị hết viêm nhiễm bằng kháng sinh đồ hay kháng sinh liều cao, toàn thân như augmentin, ceftriaxon, tobramycin. Trường hợp do lao phải điều trị đặc hiệu.
Điều trị căn nguyên: nong niệu đạo, đây là phương pháp vẫn được áp dụng để nong niệu đạo và đặt ống sonde nong que nhỏ được dùng để dẫn đường qua chỗ hẹp chít rồi tiến hành nong rộng. Hiện nay có nhiều phương pháp nong bằng ống sonde có bóng chèn tại chỗ hẹp niệu đạo.
Phẫu thuật điều trị hẹp niệu đạo nhằm tái tạo niệu đạo. Trải qua năm tháng, các phương pháp phẫu thuật không ngừng được cải tiến, giúp khả năng tạo hình ống niệu đạo trở về đúng sinh lý ban đầu, nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.
Theo BS.CKII. Tuê Thành – Sức khỏe đời sống
Chứng tăng mỡ máu
Tăng mỡ trong máu liên quan mật thiết đến thói quen ăn uống cũng như chế độ sinh hoạt của mỗi người, đặc biệt là người cao tuổi (NCT). Nó ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe người bệnh.
Cholesterol và triglycerit là chất gì?
Cholesterol là một chất béo có ở màng tế bào của tất cả các mô tổ chức trong cơ thể và được vận chuyển trong huyết tương của con người. Phần lớn cholesterol không có nguồn gốc từ thức ăn mà được gan tổng hợp nên từ các chất béo bão hòa, một phần nhỏ cholesterol được hấp thu từ thức ăn như: trứng, sữa, não, thịt đỏ, mỡ động vật, lòng lợn, lòng bò, tôm… Đặc điểm của cholesterol: kém tan trong nước, không thể tan và di chuyển trong máu mà phải nhờ vào lipoprotein (lipoprotein do gan tổng hợp ra và tan trong nước mang theo cholesterol).
Người cao tuổi cần hạn chế ăn mỡ động vật
Cholesterol rất cần cho sự hoạt động của màng các tế bào trong cơ thể, cần cho sự hoạt động của cơ thể để sản xuất ra một nội tiết tố và cũng là thành phần rất quan trọng của muối mật.
Còn triglycerit là gì? Chúng ta có thể hiểu một cách ngắn gọn là khi chất acid béo loại tự do được hấp thu qua gan sẽ được chuyển thành cholesterol, nếu lượng acid béo bị dư thừa thì sẽ trở thành triglycerit. Tại gan, triglycerit sẽ kết hợp với chất apoprotein (do gan sản xuất ra) và được đưa ra khỏi gan dưới dạng lipoprotein có tỷ trọng thấp. Khi có sự mất cân bằng giữa lipid vào gan và lipid ra khỏi gan thì mỡ sẽ tích lại trong gan gây nên gan nhiễm mỡ. Khi gan bị nhiễm mỡ thì sẽ hạn chế chức năng sản xuất ra chất apoprotein làm cho lượng acid béo vào gan quá lớn, càng làm cho gan nhiễm mỡ nặng hơn. Nếu tăng quá cao triglycerit máu thì sẽ có nguy cơ gây viêm tụy cấp tính.
Khi nào được gọi là rối loạn mỡ máu?
Khi có một trong các chất sau đây không nằm trong giới hạn bình thường thì được gọi là rối loạn:
Tăng cholesterol máu (bình thường cholesterol máu 5,2mmol/l). Cholesterol gồm các chất HDL-C (cholesterol có tỷ trọng cao) và LDL-C cholesetrol có tỷ trọng thấp, HDL-C là loại cholesterol tốt có tác dụng bảo vệ thành mạch máu. Còn chất LDL-C (cholesterol có tỷ trọng thấp) trong máu người bình thường 3,4mmol/l là loại cholesterol xấu. LDL-C có khả năng làm xơ vữa thành động mạch mà hậu quả sẽ là làm hẹp lòng động mạch gây tăng huyết áp, đột quỵ, tai biến mạch máu não, thiểu năng mạch vành… Khi triglycerit máu trên 2,26 mmol/l được gọi là triglycerit cao. Còn khi tăng cả cholesterol và triglycerit thì được gọi là tăng mỡ máu hỗn hợp.
Nguyên nhân gây tăng mỡ máu ở NCT
Hay gặp nhất trong trong tăng cholesterol máu ở NCT là do chế độ ăn không hợp lý như: ăn nhiều mỡ động vật, phủ tạng động vật, trứng (nhất là lòng đỏ trứng), sữa toàn phần, bơ, thịt đỏ, lòng động vật… trong các bữa ăn hàng ngày. Tiếp đến là người béo phì, ngoài ra người ta cũng có thể gặp do di truyền, mắc một số bệnh về rối loạn chuyển hóa như đái tháo đường. Còn tăng triglycerit hay gặp nhất là do uống quá nhiều rượu, béo phì, di truyền, lười vận động hoặc rối loạn gen chuyển hóa…
Biện pháp ngăn chặn
Để góp phần làm cho mỡ máu không tăng cao, NCT cần hạn chế ăn mỡ động vật mà nên thay bằng dầu thực vật trong các bữa ăn hàng ngày. Không nên ăn nhiều lòng động vật mà nên ăn nhiều cá, mỗi tuần nên ăn từ 2 – 3 lần ăn cá thay thịt. Cần tăng cường ăn rau, hoa quả. Không nên nghiện rượu, bia hoặc uống quá nhiều rượu, bia hàng ngày. Không nên ăn quá nhiều tinh bột. Nên ăn nhiều rau trong các bữa ăn, sau mỗi một bữa nên ăn: cam, bưởi, táo, nho… Tăng cường tập thể dục hoặc chơi các môn thể thao nhẹ nhàng như: đi bộ, cầu lông… Hạn chế tăng cân, béo phì. NCT nên đi khám bệnh định kỳ để được chỉ định xét nghiệm máu về mỡ máu. Khi có hiện tượng tăng mỡ máu, bác sĩ sẽ tư vấn và khi cần thiết phải dùng thuốc bác sĩ cũng sẽ kê đơn phù hợp với bệnh của từng người. Không nên tự động mua thuốc để điều trị khi chưa có ý kiến của bác sĩ.
BS. MAI HƯƠNG
Thoái hóa khớp bàn tay ở người cao tuổi
Thoái hóa khớp (THK) bàn tay là một trong các bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi, gây đau, ảnh hưởng nhiều đến chức năng vận động và đời sống sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân.
Ở Việt Nam, THK bàn tay chiếm tỷ lệ 14%, đứng hàng thứ tư trong các vị trí THK thường gặp.
Ai hay bị thoái hóa khớp bàn tay?
Đầu tiên, THK thường đi kèm với người cao tuổi. Tuổi trung bình của bệnh nhân THK bàn tay là 60 – 65 tuổi. Tuy nhiên từ độ tuổi 55 đã bắt đầu xuất hiện các biểu hiện của THK bàn tay. Tỷ lệ bệnh tăng dần theo tuổi, cao hơn ở nhóm tuổi từ 60 trở lên và cao nhất ở nhóm 70 – 79 tuổi.
Tuổi càng cao, lượng máu đến nuôi dưỡng vùng khớp bị giảm sút, sự lão hoá sụn càng rõ, làm cho sụn kém chịu đựng được các yếu tố tác động có hại lên khớp. Ngoài ra, người già vẫn phải làm việc để kiếm sống, chăm lo các công việc trong gia đình như giặt giũ, bế cháu, các công việc nội trợ khác. Họ lao động chân tay là chủ yếu, tạo điều kiện cho bệnh phát triển.
Bệnh cũng thường gặp ở nữ giới, gấp 3 lần so với nam giới. Nguyên nhân có thể là do sự thay đổi hormon như estrogen dẫn đến thay đổi tế bào sụn khớp.
Những người béo phì cũng dễ bị THK bàn tay. Có tới 1/3 bệnh nhân THK bàn tay bị béo phì. THK bàn tay thường xuất hiện sau một số bệnh lý bàn tay như sau chấn thương, gãy xương khớp, hoại tử xương, viêm khớp dạng thấp, gút mạn tính, đái tháo đường…
Cách nhận biết
Bàn tay phải hay bị thoái hóa hơn vì đa số trong chúng ta đều thuận tay phải, dùng nhiều tay phải hơn trong cuộc sống, lao động và sinh hoạt. Trong số 5 ngón tay thì các ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa (ngón I, II, III) hay bị thoái hóa nhất do các ngón này phải hoạt động tích cực nhất khi cầm, nắm, mang, vác hay xách đồ vật. Còn trong các vị trí khớp của từng ngón tay, khớp ngón xa hay khớp ngón gần, khớp gốc ngón tay cái hay bị THK nhất, liên quan đến việc sử dụng các khớp này nhiều nhất khi cầm nắm đồ vật. Đặc biệt, khớp gốc ngón tay cái có hình yên ngựa, đảm nhiệm chức năng cầm, nắm đồ vật của bàn tay, do đó dễ bị tổn thương hơn. Hiện nay người ta đã chứng minh vai trò chắc chắn của yếu tố nghề nghiệp trong THK gốc ngón tay cái ở phụ nữ. Người bệnh than phiền đau khớp bàn tay 1 bên hoặc cả 2 bên, đau kiểu cơ học, tức là đau khi vận động và giảm khi nghỉ ngơi. Đau tăng lên khi mặc quần áo, khi cài khuy áo; đau khi nắm bàn tay lại, đau khi rót nước vào ly và đỡ đau khi nghỉ ngơi. Đau thường chỉ ở mức độ nhẹ và trung bình. Vào buổi sáng, khi thức dậy, người bệnh thấy khớp bị cứng, khó cử động, kéo dài từ 15 – 30 phút. Cứng khớp sau khi nghỉ ngơi cũng thường gặp. Đó là dấu hiệu phá rỉ khớp. Dần dần bàn tay trở nên khó làm các động tác sinh hoạt thường ngày hơn, phát tiếng lạo xạo khi cử động, các cơ bàn tay teo nhỏ.
Ở các giai đoạn muộn, có 1/3 số bệnh nhân có các ngón tay bị biến dạng. Đó là do sự có mặt của các chồi xương, mọc ở khớp ngón xa (hạt Heberden) hay ở khớp ngón gần (hạt Bouchad), gây ảnh hưởng đến thẩm mỹ.
Các xét nghiệm máu thường bình thường. Có thể sử dụng thêm chụp X-quang bàn tay để chẩn đoán THK bàn tay. Đây là kỹ thuật đơn giản, ít tốn kém, được sử dụng để đánh giá mức độ tổn thương của THK trong nhiều năm nay. Có 4 dấu hiệu cơ bản của THK bàn tay là gai xương, hẹp khe khớp, đặc xương dưới sụn, hốc xương.
Phòng tránh
Tránh lao động, mang vác nặng. Không nên sử dụng đôi tay trong thời gian liên tục, quá dài. Các thành viên trong gia đình và cộng đồng xã hội nên quan tâm, chia sẻ bớt gánh nặng của người cao tuổi. Tăng cường việc sử dụng máy móc hỗ trợ cho lao động và sinh hoạt nếu có thể. Việc phát hiện sớm THK bàn tay là cần thiết vì sẽ giúp điều trị sớm, giảm thiểu các hậu quả của bệnh. Khi có các dấu hiệu như đau khớp bàn tay, biến dạng khớp hay cứng khớp buổi sáng, hạn chế vận động bàn tay, nên đến khám chuyên khoa xương khớp để được tư vấn và điều trị kịp thời
PGS.TS.BS. NGUYỄN VĨNH NGỌC – sức khỏe đời sống
Tinh trùng được sinh ra từ đâu?
Mỗi người đàn ông bình thường có hai tinh hoàn (hạt cà, ngọc hoàn, hòn dái…) nằm trong bìu. Bìu là một túi da và cơ, nhìn bề ngoài màu sẫm và nhăn nheo. Cùng với dương vật, tinh hoàn được tạo ra rất sớm ngay từ những tuần lễ đầu sau khi thụ thai. Môi trường sống, thuốc men, bệnh tật, nội tiết của người phụ nữ có thai rất dễ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tinh hoàn.
Khi thai còn 5-6 tháng trong bụng mẹ thì tinh hoàn của bé trai còn nằm trong ổ bụng bào thai, về sau tuổi thai càng lớn tinh hoàn càng tụt xuống cho đến khi đứa trẻ ra đời tinh hoàn mới tụt hẳn vào bìu. Lúc mới sinh tinh hoàn chỉ nhỏ như hạt lạc, khi trưởng thành tinh hoàn mới to lên với kích thước trung bình chừng 4cm x 2,5 x 1,5.
Tinh hoàn có thể bị vướng mắc lại trong quá trình di chuyển từ ổ bụng vào bìu nhất là khi qua bẹn (ống bẹn) và bị treo ở đấy tạo thành tinh hoàn ẩn.
Tinh hoàn có hai nhiệm vụ: ngoại tiết và nội tiết.
Nhiệm vụ ngoại tiết là sản sinh ra tinh trùng. Tinh trùng được sinh ra từ các tế bào mầm của các ống sinh tinh ngoằn ngoèo trong tinh hoàn rồi đổ vào mào tinh. Tinh trùng khi mới ở ống sinh tinh ra thì chưa có khả năng tự di chuyển và thụ tinh. Sau khi đi qua mào tinh, được tôi luyện mới có thể tự vận động (bơi) và có khả năng thụ tinh (với trứng) được. Quá trình sinh tinh khoảng 72 ngày (2 tháng rưỡi). Nghĩa là thời gian cần thiết để hình thành tinh trùng từ tế bào tinh tới lúc trưởng thành.
Nhiệm vụ nội tiết của tinh hoàn là sản xuất ra nội tiết tố nam (testosteron). Nội tiết tố này góp phần vào việc tạo dáng nam giới: râu tóc, lông mu, cơ bắp, sức mạnh, ham muốn tình dục và tinh dịch. Chính nội tiết này làm nên sự khác biệt giữa nam với nữ.
Những điều cấm kỵ với cậu nhỏ
Bất luận là nam grain nữ thì giữ vệ sinh bộ phận sinh sản rất quan trọng bởi nếu không sẽ gây ra nhiều bệnh sinh dục về sau, nặng sẽ dẫn đến vô sinh. Dưới đây là những điều cấm kỵ nam giới nên tránh.
Kỵ “yêu” quá nhiều
“Chuyện yêu” hài hòa, thời điểm thích hợp sẽ đem lại trải nghiệm và tâm trạng vui vẻ cho cả hai, có lợi ích rất tốt đối với sức khỏe và dưỡng sinh. Tuy nhiên, nếu “yêu” quá tham, quá nhiều, không biết “tiết kiệm”, cơ quan sinh dục sẽ ở trạng thái xung huyết trong thời gian dài, từ đó dễ gây ra các bệnh như viêm tiền liệt tuyến, tiền liệt tuyến sưng to, liệt dương, xuất binh sớm, không thể xuất binh….
Kỵ “yêu” quá sớm
Thông thường, nam giới đến 24-25 tuổi mới trưởng thành, phát triển toàn diện, nếu “yêu” quá sớm, cơ quan sinh dục vẫn chưa phát triển đồng bộ, sẽ hao tổn tinh binh, dễ gây ra các chướng ngại về chức năng giới tính ở các mức độ khác nhau, khi đến tuổi trung niên dễdẫn đến xuất binh sớm, liệt dương, đau lưng và nhanh lão hóa….
Kỵ không thường xuyên tự kiểm tra
Y học nghiên cứu chứng minh, ung thư tinh hoàn, ung thư dương vật nếu phát hiện sớm thì khả năng chữa trị khỏi là rất cao. Một khi đế nó phát triển đến thời kỳ cuối thì hiệu quả trị liệu không lý tưởng chút nào. Vì vậy, nam giới trên 35 tuổi nên thường xuyên kiểm tra cơ quan sinh dục của mình, có dấu hiệu bất thường nên lập tức đi khám bác sỹ.
Ky không giữ gìn vệ sinh
Giữ gìn vệ sinh ở bộ phận sinh dục cực kỳ quan trọng đối với nam giới, đặc biệt là người có quy đầu hơi dài. Cần phải thường xuyên lật da ở quy đầu lên để rửa sạch cặn bận bám ở trong, bởi vì bụi bẩn ở bao quy đầu không những dễ gây ra ung thư quy đầu mà còn dễ làm cho bạn đời của mình bị ung thư cổ tử cung.
Kỵ mặc quần bò hàng ngày
Y học nghiên cứu chứng minh, hệ thống sinh sản của nam giới yêu cầu ở nhiệt độ thấp là tốt nhất, nếu thường xuyên mặc quần bò sẽ làm cho nhiệt độ xung quanh chú nhỏ quá cao, làm cho tinh binh khó hình thành, phát triển.
Ai dễ bị ung thư tinh hoàn?
Cho đến nay, người ta vẫn chưa chỉ ra được một nguyên nhân nào là khả dĩ của căn bệnh rắc rối tới sinh sản này. Người ta chỉ vạch ra được một số nguy cơ cố định mà một người khi có một hay nhiều nguy cơ thì có khả năng cao bị bệnh. Nếu có một, dù chỉ một thì hãy theo dõi thật cẩn thận và khám xét sớm nhà máy giống của mình. Bởi chưa khi nào chữ “sớm” lại mang một ý nghĩa lớn lao như khi này.
Điều cần biết về ung thư tinh hoàn?
Ảnh minh họa.
Ung thư tinh hoàn là tình trạng xuất hiện một khối u ác tính tại một hay cả hai tinh hoàn. Khối u ác tính này cứ ngày một to ra và rồi nó xâm lấn ra toàn bộ tinh hoàn. Đến một mức độ nào đó, toàn bộ tinh hoàn chỉ toàn là khối ung thư.
Do tinh hoàn là một cơ quan sinh sản đặc thù của nam giới nên ung thư tinh hoàn là một bệnh đặc thù của giới này. Nó là nguyên nhân ảnh hưởng không những tới khả năng sinh sản mà còn ảnh hưởng tới chất lượng phát triển đặc điểm giới tính nam.
Ở một cấu trúc bình thường, tinh hoàn chỉ gồm ba tế bào cơ bản là tinh nguyên bào, tế bào sertoli và tế bào kẽ (còn gọi là tế bào Leydig). Ung thư tinh hoàn có thể đến từ ba loại tế bào này. Trong ba loại tế bào trên chỉ có hai loại tế bào là quan trọng nhất bởi nó là đặc thù và quyết định chức năng giới tính sống còn của nam giới. Đó là tinh nguyên bào có nhiệm vụ sản sinh tinh trùng, những tinh binh chịu trách nhiệm thụ tinh và tế bào kẽ có nhiệm vụ sản xuất ra hormon sinh dục nam đặc dụng là testosterol.
Đặc điểm của khối u ác tính trong ung thư tinh hoàn là tế bào của nó có sức phát triển mạnh mẽ, lấn át và triệt tiêu hoàn toàn một dòng tế bào hay cả ba dòng tế bào này. Sức phát triển của nó mạnh đến nỗi nó còn có thể phát triểnvượt ra ngoài tinh hoàn và đi đến những cơ quan ở xa gọi là di căn. Sự di căn là điều kiện châm ngòi cho những biến chứng phức tạp trong ung thư nói chung và trong ung thư tinh hoàn nói riêng.
Ai có nguy cơ mắc bệnh?
Nguy cơ mạnh nhất và bị coi là nguy cơ rõ rệt nhất là tình trạng tinh hoàn ẩn. Tinh hoàn ẩn là tinh tràng tinh hoàn không nằm trong bìu như bình thường, tức là bìu trống rỗng và tinh hoàn thì nằm chỗ khác. Các vị trí nó có thể định cư là trong ổ bụng hay trên thành bụng. Đây là nguy cơ cần được lưu ý hàng nhất. Tỷ lệ ung thư tinh hoàn do nó gây ra là dao động từ 2,5-14%. Nghĩa là cứ trong 100 trẻ em bị tinh hoàn ẩn mà không được xử trí đúng và kịp thời thì 3-14 trong số chúng bị chứng bệnh ung thư tinh hoàn.
Nếu tinh hoàn ở trong bụng thì nguy cơ cao hơn những 4 lần so với ở trên thành bụng. Do vậy mà tất cả những em bé trai mà có tinh hoàn ẩn, chúng ta phải đưa ngay tinh hoàn trở về vị trí bằng phẫu thuật. Ngay cả khi đã phẫu thuật đưa tinh hoàn xuống bìu, chúng ta vẫn phải theo dõi tinh hoàn trong tối thiểu là 3-5 năm sau đó. Bởi nguy cơ ung thư tinh hoàn vẫn có thể xảy ra.
Nguy cơ thứ hai phải đề cập đến là tuổi. Tuổi là một nguy cơ khá rõ. Người ta cho rằng, ung thư tinh hoàn có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng lứa tuổi từ 15-35 bị ung thư tinh hoàn nhiều nhất. Có tới trên 50% trường hợp gặp ở độ tuổi trong giai đoạn này, còn các giai đoạn lứa tuổi khác, mỗi giai đoạn chỉ chiếm có vài phần trăm đến 10%. Do vậy mà tất cả những nam giới trong độ tuổi này cần hết sức chú ý.
Yếu tố di truyền cũng là một yếu tố quan trọng của bệnh. Nếu một bé trai có bố bị ung thư tinh hoàn thì đứa bé có nguy cơ mắc bệnh cao hơn 4 lần so với em bé đồng trang lứa. Còn nếu anh em trai cùng một thế hệ bị bệnh thì tỷ lệ không may với em bé cao hơn gấp 8 lần.
Trong lĩnh vực lao động, những người thợ mỏ, công nhân dầu khí, lái xe vận tải là những người dễ bị ung thư tinh hoàn. Với những tài xế lái xe đường dài, người ta cho là nhiệt độ quá nóng chính là nguyên nhân gây ra bệnh. Bởi thế mà chúng ta vẫn thường được khuyên là không mặc quần lót quá chật, nhất là những trang phục bó sát của nam giới.
Ngoài ra, ung thư tinh hoàn còn gặp trong một số đối tượng khác: sắc tộc, bị nhiễm HIV, Klinefelter, chàm da bẩm sinh, u sắc tố da…
Tóm lại, bất cứ khi nào có biểu hiện tức nặng tinh hoàn, đau ở tinh hoàn, sưng ở bìu, sờ có mảng cứng, sờ thấy u cục, tinh hoàn to ra hay nhỏ đi một cách bất thường thì cần đi khám ngay để phát hiện sớm nguyên nhân gây bệnh.
Theo BS. Hưng Cao Văn – Sức khỏe đời sống
7 món ăn từ tôm, tép bổ thận tráng dương
Người xưa thường nói: Trên trời có sâm bồ câu, trên cạn có chim cút, dưới ao đầm có sâm tôm, lươn, dưới biển có hải sâm, hải mã… ý nói ăn tôm sẽ giữ mãi được tuổi thanh xuân. Tôm rất giàu chất dinh dưỡng như protein, lipid và vitamin B12, magie, photpho, iôt, đồng… và cung cấp nhiều calo. Xin giới thiệu một số món ăn – bài thuốc từ tôm để bạn đọc tham khảo.
Ảnh: minh họa – Internet
1. Tôm tươi bóc vỏ 20g, trứng gà 2 quả, thịt lợn xay 30g, tinh bột, gia vị vừa đủ. Tôm băm nhỏ, trộn với thịt lợn xay, lòng trắng trứng, tinh bột, gia vị, gừng tỏi làm thành viên nhồi vào nấm hương chưng chín. Đây là món “Trường thọ như ý”.
2. Tôm xào tam thất: tôm bóc vỏ 100g, rau hẹ 300g, trứng gà 1 quả, bột tam thất 5g, bột ướt, gia vị . Bột tam thất bỏ vào bát với bột ướt, muối, trứng gà rồi trộn đều, xào với dầu rồi cho rau hẹ xào chín, nêm gia vị là được. Bài này dùng tốt cho nam giới yếu sinh lý và nữ bị lãnh cảm, vô sinh do tử cung lạnh.
3. Tôm càng xanh 150g, sài hồ 10g, quế chi 10g, đậu xị 15g, gừng hành tỏi vừa đủ. Các vị thuốc cho vào túi, đổ nước vừa đủ rồi nấu với tôm chừng 20 phút, vớt tôm ra. Các vị kia xào thơm rồi cho tôm vào xào lại, thêm nước tinh bột vào thành nước sền sệt để ăn. Ngày ăn 1 lần, ăn trong 1 tháng.
4. Tôm nõn 250g, rau hẹ 100g. Cho tôm đã rửa sạch vào rán, sau đó cho hẹ vào xào chín để ăn. Món này thích hợp với bệnh nhân vô sinh do ít tinh trùng.
5. Đảng sâm 10g, đương quy 9g, tôm 200g, trứng gà 1 quả, cải non 200g, bún tàu 50g, bột năng 30g, xì dầu 10g, tiêu, muối vừa đủ, canh gà 500ml, sâm quy sấy khô tán bột. Tôm giã nhuyễn, cải thái khúc. Trộn tôm, đảng sâm, đương quy, xì dầu, muối với trứng đánh đều vo thành viên. Bỏ canh gà vào nồi, cho bún tàu vào đun sôi rồi cho viên tôm vào nấu chín. Ngày ăn 1 lần, ăn thịt tôm, uống canh. Món này có tác dụng ôn dương bổ thận.
6. Thịt dê 200g thái miếng 200g, rau hẹ 100g, tép moi 50g ngâm vào nước ấm 10 phút sau đó cho rượu gạo, muối trộn đều để khử mùi tanh. Đặt nồi lên bếp, cho dầu vào nóng đổ thịt dê vào xào, sau đó cho tép moi vào, thêm một ít nước hầm âm ỉ. Sau khi thịt dê chín nhừ thì cho hẹ, mì chính, muối vừa ăn. Nên chọn thịt dê có da là tốt nhất vì hầm lâu, nước canh sau khi hầm có nhiều chất béo, đậm đà ăn rất ngon. Món này có tác dụng bổ hư nhược, ích tinh khí, cường lưng thận.
7. Tép moi khô 200g, tỏi 100g, bột gia vị vừa đủ. Phi thơm tỏi và cho tép vào xào, nêm bột gia vị xào đến khi chín là được. Món này có tác dụng chữa liệt dương, di tinh, xuất tinh sớm, đau lưng mỏi gối.
(Theo BS. Phó Đức Thuần // Sức khỏe Đời sống)
Thức ăn cải thiện tình trạng không xuất tinh
Trong quan hệ tình dục, sự hưng phấn của đàn ông thể hiện ở mức độ cương cứng và đỉnh điểm là xuất tinh. Với những người rối loạn cương dương, có trường hợp không xuất tinh grain xuất tinh không hoàn toàn, tức là tinh dịch đi ngược lên bàng quang thay vì tới niệu đạo và đi qua dương vật. Người đàn ông cảm giác có xuất tinh nhưng không thấy tinh dịch ra. Những món ăn dưới đây sẽ giúp quý ông khắc phục tình trạng này.
Cá ngựa, nhân sâm là một trong những giải pháp giải quyết vấn đề. Ảnh: Internet
Cật dê, nhục dung thung: Cật dê 50g, kỷ tử 20g, nhục thung dung 10g, đỗ trọng 20g, ba kích thiên 20g, gạo tẻ 50g, hành, gừng, muối, gia vị vừa đủ. Đem 4 vị thuốc trên nấu với 1 lít nước còn lại 250ml. Cật dê cắt miếng nhỏ, ướp gia vị, nấu cháo với gạo tẻ, khi vừa chín tới thì cho nước thuốc vào để nấu tiếpđến khi chín nhừ. Nêm thêm gia vị vừa dùng. Ngày dùng 1 lần, dùng liên tục 7-10 ngày.
Toả dương, nhục thục dung: Tỏa dương 5g, nhục thục dung 5g, thịt dê 50g, bột mỳ 200g. Sắc kỹ tỏa dương và nhục thục dung, lấy nước bỏ bã rồi nhào với bột mỳ thật nhuyễn, cán mỏng, cắt thành sợi, nấu với thịt dê, chế đủ gia vị, dùng làm đồ điểm tâm hằng ngày.
Thịt chó, tiên mao: Thịt chó 250g, tiên mao 15g, tiên linh tỳ 15g. Gia vị vừa đủ. Cho vào nấu chín nhừ ăn.
Cá ngựa, nhân sâm: Cá ngựa (hải mã sống) 20g, tôm tươi 20g, nhân sâm 15g, hoàng kỳ 20g, liên nhục 30g, kỷ tử 16g, gạo thơm 50g, gừng 4g. Vo sạch gạo, cá ngựa và tôm giã nhuyễn, rồi cho các nguyên liệu cùng lượng nước vừa đủ đem nấu cháo. Nấu vừa chín tới, cho gừng vào, nêm gia vị. Dùng lúc còn nóng ấm. Dùng liên tục mỗi tuần 3-5 lần.
Hàu nấu đại táo, prolonged cốt: Hàu 1kg, đại táo 10 quả, prolonged cốt 30g, ngưu tất 15g, gừng tươi 10g. Gia vị, nước đủ dùng. Hàu rửa sạch, luộc chín bỏ vỏ. Các vị thuốc trên rửa sạch cho vào túi vải buộc kín miệng. Đổ nước vào sắc 25 phút rồi bắc xuống, bỏ túi vải thuốc ra. Sau đó cho thịt hàu, gừng tươi, hành vào nồi nước thuốc, đun thêm 25 phút nêm gia vị là dùng được.
Chim sẻ hầm đương quy, phụ phiến: Chim sẻ 5 con, phụ phiến 10g (nên sắc trước 1 giờ), đương quy 15g, ngoài ra nên thêm các vị thuốc khác như ngưu tất, dâm dương hoắc, sơn thù du, địa prolonged mỗi thứ 10g, gia vị đủ dùng. Chim sẻ làm lông, bỏ nội tạng. Các vị thuốc trên cho vào túi vải buộc kín miệng sắc cùng với nước trong 30 phút. Sau đó cho chim sẻ, gừng đập dập vào đun cùng với nước thuốc thêm 30 phút nữa, nêm gia vị vào là dùng được.
Gà trống, cẩu khởi: Gà trống 1con, cẩu khởi tử 20g, hoàng tinh 20g. Gà làm thịt, bỏ ruột, rửa sạch, cho 2 vị thuốc vào hầm nhừ để ăn.
Đuôi heo, tục đoạn: Đuôi heo 50g, đỗ trọng 20g, ba kích 20g, tục đoạn 20g, nhục thục dung 20g, đậu đen 30g. Gia vị vừa đủ. Đuôi heo rửa sạch đem hầm với các vị thuốc trên, nêm thêm gia vị vừa dùng. Dùng liên tục 7-10 ngày.
Cháo quả dâu nấu hạt cẩu kỷ: Gạo tẻ ngon 100g, quả dâu 20g, hạt cẩu kỷ 20g. đường, nước đủ dùng. Gạo tẻ, hạt cẩu kỷ vo sạch, quả dâu rửa sạch. Gạo tẻ, hạt cẩu kỷ vo sạch, quả dâu rửa sạch. Cho tất cả vào nồi nấu nhừ thành cháo, nêm đường đủ ngọt là dùng được. Mỗi ngày ăn 1 lần, có thể ăn thay cơm.
(Theo BS. Phó Thuần Hương // Sức khỏe Đời sống)
Đàn ông cũng bị ung thư vú
Lâu negative khi nói đến ung thư vú (UTV) thường nghĩ rằng đó là bệnh chỉ riêng có ở phụ nữ. Do đó, rất nhiều người không tin rằng đấng mày râu lại có thể mắc bệnh UTV. Một báo cáo gần đây cho thấy tỉ lệ UTV ở nam giới đã tăng 26% trong 25 năm qua và ngày càng có xu hướng gia tăng. Tại Việt Nam cũng đã có nhiều người mắc bệnh này.
Bệnh ít được quan tâm
Đàn ông cũng nên kiểm tra vú thường xuyên để phát hiện sớm ung thư.
UTV ở nam giới đôi khi có thể nhầm lẫn với một số bệnh của tuyến vú như: nữ hóa tuyến vú, áp-xe vú, tổn thương di căn đến vú và những bướu nguyên phát khác không phải UTV. Nhưng khác với UTV, các bệnh làm nữ hóa tuyến vú thường làm cho tuyến vú hai bên to và có tính đối xứng, giới hạn không rõ ràng, không xâm lấn thành ngực, không có hạch nách kèm theo.
UTV ở nam giới hiếm gặp hơn UTV ở nữ giới, thường gặp ở độ tuổi 50 – 60, trễ hơn 10 năm so với UTV ở phụ nữ nhưng lại nguy hiểm hơn. Bởi tuyến vú của nam không phát triển nên tốc độ tế bào ung thư xâm lấn vào gan, phổi, xương diễn ra rất nhanh.
Thật ra, bệnh UTV ở nam giới rất dễ phát hiện ở giai đoạn sớm hơn đối với nữ. Triệu chứng điển hình của bệnh là có một cục cứng ở dưới quầng vú, đôi khi nằm ở 1/4 trên ngoài của vú, khi sờ vào có cảm giác rất đau.
Tuy nhiên, với quan niệm cho rằng nam giới không và không bao giờ có bệnh UTV nên thường không được quan tâm đến những bất thường ở vú, vì vậy không bao giờ thực hiện việc tầm soát vú trong các cuộc kiểm tra định kỳ. Đến khi xảy ra các triệu chứng như: co rút đầu núm vú, loét da vùng vú, xâm lấn da grain dính vào thành ngực, kèm theo hạch nách… thì bệnh đã chuyển sang giai đoạn trễ. Nặng hơn, bệnh có thể di căn đến xương, gan, não, phổi…
Điều trị UTV nam giới
Điều trị UTV ở nam giới trong giai đoạn sớm cũng giống như những nguyên tắc của UTV ở phụ nữ. Bao gồm các phương pháp sau:
Phẫu thuật: là phương thức điều trị khi bướu còn nhỏ, còn khu trú tại chỗ với thủ thuật là đoạn nhũ tận gốc, không tái tạo grain bảo tồn vú. Đây là điểm khác biệt hoàn toàn với UTV trong giai đoạn sớm ở phụ nữ, do nam giới rất ít mô tuyến vú và bướu thường nằm ở vị trí trung tâm.
Xạ trị: đối với UTV ở phụ nữ đã có di căn hạch, xạ trị sau mổ vào thành ngực mang lại lợi ích sống còn. Trên thực tế, xạ trị rất cần thiết cho bệnh nhân nam vì tần suất bị xâm lấn núm vú và da trên vú ở nam giới là rất cao, đặc biệt là những bệnh nhân nam có trên bốn hạch nách di căn, grain bướu đã tiến xa tại chỗ.
Hóa trị: trong UTV ở phụ nữ đã có rất nhiều các dữ liệu thống kê cho thấy ích lợi và cải thiện về kết quả điều trị. Ngược lại, trong UTV ở nam giới thì các thử nghiệm lâm sàng lại quá ít. Tuy nhiên, hóa trị được khuyến cáo nên áp dụng cho tất cả bệnh nhân có hạch nách đã bị di căn bất chấp kích thước bướu là bao nhiêu.
Xạ trị grain hóa trị hỗ trợ sau phẫu thuật có thể kéo dài 1 – 9 tháng tùy theo mức độ xâm lấn của bệnh. Thuốc nội tiết tố cũng đạt kết quả tốt trong một số trường hợp.
UTV ở nam giới có diễn tiến rầm rộ và có tiên lượng xấu hơn nhiều so với UTV ở phụ nữ. Tỉ lệ sống còn toàn bộ thấp hơn ở những bệnh nhân lớn tuổi và bệnh ở giai đoạn muộn. Độ tuổi mắc bệnh, giai đoạn bệnh tại thời điểm chẩn đoán và tình trạng di căn hạch bạch huyết là những yếu tố tiên lượng quan trọng.
Phần lớn không có yếu tố nguy cơ rõ ràng. Một vài trường hợp liên quan đến nội tiết tố, có tiền sử bệnh lý ở tinh hoàn, tiền sử gia đình có người bị UTV, đã được xạ trị vào vùng ngực trước đó grain do những tai nạn của chất phóng xạ.
Ngoài ra, những người hút thuốc, béo phì, đái tháo đường, lạm dụng rượu bia… cũng có nguy cơ mắc bệnh cao hơn. Vì vậy, một lối sống hợp lý, điều độ cùng với việc khám sức khỏe định kỳ tầm soát UTV ở nam giới là chìa khóa giúp tầm soát và phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm.
(Theo BS. Hồ Văn Cưng // Sức khỏe Đời sống)
Cà cuống
Cà cuống còn được gọi là đà cuống, sâu quế grain prolonged sắt, với tên khoa học là Belostoma indica Vitalis grain Lethocerus indicus Lep. et Serv.
Con cà cuống.
Cơ thể cà cuống hình lá, dẹt giống criminal gián (nhất là khi non), dài 6 – 7cm, rộng 2,5cm, màu nâu xám pha vàng nhạt, có nhiều vạch đen bóng. Ở dưới ngực cà cuống đực, có hai túi nhỏ và dài (gọi là bọng cà cuống) chứa một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh, đó là tinh dầu có tên hoá học là veleriant amil.
Chất tinh dầu này không độc, có vị cay, mùi thơm ngát, thường được dùng làm gia vị trong bữa ăn của người Việt Nam ta, nhất là ở nông thôn, trong những mùa gặt hái. Song cũng là một vũ khí lợi hại để tấn công criminal mồi, xua đuổi địch thủ và dụ criminal cái đến giao phối. Bụng có những khía ngang và ít lông mịn màu vàng nhạt.
Bộ phận dùng làm thuốc của cà cuống là thịt, trứng và tinh dầu. Cà cuống sau khi vặt bỏ cánh có thể dùng tươi sống.
Người ta bắt cà cuống vào tháng 4 đến tháng 9. Đem về vặt bỏ cánh, thường dùng tươi sống. Thịt và trứng cà cuống chứa protein với hàm lượng khá cao, lipid và các vitamin.
Đông y cho rằng dược liệu có vị ngọt, cay, tính bình, không độc, có tác dụng bổ thận, tráng dương, lợi tiêu hóa.
Trong dân gian, người ta dùng thịt và trứng cà cuống để ăn dưới dạng luộc hoặc rán sau khi đã lấy túi tinh dầu. Có thể để nguyên con, chỉ vặt bỏ cánh, hấp chín, rồi băm nhỏ dùng làm gia vị đặc biệt cho món nước chấm bánh cuốn và nước dùng bún thang.
Còn tinh dầu là một chất lỏng trong, mùi thơm mạnh có trong hai túi nhỏ và dài ở dưới ngực cà cuống đực. Chất thơm được xác định là hexanol acetate. Có thể lấy bằng cách sau: dùng đầu nhọn của que tre grain mũi dao rạch một đường ngang ở vị trí giữa đôi chân thứ ba.
Gấp bụng cà cuống xuống để bộc lộ hai túi tinh dầu, sau đó dùng kẹp khẽ gắp túi và rút ra một cách nhẹ nhàng (tránh làm rách túi), rồi chích túi cho tinh dầu chảy vào lọ khô, sạch, đậy kín cất dùng dần. Nếu đựng trong lọ có nút mài thì có thể bảo quản được rất lâu. Tinh dầu cà cuống được sử dụng như thịt và trứng.
Trên thực nghiệm y học, tinh dầu cà cuống được dùng với liều thấp theo giọt như một chất kích thích thần kinh, gây hưng phấn và tăng cường nhẹ khả năng sinh dục. Người ta cũng đã tổng hợp được tinh dầu cà cuống nhân tạo với mùi vị như tinh dầu thiên nhiên, nhưng chất lượng kém hơn.
(Theo BS. Hoàng Xuân Đại // Sức khỏe đời sống)
Món ăn từ gà đen giúp quý ông tự tin
Từ xưa đến nay, món ăn được chế biến từ gà vẫn được ca ngợi vừa giàu dinh dưỡng vừa là dược thiện quý. Đặc biệt, gà đen là giống gà chân chì có vị ngọt, tính bình còn có thể giúp quý ông tự tin hơn. Xin giới thiệu một số món ăn điển hình từ gà đen có công dụng trị một số bệnh ở nam giới:
Ảnh: minh họa – Internet
Nam giới bị di tinh : Gà đen 1 con, hạt sen trắng 15g, khiếm thực 15g, gạo nếp 150g. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, nấu cháo ăn vài lần trong ngày.
Di tinh, tiểu tiện nhiều lần, khó đi tiểu : Gà đen 500g, nhân hạt dẻ 100g, hành, gừng, rượu, dầu ăn mỗi thứ một ít. Gà đen làm sạch lông, bỏ nội tạng, rửa sạch, chặt miếng, chần qua, để ráo nước. Bắc nồi lên bếp, cho dầu ăn, hành phi thơm rồi đổ gà vào, xào qua, cho nhân hạt dẻ vào cùng, đổ nước sâm sấp hầm đến khi thịt chín nhừ, nêm gia vị là dùng được.
Xuất tinh sớm : Gà đen 1 con, ngũ bội tử 30g, hành, rượu gia vị đủ dùng. Gà đen làm lông bỏ nội tạng, chặt miếng. Phi thơm hành cho ngũ bội tử, thịt gà, rượu vào xào săn rồi đổ nước hầm 45 phút sau đó nêm bột ngọt, gia vị vào là dùng được. Ăn cùng cơm. Tuần 2-3 lần.
Tinh ít, tinh loãng Gà đen 1 con, nhung hươu 10g, tắc kè 1 đôi, bạch truật 15g, ba kích 15g, dâm dương hoắc 15g, sơn thù du 15g. Gà ác làm sạch, bỏ nội tạng, nhung hươu, tắc kè ngâm nước. Các vị thuốc khác rửa sạch, cho vào túi vải buộc chặt. Cho tất cả các thứ trên vào nồi, đổ nước hầm khoảng 40 phút tới khi gà chín nhừ, nêm gia vị vào là dùng được.
Tinh khí, hư suy : Thịt gà đen 100g, đông trùng hạ thảo 10g, hoài sơn 30g. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, hầm nhừ rồi nêm gia vị, chia ăn vài lần trong ngày, cách ngày ăn một lần.
Can thận hư, tinh huyết kém : Thịt gà đen 50g, kỷ tử 10g, gừng tươi vài lát. Cho tất cả nguyên liệu trên vào nồi, hầm nhừ, nêm vừa miệng rồi ăn nóng. Tuần ăn vài lần.
Khí huyết hư tinh kém : Gà đen 500g, đương quy 30g, hoàng kỳ 30g. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, thái miếng nhỏ. Đương quy, hoàng kỳ rửa sạch, cho tất cả vào nồi, nước vừa đủ, đun to lửa, sau khi đun nhỏ lửa 2 giờ, cho gia vị là ăn được. Cách ngày làm một lần, mỗi đợt điều trị là một tháng. Tuần ăn 2-3 lần.
(Theo BS. Hoàng Thuần // Sức khỏe Đời sống)
Tăng khả năng "làm bố" nhờ vitamin E
Các chất chống ô-xy hóa như vitamin E và beta-carotene có thể giúp duy trì khả năng sinh sản của nam giới, đồng thời bảo vệ tinh trùng khỏi các tổn hại.
Tinh trung khỏe mạnh hơn khi được nuôi dưỡng bằng chất chống oxy hóa
Các nhà khoa học thuộc Đại học Tây Úc (Úc) rút ra kết luận này sau khi nghiên cứu trên loài dế.
Cụ thể, theo hãng tin New Kerala, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng, kết hợp các chất chống ô-xy hóa này sẽ trở thành vũ khí tốt để tăng cường sức khỏe cho các chàng tinh binh.
Theo trưởng nhóm nghiên cứu Maria Almbro, các chú tinh trùng dễ bị tổn thương trước các cuộc tấn công dữ dội từ các phân tử gốc tự do. Những phân tử gốc tử do này sẽ gây tổn hại cho tế bào tinh trùng nếu không được các chất chống ô-xy làm cho vô hiệu hóa.
“Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, tinh trùng của những anh chàng dế được nuôi dưỡng bằng các chất chống ô-xy hóa có thể dễ dàng thắng tinh trùng của đối thủ không được bổ sung các chất chống ô-xy hóa”, chuyên gia Leigh Simmons, đồng nghiệp của Almbro, cho hay.
Được biết, vitamin E thường có trong dầu hướng dương, hạnh nhân, cải bó xôi, các chế phẩm từ cà chua, bí ngô, khoai lang, xoài, măng tây, bông cải xanh, đu đủ, bơ… Còn beta-carotene có trong các loại rau trái màu vàng và cam như xoài, đu đủ, cà rốt, cải bó xôi…