Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe người cao tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khỏe người cao tuổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Những yếu tố làm suy giảm tuổi thọ

Tổ chức Y tế thế giới đã xác định 25 yếu tố nguy cơ gây bệnh, tàn phế, tử vong đối với người cao tuổi. Trong đó, có 7 nguy cơ hàng đầu đối với sức khỏe mà người cao tuổi có thể phòng ngừa được.

Đó là các yếu tố nguy cơ sau:

Hút thuốc lá: Là yếu tố nguy hại nhất làm tăng nguy cơ ung thư phổi, gây ảnh hưởng xấu đến mọi bộ phận, đẩy nhanh tốc độ giảm khối lượng xương và chức năng hô hấp. Nguy cơ mắc các bệnh mạn tính của người cao tuổi có liên quan tỷ lệ thuận với thời gian và mức độ hút thuốc.

Ít hoạt động thể lực: Tham gia rèn luyện thể lực thường xuyên, điều độ có thể trì hoãn được sự suy giảm các chức năng trong cơ thể, làm giảm nguy cơ khởi phát các bệnh mạn tính ở người cao tuổi. Vận động không phải chỉ cần thiết cho cơ bắp, xương, khớp mà còn tác dụng đến toàn cơ thể. Cơ thể được rèn luyện đều đặn sẽ hoạt động hài hòa, cho người cao tuổi cảm giác dễ chịu, phấn khởi, yêu đời, trí óc sáng suốt và lao động có năng suất.

Dinh dưỡng không hợp lý: Chế độ ăn chất bột, chất béo làm giảm nguy cơ béo phì, các bệnh mạn tính và tàn phế ở tuổi già. Nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi. Cho nên, mỗi bữa trước đây ăn 3-4 bát cơm, nay chỉ nên ăn 1-2 bát. Chú ý theo dõi cân nặng hằng tháng. Cân nặng người cao tuổi không nên vượt quá số cm của chiều cao trừ đi 105. Ví dụ, người cao tuổi cao 165 cm, cân nặng không nên vượt quá 60 kg. Người cao tuổi không nên sử dụng các chất kích thích như rượu, bia.

Tai biến do thuốc:
Người cao tuổi thường có một hoặc nhiều bệnh mạn tính, cho nên họ hay sử dụng thuốc chữa bệnh. Đôi khi thuốc lại được kê quá nhiều cho người già.

Không tuân thủ chế độ chăm sóc, điều trị: Sự tuân thủ điều trị bao gồm sử dụng thuốc theo hướng dẫn của thầy thuốc và duy trì chế độ ăn lành mạnh, tập luyện thể dục, không hút thuốc… Việc tuân thủ kém ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả điều trị, đến chất lượng sống. Lúc đó, những tiến bộ của y dược học cũng không làm gì được để giảm gánh nặng của bệnh mãn tính.

Nước không sạch và môi trường vệ sinh kém: Nếu triển khai rộng khắp toàn cầu việc cung cấp đủ nước và điều kiện vệ sinh cho bệnh nhân, ta sẽ tránh được 1,8 tỷ trường hợp tử vong do tiêu chảy (giảm 17% so với hiện nay). Nếu đạt được việc cung cấp nước máy, sẽ tránh được 7,6 tỷ trường hợp tiêu chảy hằng năm.

Trầm cảm và sa sút trí tuệ: Nhìn chung trong cuộc đời của mình, có từ 15 đến 40% người cao tuổi từng có một thời kỳ trầm cảm rõ rệt. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi mắc “hội chứng chán nản cao độ” này khá cao, ước tính khoảng 20-30%, nhưng rất ít bệnh nhân được quan tâm đầy đủ. Hơn 90% ca trầm cảm và sa sút trí tuệ không được phát hiện và ngay cả khi đã biết cũng không được điều trị đúng.

Nguồn: SK&ĐS

Tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi

Do hệ miễn dịch suy yếu nên khả năng gặp tác dụng phụ của người cao tuổi khi dùng thuốc thường cao hơn và mức độ trầm trọng hơn. Những tác dụng không mong muốn đó nhiều khi có biểu hiện lâm sàng dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn do bệnh gây ra.

Có nhiều nguyên nhân làm tăng tỷ lệ tai biến do thuốc ở người cao tuổi. Trước hết, người già hay đau ốm nên thường dùng nhiều thuốc hơn so với người trẻ. Sự lo lắng về sức khỏe khiến họ dễ tự ý dùng thêm thuốc, ngay cả khi chưa có bệnh với mục đích “dự phòng”. Người cao tuổi cũng hay nhầm lẫn trong sử dụng thuốc, đặc biệt về liều lượng và số lần.

Các bệnh mạn tính ở họ đòi hỏi sử dụng thuốc có tác dụng mạnh, khoảng cách an toàn hẹp. Mặt khác, ở tuổi già, quá trình dược động học của thuốc cũng thay đổi (tức ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, bài tiết để tạo nên tác dụng). Vì thế, họ dễ gặp những phản ứng bất ngờ và không có lợi của thuốc.

Khi có tác dụng phụ của thuốc, người cao tuổi thường gặp các biểu hiện như:

Buồn ngủ: Nói chung, các thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương đều gây ngủ gà ngủ gật. Không chỉ thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepin mà cả thuốc chống dị ứng cũng có thể gây buồn ngủ (thuốc trị cảm, sổ mũi thường chứa chất này. Các thuốc chống trầm cảm, trị tăng huyết áp, đái tháo đường dạng uống… cũng vậy.

Rối loạn giấc ngủ: Thuốc giãn phế quản trị hen suyễn gây khó ngủ, thuốc lợi tiểu gây mất ngủ do tiểu tiện đêm, thuốc trị tăng huyết áp gây ác mộng; thuốc corticoid dùng lâu ngày có thể gây chứng ngừng thở khi ngủ. Thậm chí thuốc an thần loại benzodiazepin được dùng để trị khó ngủ cũng có thể gây tác dụng phụ là không ngủ được sâu.

Rối loạn nhận thức: Thuốc hướng thần, chống co giật, co thắt, trị tăng huyết áp, suy tim và một số thuốc kháng sinh gây lú lẫn, mất trí nhớ. Ở người cao tuổi, rối loạn này rất dễ nhầm lẫn với hiện tượng sa sút trí tuệ do lão suy.

Táo bón: Có khá nhiều thuốc gây táo bón ở mọi lứa tuổi như thuốc chống co thắt, an thần, chống trầm cảm…

Rối loạn tiểu tiện: Các thuốc chống trầm cảm, chống co thắt, dị ứng, an thần kinh, thuốc trị bệnh Parkinson… có thể hoặc gây khó tiểu hoặc tiểu tiện không kiểm soát (không nín tiểu theo ý muốn được).

Té ngã: Thuốc trị tăng huyết áp dễ khiến người cao tuổi bị hạ huyết áp tư thế đứng. Thuốc an thần nhóm benzodiazin, thuốc chống trầm cảm làm rối loạn thăng bằng, làm cho người cao tuổi dễ bị ngã. Người cao tuổi thường bị loãng xương (cả nam và nữ) nên sẽ rất nguy hiểm nếu bị ngã.

Rối loạn hoạt động tình dục: Nhiều loại thuốc ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của người cao tuổi. Đó là các thuốc thuốc chống trầm cảm, thuốc trị rối loạn tâm thần, an thần, tăng huyết áp… Chúng có thể làm giảm ham muốn, gây “bất lực” ở nam giới.

Để hạn chế các tác dụng phụ khi dùng thuốc, người cao tuổi cần lưu ý:

- Không tự ý sử dụng thuốc bừa bãi, tốt nhất là dùng thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ và hướng dẫn của dược sĩ.

- Khi đang dùng thuốc, nếu thấy có những rối loạn, những phản ứng bất thường, không nên tự ý bỏ hoặc thay thế thuốc khác mà nên trở lại bác sĩ đã kê đơn kể rõ sự việc để có hướng xử trí.

- Đối với các tác dụng phụ thuộc loại gây khó chịu, có thể áp dụng các biện pháp điều chỉnh sinh hoạt, ăn uống để khắc phục như: không làm việc đòi hỏi sự tỉnh táo nếu dùng thuốc gây buồn ngủ; ăn nhiều rau cải, uống nhiều nước nếu thuốc gây táo bón. Có thể tham khảo ý kiến với bác sĩ, dược sĩ về các biện pháp khắc phục này.

nguồn: SK&ĐS

Tai nạn ở người già

Các yếu tố làm người già dễ bị tai nạn là xương loãng, dễ gãy, chân yếu, mắt kém và các bệnh ly tuổi già.

Nguyên nhân

1. Tai nạn do môi trường: Người già có thể bị té ở ngoài đường hoặc trong nhà do đường sá trơn trợt vì nước đọng, vỉa hè không bằng phẳng. Trong nhà những chỗ có thể bị tai nạn là cầu thang, các bậc tam cấp… ánh sáng thiếu cũng góp phần gây tai nạn, nhất là ở sàn nước, nhà vệ sinh. Té ngã cũng có thể xảy ra trong lúc với tay hoặc trèo lên ghế để lấy đồ đạc trên cao…

2. Tai nạn do bệnh ly : ở người già các bệnh ly sau đây dễ dẫn đến tai nạn:

+ Chóng mặt là chứng thường thấy ở người già. Chóng mặt có thể đơn thuần hoặc do sử dụng thuốc hạ huyết áp quá liều hoặc huyết áp tụt quá nhanh do tác dụng của thuốc điều trị. Khi bị té do chóng mặt hoặc có kèm theo bất tỉnh thoáng qua, hoặc cơn đột quỵ do thiếu máu cơ tim phải đi khám bệnh để tìm nguyên nhân bệnh ly .

+ Tác dụng phụ của thuốc ngủ, các bệnh tim mạch, các bệnh về khớp xương, bệnh Parkinson làm run tay chân là những nguy cơ rình rập người già.

Phòng tránh

+ Tập thể dục để duy trì sức mạnh của hai chân, nhờ đó giữ được thăng bằng và tự tin khi đi lại. Người có cân nặng vừa phải, gọn gàng, ít có nguy cơ té ngã hơn người nặng nề.

+ Trong nhà có thể gắn thêm những vật dụng phù hợp với sinh hoạt của người già: Ðặt các tấm lót bằng nhựa nhám hoặc thảm ở vùng trơn trợt như sàn tắm, nhà vệ sinh. Gắn thêm các tay vịn ở nhà tắm, ở lối đi có độ cao thấp như cầu thang, thềm nhà, bậc tam cấp…

+ Bố trí đủ đèn sáng, các công tắc điện, điện thoại sao cho các cụ dễ với tới khi muốn sử dụng. Ðặc biệt những người thường ở nhà một mình nên gắn thêm điện thoại, chuông báo ở nơi thấp để khi bị té có thể liên lạc với người thân hoặc hàng xóm.

+ Loại bỏ chướng ngại vật nơi thường đi lại. Nếu cảm thấy đôi chân không vững hoặc chóng mặt nên đi tiểu đêm tại chỗ bằng bô và không được leo trèo trên ghế để làm lụng, lấy đồ vật.

+ Lúc chỉ có một mình, khi té phải nằm im khoảng 30 phút để cho hết đau, khỏe lại rồi mới tìm cách ngồi dậy, đứng lên vì các cố gắng của cơ bắp có thể làm gãy xương vốn đã bị xốp.

BS Trần Trinh Thuần

Chứng sa sút trí tuệ ở người già

Dù do nguyên nhân nào thì người mắc bệnh này cũng sẽ trải qua sự suy giảm không thay đổi được cả về chức năng và trí tuệ, kéo dài từ 2 đến 10 năm. Cuối cùng, bệnh nhân trở thành người lệ thuộc hoàn toàn và thường tử vong do các bệnh nhiễm trùng.

Sa sút trí tuệ là sự suy giảm chức năng trí tuệ và những lĩnh vực khác về nhận thức, dẫn đến giảm khả năng hoạt động sống hàng ngày. Đây là một trong những rối loạn ảnh hưởng trầm trọng nhất đến người cao tuổi. Đặc trưng của bệnh là sự suy giảm nhận thức xảy ra trong tình trạng ý thức vẫn bình thường. Đó không phải là loại rối loạn nhận thức có thể hồi phục như mê sảng hay trầm cảm.

Tần suất mắc bệnh sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi. Ở tuổi sau 60, tỷ lệ này tăng gấp đôi mỗi 5 năm. Ở tuổi 60-64, chỉ có 1% bị sa sút trí tuệ, nhưng đến tuổi trên 85 thì tỷ lệ này là 30-50%.

Cần phân biệt sa sút trí tuệ và quên lành tính do tuổi. Quên lành tính do tuổi là tình trạng giảm trí nhớ do tuổi cao, là kết quả của tiến trình hoạt động thần kinh chậm dần do tuổi tác. Khởi đầu của quên lành tính là tình trạng khó nhớ thông tin mới và chậm nhớ lại thông tin cũ do suy giảm khả năng tập trung và chú ý. Tuy nhiên, khi cho bệnh nhân thời gian và có biện pháp động viên thì việc sinh hoạt hằng ngày của họ vẫn bình thường

Biểu hiện thường gặp nhất của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là giảm trí nhớ gần. Bệnh nhân có thể quên điều mình vừa nói và lặp đi lặp lại câu này nhiều lần trong vài phút. Họ thường xuyên quên nơi để những vật dụng cá nhân. Tình trạng quên kéo dài và dẫn đến tâm lý hoang tưởng là bị mất trộm.

Trong giai đoạn sớm này, bệnh nhân cũng gặp khó khăn khi tìm từ diễn đạt ý mình muốn nói hoặc giải thích một điều gì đó. Họ thường phải nói vòng vo, chẳng hạn như không nhớ từ cà vạt nên phải mô tả nó là một vật quấn quanh cổ áo. Ngoài ra, bệnh nhân cũng có thể quên hay khó khăn trong việc sử dụng hoặc làm những công việc hằng ngày như lái xe, giữ tiền, nấu ăn…

Những biểu hiện khác của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là thay đổi cá tính, rối loạn cảm xúc và giảm sự phán đoán. Người bệnh có những hành động không giống như họ đã từng làm, chẳng hạn như một người keo kiệt đột nhiên tặng cho hội từ thiện vài chục triệu đồng. Những thay đổi tính khí khác như trầm cảm hay hoang tưởng cũng thường xảy ra. Cần lưu ý trong giai đoạn sớm này, hoạt động xã hội của người sa sút trí tuệ vẫn không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, họ thường có những thay đổi về tính khí như cáu gắt, tàn nhẫn, kích động…

Sự ổn định trí tuệ của bệnh nhân cũng khá mỏng manh. Trong những tình huống khó khăn hay bức xúc thì sự suy giảm trí tuệ có thể biểu lộ rõ rệt, chẳng hạn như khi phải đi một quãng đường xa để thăm con cháu thì họ có thể đi lạc hay mất định hướng, đi vòng vo.

Ở mức độ trung bình, bệnh nhân bị giảm khả năng thực hiện các công việc thường ngày như tắm rửa, mặc đồ, vệ sinh cá nhân. Họ không thể nhớ được thông tin mới, mất định hướng về không gian và thời gia, có thể quên những sự vật xung quanh mình như quên nhà vệ sinh, phòng ngủ ở đâu. Người bệnh cũng dễ bị ngã hoặc có tai biến do sự nhầm lẫn và giảm phán đoán. Những rối loạn hành vi có từ giai đoạn sớm vẫn kéo dài đến giai đoạn trung bình và nặng. Hoang tưởng và ảo giác xuất hiện ở khoảng 25% bệnh nhân. Ví dụ: Khi bệnh nhân mất khả năng nhận ra chính bản thân mình trong gương thì họ lại nghi ngờ là có người lạ vào nhà. Sự lệch lạc này có thể ngày càng nặng và kéo dài. Bệnh nhân cũng có những biểu hiện rối loạn hành vi và trở nên kích động.

Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân không thể thực hiện những sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại và lệ thuộc hoàn toàn vào người thân. Trí nhớ ngắn hạn, dài hạn bị mất hoàn toàn. Bệnh nhân không nhận biết được kể cả những người rất thân của mình, mất đi những khả năng vận động phản xạ khác như nuốt (nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng và sặc thức ăn). Kết hợp với tình trạng kém dinh dưỡng và ít vận động, nằm liệt giường, bệnh nhân có thể bị loét da.

Ở giai đoạn muộn của sa sút trí tuệ, bệnh nhân sẽ bị tăng tần suất các tai biến; chẳng hạn như biến chứng của việc mất nước, kém dinh dưỡng, viêm phổi hít, loét da. Sự lệ thuộc hoàn toàn vào người khác có khi đưa bệnh nhân đến tình huống phải vào nhà dưỡng lão. Nếu tiếp tục ở tại nhà, người chăm sóc và bệnh nhân phải được trang bị những thiết bị cần thiết khác.

Khi nghi ngờ người thân bị sa sút trí tuệ, bạn hãy đưa họ đến khám tại các phòng khám chuyên khoa tâm thần, thần kinh hoặc lão khoa.

Ung thư – Căn bệnh của người cao tuổi

Ung thư là vấn đề sức khoẻ được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệu người mắc bệnh ung thư và gần 7 triệu người chết do ung thư.

Uớc tính đến năm 2020 trên thế giới hàng năm có khoảng 16 triệu người mắc bệnh ung thư và dự đoán gần 10 triệu người chết do ung thư.
Nguyên nhân chính xác gây ra ung thư vẫn còn đang được nghiên cứu .
Tuy vậy các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ung thư có nhiều khả năng xuất hiện hơn khi người ta già đi.
Bệnh ung thư thường gặp ở người cao tuổi – những người trên 50 tuổi. Tuy nhiên ung thư có thể xuất hiện ở những người ít tuổi hơn,thậm chí ở lứa tuổi trẻ do môi trường ngày càng bị ô nhiễm .

Ở Việt nam theo ứơc tính mỗi năm có khoảng 100.000 đến 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 70.000 người chết vì ung thư. Con số này có xu hướng ngày càng gia tăng. Dự báo tới năm 2010 mỗi năm ở Việt nam có khoảng 200.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 100.000 người chết vì ung thư .

Các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là : Phổi, dạ dầy, gan, đại trực tràng, vòm họng, thực quản và u lympho ác tính không Hodgkin
Các loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới là : Vú, cổ tử cung, dạ dày, đại trực tràng, phổi, vòm họng, buồng trứng và khoang miệng
Các nhà khoa học đã khẳng định một phần ba số bệnh ung thư có thể phòng ngừa, một phần ba có thể chữa khỏi nếu được chẩn đoán sớm và cùng với điều trị chăm sóc hỗ trợ sẽ làm tăng chất lượng sống cho một phần ba số bệnh nhân ung thư còn lại
Vì vậy vấn đề hiểu biết về bệnh ung thư để phòng bệnh, phát hiện sớm bệnh ung thư ngày càng là vấn đề cấp bách, rất cần thiêt đối với mọi người dân đặc biệt là người cao tuổi.

Vậy Ung thư là gì?

Ung thư là một nhóm bệnh bắt đầu từ những tế bào – đơn vị cơ bản của cơ thể sống. Để hiểu về bệnh ung thư chúng ta nên xem xét điều gì xảy ra khi các tế bào bình thường trở thành tế bào ung thư.
Cơ thể chúng ta được cấu tạo từ nhiều loại tế bào. Thông thường tế bào sinh trưởng và phân chia để tạo ra tế bào mới chỉ khi cơ thể cần chúng. Quá trình này diễn ra một cách tuần tự giúp cơ thể khoẻ mạnh. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tế bào cứ tiếp tục phân chia khi cơ thể không cần những tế bào mới. Những tế bào mọc thêm này hình thành một khối mô, được gọi là khối u.

Các khối u có thể lành tính hay ác tính.

Khối u lành tính không phải là ung thư. Chúng thường được loại bỏ và trong hầu hết các trường hợp không mọc lại. Tế bào ở những khối u lành không lan sang các phần khác của cơ thể. Quan trọng nhất là các khối u lành tính hiếm khi nguy hiểm đối với cuộc sống.
Khối u ác tính là ung thư. Tế bào trong những khối u này không bình thường, chúng phân chia không kiểm soát được và không theo trình tự. Chúng có thể xâm lấn và gây tổn thương các mô và cơ quan lân cận. Hơn nữa những tế bào này có thể tách khỏi u ác tính và đi vào mạch máu hay hệ bạch huyết. Đó là cách thức ung thư lan từ vị trí ban đầu để hình thành nên những khối u mới ở các cơ quan khác. Sự lan rộng của bệnh ung thư  được gọi là di căn.
Hầu hết các loại ung thư được gọi tên theo cơ quan hay loại tế bào mà chúng được hình thành. Ví dụ như, ung thư hình thành ở phổi được gọi là ung thư phổi, và ung thư hình thành từ các tế bào hắc tố da melanocytes gọi là u hắc tố melanom.
Khi bệnh ung thư  lan đi (di căn), các tế bào ung thư thường được tìm thấy ở những hạch bạch huyết lân cận hay trong vùng. Khi ung thư lan từ vị trí ban đầu sang một bộ phận khác của cơ thể, khối u mới có cùng loại tế bào bất thường và có cùng tên với khối u ban đầu. Ví dụ, nếu ung thư phổi lan vào não, tế bào ung thư ở não thực tế cũng là tế bào ung thư ở phổi và bệnh này được gọi là ung thư phổi di căn (chứ không phải là ung thư não).

Các triệu chứng báo động của bệnh ung thư

Ung thư có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau. Sau đây là một số triệu chứng đó:
- Sự dày lên hay nổi cục ở vú hay bất cứ bộ phận nào trong cơ thể
- Có sự thay đổi rõ ràng ở hột cơm hay nốt ruồi
- Vết loét không lành được
- Ho kéo dài và khàn giọng
- Những thay đổi thói quen đại – tiểu tiện
- Không tiêu hoặc khó nuốt
- Những thay đổi về trọng lượng không thể  lý giải được
- Ra máu âm đạo hoặc khí hư bất thường.

Khi những triệu chứng này hay khác xuất hiện thì không phải lúc nào cũng là do ung thư gây ra. Chúng có thể do hiện tượng nhiễm khuẩn, khối u lành hay các vấn đề khác gây ra. Điều quan trọng là phải đến gặp bác sĩ khi có bất kỳ triệu chứng nào hoặc những thay đổi thể lực xuất hiện. Chỉ có bác sĩ mới có thể đưa ra chẩn đoán. Không nên chờ tới khi cảm thấy đau. Ung thư giai đoạn đầu thường không gây ra đau đớn. Hãy đến ngay bác sỹ  để được tư vấn khi có một trong các dấu hiệu báo động Ung thư nói trên. Điều này có thể cho chúng ta một cơ hội cứu được tính mạng của mình.

TS. Nguyễn Thanh Đạm (Tổng thư ký Hội Ung thư Việt Nam)

Cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

Các chứng bệnh đường tiêu hóa thường gặp
Người khó chịu buồn nôn, nôn; ỉa chảy, táo bón; Chán ăn, chậm tiêu; đau bụng vùng trên rốn, ợ hơi, ợ chua; đau bụng vùng dưới rốn kèm theo táo hoặc ỉa lỏng; đau bụng quanh rốn hay chảy dãi; Đau bụng vùng hố chậu phải, táo bón hay ỉa chảy; đau bụng vùng hố chậu trái, ỉa chảy hay táo bón
Mỗi  triệu chứng, mỗi vị trí đau biểu hiện bệnh cảnh khác nhau nên cách xử lý cũng khác nhau tất nhiên nếu dùng thuốc thì các vị thuốc cũng khác nhau. Đông y quy các chứng bệnh trên vào bệnh lý ở tỳ vị là chính, ngoài ra theo lý luận tạng phủ còn liên quan đến các cơ quan khác như: Phế – đại  tràng, Tâm – tiểu trường, Can – đởm. Nói như vậy để thấy tính phức tạp của những bệnh lý đường tiêu hóa. Trong phạm vi bài này  xin giới thiệu các vị thuốc theo sách vở hoặc kinh nghiệm dân gian thường truyền miệng nhau để đọc giả suy ngẫm và tham khảo.

Một số cây thuốc, vị thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

- Để chữa đau trên rốn, ợ chua dùng một trong các vị sau: lá khôi bánh tẻ lấy từ 7 – 10 lá rửa sạch giã lấy nước uống . Hoặc dạ cẩm dùng cả  cây và lá (bỏ rễ) rửa sạch giã một chét lấy nước uống, hoặc phơi khô sắc uống mỗi lần 12g. Hoặc củ nghệ con (củ nghệ cái có các củ nghệ con mọc ra xung quanh) đông y gọi là uất kim, giã 12 g lấy nước uống. Hoặc dạ dầy nhím -  thái nhỏ, rang khô  tán bột uống, mỗi lần 6 – 8 g ngày uống 2 lần. Hoặc màng trong mề gà ( đông y gọi là kê nội kim ) phơi khô, tán bột mịn uống mỗi lần 6-8 g. Hoặc mật ong ngày uống hai lần , mỗi lần 20g .
- Để chữa chán ăn , chậm tiêu có thể dùng một trong các vị sau: củ mài tán bột ngày uống 2 lần , mỗi lần 8g. Hoặc ý dĩ  tán bột ngày uống 2 lần, mỗi lần 20g. Hoặc bạch truật  tán bột ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 g.
- Nếu bệnh nhân bị ỉa chảy số lần dưới 5 lần/ngày, sức khỏe toàn thân ít ảnh hưởng  dùng lá ổi hoặc lá sim một chét rửa sạch, giã lấy nước uống. Hoặc tô mộc 30g đun uống hoặc vỏ quả măng cụt tháI mỏng đun nước uống.
- Nếu phân nát có chất nhầy hay có cơn đau quặn vùng hố chậu và mót rặn dùng: lá mơ tam thể – mơ lông, lấy loại lá bánh tẻ, rửa sạch thái nhỏ, xào trứng không cho mỡ, ăn vào ngày 1- 2 lần, mỗi lần 1 quả trứng gà.
- Trường hợp bị táo bón, hay có cơn đau vùng hố chậu dùng: hạt muồng trâu 10 lá, rửa sạch giã lấy nước uống. Hạt thảo quyết minh (hạt muồng trâu) 20g đun uống Hoặc vừng đen rang chín tới trộn mật ong , ngày uống 2 lần , mỗi lần lấy 20g vừng + 20g mật ong  pha trong một cốc 200ml nước nóng để uống.

Các bài thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

- Nếu đau bụng trên rốn (thượng vị) ợ chua – đầy bụng, đói đau tăng, có thể kèm táo bón thì dùng: mộc hương 12g, hoàng liên 12g, cam thảo 8g, mẫu lệ 12g sắc uống.
- Nếu đau vùng thượng vị ợ hơi, đầy bụng đễ ỉa chảy hoặc phân thường nát, gặp lạnh đau tăng dùng: mộc hương 12g, sa nhân 12g, bạch truật 20g, cam thảo 8g sắc uống.
- Người bệnh đau bụng, buồn nôn, phân nát, đầy bụng, ăn chậm tiêu dùng: mộc hương 12g, bạch linh 12g, sa nhân 12g, kê nội kim 12g, đinh hương 6g, bán hạ chế 10g, cam thảo 6g sắc uống.
- Nếu bệnh để lâu người yếu, chán ăn, chậm tiêu dùng: đẳng sâm 20g, mộc hương 12g, thần khúc 12g, cam thảo 6g, bạch truật 16g, sa nhân 12g, hoài sơn 16g sắc uống.
- Nếu người bệnh đau bụng dưới, ỉa lỏng, không sốt, không nôn dùng: phá cố chỉ 12g, thương truật 16g, bình lang 10g, ngũ vị 8g, can khương 8g, bạch truật 16g sắc uống.
- Nếu người bệnh đau bụng dưới, táo bón, phân không có máu, mũi dùng: sinh địa 12g, đan bì 12g, chỉ thực 12g, đại hoàn 6g sắc uống.
- Nếu người bệnh ho lâu ngày, táo bón, da khô dùng: mạch môn 12g, ngũ vị 6g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, chỉ thực 12g, thục địa 16g sắc uống.
Rối loạn tiêu hóa thông thường ta tự chữa . Nhưng thấy nôn nhiều, ỉa chảy nhiều, người mệt mỏi, dấu hiệu mất nước nhiều, hoặc có sốt kèm theo cần cho đi khám để thầy thuốc chuyên khoa giải quyết, đừng tự chữa đề phòng hậu quả xấu.

GS. TS Dương Trọng Hiếu

Muối ăn và sức khỏe người cao tuổi

Người cao tuổi (NCT) thận yếu, các cơ quan như: hệ tiêu hóa, thận, tim… mang tính biến hóa suy thoái thấy rõ, sức đề kháng yếu, suy giảm chức năng… nên không thích hợp ăn mặn. Bởi lẽ, trong cơ thể nhiều muối thì cần lượng nước tương ứng để điều tiết, nước bài tiết không thông, tích tụ vào cơ bắp, làm cho cơ thể giữ nước thì hình thành thủy thũng.

NCT ăn muối quá nhiều càng dễ tạo thành cao huyết áp, ảnh hưởng chức năng tim, thận. Bởi vì, muối làm cho động mạch nhỏ co thắt, huyết áp tăng cao, cũng như thúc đẩy tăng nhanh quá trình xơ hóa của các động mạch tại thận, gây ra tăng huyết áp, tổn hại chức năng thận.

Bên cạnh đó, NCT cũng nên ít ăn cà muối, dưa muối, bởi đó là những thức ăn chứa nhiều muối, hơn nữa hàm lượng vitamin cực thấp, vì thế không thích hợp cho NCT ăn thường xuyên. Ăn muối nhiều sẽ gây ra rất nhiều bệnh, chẳng hạn như: bệnh tim, não, cao huyết áp, bệnh thận và xơ gan…

Cũng cần lưu ý, NCT do vị giác “lão hóa”, nhạy cảm với vị mặn kém, phản ứng kém với món ăn mặn, do vậy, cần đặc biệt quan tâm hơn, không nên chỉ khi miệng nếm thấy mặn mới cho là mặn, nhiều khi không cảm thấy mặn,  thì lượng natri đã quá nhiều rồi.

Theo bee.net

Vitamin và tác dụng phòng ngừa cảm lạnh ở NCT

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy, dùng vitamin hằng ngày làm giảm tới một nửa nguy cơ bị cảm lạnh và các bệnh thông thường khác. Nghiên cứu này được thực hiện ở 130 người tuổi trên 45. Một nhóm được dùng vitamin hàng ngày, còn nhóm thứ hai dùng giả dược. Sau 1 năm, chỉ 43% những người dùng vitamin bị cảm lạnh hay nhiễm trùng nhẹ so với 73% người ở nhóm dùng giả dược. Tương tự như vậy, 57% người thuộc nhóm không dùng vitamin phải nghỉ ốm so với 21% ở nhóm kia. Dưới đây là những vitamin người cao tuổi nên bổ sung để phòng bệnh cảm lạnh.

Vitamin E : Khi nghiên cứu hơn 600 bệnh nhân trên 65 tuổi được chăm sóc tại nhà, TS. Simin Meydani, Đại học Tufts (Mỹ), nhận thấy những người uống vitamin E mỗi ngày ít bị cảm lạnh hơn những trường hợp dùng giả dược. Nguy cơ mắc bệnh giảm tới 20%. Đặc biệt, số bệnh nhân tránh được nguy cơ viêm đường hô hấp trên ở nhóm vitamin E cao hơn nhóm giả dược.

Theo Meydani, vitamin E có thể cải thiện hệ miễn dịch của người cao tuổi, nhờ đó hạn chế đáng kể nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp – những yếu tố làm suy nhược và dẫn tới các biến chứng gây tử vong ở người có tuổi. Tuy nhiên, loại vi chất này không phát huy tác dụng đối với các bệnh viêm đường hô hấp dưới.

Vitamin C : Mặc dù vitamin C không ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh cảm, nhưng nhìn chung, với những liều 200mg hoặc nhiều hơn, quãng thời gian bị cảm sẽ được giảm 8%. Điều đó chứng tỏ vitamin C giúp bệnh thuyên giảm.

Kẽm : Tác dụng của kẽm trong việc chống cảm vẫn còn gây tranh cãi. Một nghiên cứu tìm thấy các viên kẽm giúp giảm giai đoạn bị cúm tới một nửa, trong khi các nghiên cứu khác thì lại không thấy ích lợi của nó. Nếu bạn muốn dùng kẽm, hãy uống 2 tiếng một lần và dừng lại khi các triệu chứng đã hết. Đừng cho rằng dùng càng nhiều càng tốt. Quá liều sẽ có thể gây ngộ độc.

Vitamin D : Do cảm cúm thường tấn công vào những ngày tháng mùa đông âm u, nên một số nhà nghiên cứu tin rằng việc thiếu vitamin D – vitamin của “ánh nắng mặt trời”, có thể khiến chúng ta dễ mắc bệnh hơn. Trừ khi bạn vẫn thường xuyên tiếp xúc với nắng trong mùa đông, thì có thể dùng thêm các viên vitamin D bổ sung.

nguồn: SK&ĐS

Bí quyết trường thọ của người Mỹ

Ảnh minh họa.

Hiện nay, tại Mỹ, số người sống trên một trăm tuổi đang gia tăng. Những cuộc khảo sát gần đây cho thấy, những người này hầu như đều có chung một bí quyết: sống vui vẻ, yêu đời, gần gũi với gia đình bạn bè và luôn luôn bắt nhịp cùng với dòng chảy hiện đại… Ở tuổi 102, Marianne Crowder, mẹ của hai đứa con, bà của 8 đứa cháu và cụ của 8 đứa chắt khẳng định, bà có thể sống lâu và khoẻ như vậy là nhờ vào sở thích thay đổi, yêu những cái mới, tâm trạng luôn vui và đặc biệt là nhận được sự cảm thông, khuyến khích từ gia đình, bạn bè.

“Tôi yêu mọi thứ trên cuộc đời này. Với tôi, mọi cái mới đều thật tuyệt vời. Sự thật, tôi vừa mua một chiếc điện thoại di động mới và ngay bây giờ, tôi đang sử dụng nó”, cựu giáo viên thể dục thẩm mỹ đến từ Califonia này nói.

“Tôi rất ngac nhiên là mình có thể sống lâu như vậy. Tôi luôn luôn vui vẻ, lạc quan và rất khoẻ mạnh. Tôi không phải đi khám bệnh bao giờ vì tôi thực sự không cần tới điều đó. Tôi luôn cảm thấy mọi người xung quanh đối xử tuyệt vời với mình. Hai cô con gái của tôi đều có hôn nhân hạnh phúc và một ngôi nhà ấm cúng để sống. Và, có một điều rất đặc biệt, tôi có rất nhiều bạn bè, phần lớn bằng tuổi con gái tôi. Tôi có lẽ là điều tồi tệ nhất mà tuổi già mang lại là có quá nhiều thiệt thòi so với lớp trẻ. Nhưng tôi vẫn thấy mình rất hạnh phúc, không có gì để phàn nàn cả”.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi một cuộc điều tra mới đây công bố rằng phương pháp để sống lâu, khoẻ và hạnh phúc của Crowder cũng phản ánh bí quyết của những người sống trên 100 tuổi khác. Thêm vào đó, kết của của cuộc điều tra cũng cho thấy phần lớn những người sống trên trăm tuổi là những người bắt kịp với dòng chảy của thế kỉ 21 nhưng vẫn giữ những thói quen của thế kỉ 20.

Một cuộc điều tra khác thì chỉ ra rằng rất nhiều người sống trên trăm tuổi đang xài di động, email và internet để không bị lạc hậu với giới trẻ. “Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là mức độ sử dụng công nghệ của những người đã bước qua tuổi 100”, ông John Mach – Chủ tịch hiệp hội bảo vệ sức khoẻ người già và phụ nữ Minneapolis chia sẻ.

“Khi làm cuộc khảo sát này, chúng tôi đã phát hiện ra rằng rất nhiều người trên một trăm tuổi đang sử dụng iPod, Google. Họ sử dụng những công nghệ này để giữ liên lạc với bạn bè và gia đình”.

Theo thống kê của cục điều tra dân số của Mỹ thì hiện nay có hơn 84.000 người sống trên 100 tuổi. Và người ta đang hy vọng rằng con số này sẽ lên 580.000 trong năm 2040.

Trong số những người sống trên một trăm tuổi được hỏi thì 90% nói rằng sống gần với gia đình bạn bè là yếu tố quan trọng nhất để có thể sống lâu và khoẻ mạnh. 90% nói rằng duy trì những hoạt động trí óc là yếu tố then chốt để sống lâu, trong khi 88% nhấn mạnh tầm quan trọng của tính hài hước. Nhiều người khác lại cho rằng sự độc lập của họ là điều mấu chốt để sống khoẻ.

Hoàng Bách

Ngừa bệnh động mạch vành ở người cao tuổi

Càng có tuổi thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và chuyển hóa trong đó có bệnh động mạch vành (ĐMV) ngày càng tăng lên. Có đến 1/3 số bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bị tử vong trong vòng 24 giờ kể từ khi bị đau ngực và rất nhiều bệnh nhân còn sống sót có di chứng trầm trọng. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa sự phát triển bệnh ĐMV (phòng ngừa tiên phát) hoặc làm giảm nguy cơ bị NMCT cấp ở các bệnh nhân đã mắc bệnh ĐMV (phòng ngừa thứ phát) bằng cách làm thay đổi các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Phòng ngừa tiên phát bệnh ĐMV

Các nguy cơ chính gây bệnh ĐMV là hút thuốc lá, thừa cân, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐMV sớm (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), rối loạn lipid máu, đái tháo đường và tăng huyết áp. Các bác sĩ cần phát hiện và đánh giá tình hình kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh ĐMV cho tất cả các bệnh nhân theo định kỳ (3-5 năm). Nguy cơ mắc bệnh ĐMV nên được tính toán cho các bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ chính trở lên để đưa ra chiến lược phòng ngừa tiên phát phù hợp. Phòng ngừa bằng aspirin có thể gây ra các biến chứng chảy máu và chỉ nên sử dụng aspirin để phòng ngừa tiên phát ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Phòng ngừa thứ phát

Thay đổi lối sống: Trước khi ra viện, các bệnh nhân NMCT cấp cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần được hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên nitroglycerin dưới lưỡi, để đảm bảo chắc chắn là bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát. Các bệnh nhân có triệu chứng của NMCT cấp (đau thắt ngực có hoặc không lan ra tay, lưng, cổ, hàm, hay thượng vị; khó thở; mệt; vã mồ hôi; buồn nôn; choáng váng) nên được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu hơn là bởi người nhà hay bạn bè, vì các nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời các thủ thuật có thể cứu sống bệnh nhân (hồi sức tim phổi, sốc điện chuyển nhịp) khi cần thiết. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT cấp có thể giảm đi một cách có ý nghĩa nếu bệnh nhân và người nhà sớm nhận ra triệu chứng và gọi cho trung tâm cấp cứu, nhờ vậy bệnh nhân sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhân viên y tế sớm nhất.

Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 – 22,9 kg/m2. Nếu vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Bỏ hút thuốc lá: Ngừng hút thuốc lá là một yếu tố quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể làm giảm nguy cơ bị tái phát NMCT. Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch. Lợi ích của việc ngừng hút thuốc lá gần như đạt được tức thì. Ngay khi bệnh nhân ngừng hút thuốc, nguy cơ tái phát bệnh bắt đầu giảm xuống. Sau 5 năm cai thuốc lá, nguy cơ bị NMCT tái phát sẽ giảm đi một nửa so với trường hợp bệnh nhân tiếp tục hút thuốc.

Kiểm soát các bệnh có liên quan

Huyết áp: Cần kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp (THA). Các bệnh nhân THA nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Đường huyết: Kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Rối loạn lipid máu: Nên khuyên các bệnh nhân ăn chế độ có chứa ít cholesterol, ít chất béo bão hòa, nhiều chất xơ hòa tan được, nhiều rau và hoa quả. Các thuốc statin đã được chứng minh là biện pháp can thiệp bằng thuốc có hiệu quả nhất. Nồng độ lipid mục tiêu phụ thuộc vào nguy cơ cơ bản của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao nên điều trị rối loạn lipid máu tích cực để đạt nồng độ LDL-C mục tiêu dưới 70mg/dL.

Hormon liệu pháp: Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCT cấp như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố bệnh ĐMV. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCT cấp không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên dùng tiếp tục khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Hoạt động thể lực: Các bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Chống ôxy hóa: Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp để phòng ngừa thư phát các bệnh tim mạch.

PGS. TS. Nguyễn Quang Tuấn (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi

Viêm phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản – phổi tắc nghẽn không đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.

Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện  thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống…

Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính

Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 – 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể. Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ…). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế – huyết quản tăng đậm.

Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Chứng sa sút trí tuệ

Trí tuệ của con người là do bộ não quyết định. Bộ não của bạn là cơ quan chỉ nặng 1.5 kg. Nó chứa khoảng 30 tỉ tế bào thần kinh nhưng nó là cơ quan quan trọng nhất của cơ thể…

Não bộ tạo cho bạn trí nhớ ngắn hạn, dài hạn thông qua các giác quan: thị giác, vị giác, thính giác, khứu giác và xúc giác giúp cho bạn nhận biết được mọi hiện tượng, sự vật và môi trường sống xung quanh. Bạn sử dụng bộ não của mình để biểu đạt lời nói và giao tiếp, thực hiện những động tác phức tạp, điều khiển cử động của cơ thể, phân tích, phán đoán tình huống và duy trì các kỹ năng xã hội. Như vậy, não của con người chỉ đạo các hoạt động thần kinh cấp cao và sự thoái hóa của bộ não dẫn đến sự sa sút về trí tuệ là một tình trạng thường gặp ở người già.

Vậy sa sút trí tuệ là gì?

Đó là một hội chứng đặc trưng bởi: sự giảm sút về trí nhớ, sự suy giảm về khả năng tư duy như phán đoán, suy luận, sử dụng ngôn ngữ và những sự suy giảm này gây trở ngại cuộc sống hàng ngày. Tình trạng sa sút trí tuệ bệnh lý, hay gặp là bệnh Alzheimer. Bệnh có nhiều biểu hiện nặng nề khác so với sự suy giảm trí tuệ bình thường do quá trình lão hóa. Đây là một bệnh càng tăng lên khi người ta càng cao tuổi, đặc biệt là từ 70 tuổi trở lên và khoảng 50% những người từ 85 tuổi mắc bệnh này. Những người tăng huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường, bệnh lý mạch vành nguy cơ bị bệnh cao.

Bệnh Alzheimer là một bệnh lý của não do quá trình chết ngày càng tăng lên của các tế bào thần kinh ở não. Nguyên nhân chết của các tế bào thần kinh là do sự tăng sản xuất hoặc tăng tích lũy trong não loại protein beta – amyloid. Quá trình chết của các tế bào thần kinh có tốc độ khác nhau ở những cá thể khác nhau. Tiến trình này có thể kéo dài từ 8 đến 20 năm, nên có trường hợp bệnh tiến triển nhanh, có trường hợp bệnh tiến triển chậm.

Biểu hiện của bệnh lý Alzheimer

Th ường gặp là: ở giai đoạn đầu thường hay quên những sự việc mới xảy ra, ví dụ quên không tắt đèn, không nhớ mình đã uống thuốc gì vào buổi sáng, thay đổi tính cách: vô cảm, thu rút các mối quan hệ xã hội. Ở giai đoạn tiến triển, người bệnh gặp phải những khó khăn trong giải quyết các vấn đề cần suy nghĩ có tính chất trừu tượng như suy nghĩ, tính toán, lập kế hoạch, tính hóa đơn, hiểu những gì mình đã đọc, tổ chức công việc thường ngày. Người bệnh có thể dễ kích động, tranh cãi vô cớ, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh. Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể mất định hướng, lẫn lộn, không nhớ ngày tháng, không nhớ nơi mình ở, không nhớ những nơi mình đã đi qua, không thể kiểm soát được việc vệ sinh cá nhân, không tự chăm sóc được bản thân.

Khi bạn thấy người thân của mình có 10 dấu hiệu sau thì cần phải cảnh giác với căn bệnh này: Hay quên; Khó khăn trong làm việc gia đình hàng ngày; Có vấn đề về diễn đạt ngôn ngữ; Mất định hướng không gian, thời gian; Giảm khả năng phán đoán; Khó khăn trong những suy nghĩ trừu tượng; Đặt những đồ vật trong nhà sai vị trí; Th ay đổi cảm xúc hoặc hành vi; Th ay đổi tính cách; Mất khả năng đưa ra giải pháp để giải quyết một vấn đề. Khi bệnh nặng thì người bệnh có thể có hoang tưởng, ảo giác, kích động do sự ảnh hưởng của các cơ quan thị giác, thính giác, khứu giác và vị giác.

Và điều trị

Việc điều trị bệnh Alzheimer đến nay kết quả còn chưa cao và cần được sự khám xét của bác sỹ chuyên khoa tâm thần người già. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể ngăn ngừa tiến triển của bệnh bằng các liệu pháp giáo dục, tập luyện cho người mắc bệnh ở giai đoạn sớm nhưng để đạt được hiệu quả tốt cần phải có sự hướng dẫn của các nhà chuyên khoa.

BS. Trịnh Thị Bích Huyền

Chứng đau lưng ở người cao tuổi

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng ngay cả khi tuổi còn rất trẻ và cũng không có sự phân biệt giàu – nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý (miền xuôi, miền ngược, nông thôn, thành thị). Tuy vậy, người cao tuổi (NCT) dễ mắc chứng đau hơn rất nhiều so với người trẻ tuổi, đau lưng chỉ là một triệu chứng nhưng gây không ít phiền toái cho người bệnh.

Nguyên nhân gây đau lưng ở NCT
Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản: Đau lưng do tác động cơ học và đau lưng do hiện tượng viêm.
Đau lưng do tác động cơ học: đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là NCT như: thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hoá cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm, bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hoá thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hoá cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như: mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng… Đây cũng là một trong các nguyên nhân gây đau lưng ở NCT.

Đau lưng do hiện tượng viêm: trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… và cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh này thường gây đau lưng một cách âm ỉ, đặc biệt hay xảy ra vào ban đêm và đau lưng cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở NCT nhiều hơn người còn trẻ tuổi.

Biện pháp khắc phục đau lưng
Đau lưng chỉ là một triệu chứng biểu hiện của nhiều bệnh. Trước hết, người bị đau lưng nên xem bệnh có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? Ví dụ hay đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ. Ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với bệnh như: tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế. Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng có khả nghi nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y khoa.
Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây đau lưng là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Khi đến khám bệnh cần nghe rõ thầy thuốc hỏi những gì và cần nói rõ cho thầy thuốc biết những hiện tượng đau lưng và các biểu hiện kèm theo. Bác sĩ sẽ khám và cho làm các xét nghiệm có liên quan, ví dụ như: có thể cho chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm hệ thống niệu (thận, niệu quản, bàng quang), làm xét nghiệm về nước tiểu.

Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì đau lưng cũng dần dần sẽ khỏi, ví dụ như: ngồi sai tư thế, bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp đau lưng do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như: đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may… Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm trùng cũng gây đau lưng, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết (loại sốt Dengue cổ điển).
Trên cơ sở khám lâm sàng, kết quả các xét nghiệm và cận lâm sàng thì bác sĩ khám bệnh sẽ kết luận và cho hướng điều trị thích hợp. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản. Chẳng hạn như: thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng, khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng thì cần tìm mọi cách để giải quyết nguyên nhân và sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó.Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tuỳ theo sức mình và bệnh của mình. Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hoá cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khoẻ cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tuỳ tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y và Đông y. Trong điều kiện cho phép, có thể điều trị Đông – Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc vật lý liệu pháp. NCT cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh tái phát.

BS Mai Hương (SKNCT 3-2011)

Bất thường đường huyết ở người cao tuổi

Đối với người cao tuổi (NCT), những bất thường xảy ra ở bất kỳ một cơ quan nào cũng là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Tăng hay giảm đường huyết (ĐH) là một trong những bệnh lý cần đặc biệt chú ý. Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả, nhất là NCT có những hướng xử trí cần thiết nếu rơi vào tình trạng này.

Đường huyết bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4-6,6 mmol/l. Khi ĐH nằm ngoài ngưỡng bình thường này được xem là tăng hay hạ. Về già, hệ thống điều hòa ĐH kém nhạy bén, do vậy dễ dẫn đến triệu chứng tăng hoặc hạ ĐH. Những biểu hiện bất thường này có thể gây ra những hậu quả xấu cho NCT.

Tăng Đường Huyết xảy ra khi nào?
Tình trạng tăng ĐH ở NCT (ngoại trừ người có bệnh đái tháo đường) trong hầu hết trường hợp là tạm thời (khi vận động, khi ở trạng thái tâm lý quá phấn khích: cáu giận, hoảng sợ, bực tức, lo phiền…). Với NCT, chỉ cần nhớ rằng nếu tình trạng trên kéo dài và xảy ra thường xuyên, có thể làm tiết nhiều adrenalin, gan cạn kiệt glucid – đe dọa chuyển sang hạ ĐH. Thêm nữa, những trạng thái tâm lý trên còn ảnh hưởng xấu tới tim mạch, huyết áp. Hình thức tập luyện khí công và thiền tỏ ra có tác dụng tốt.
Trường hợp tăng ĐH kéo dài gặp trong bệnh đái tháo đường. Ở NCT, bệnh này không do thiếu insulin mà do các tế bào sử dụng kém hiệu quả chất này, do vậy nói chung những năm đầu tiên chưa cần chữa bằng insulin (như với người trẻ). Hiện đã có rất nhiều loại thuốc chữa, dùng lâu dài, nhưng chọn loại nào thích hợp thì cần được thầy thuốc hướng dẫn và bệnh nhân tự theo dõi. Phát hiện sớm bệnh đái tháo đường ở NCT không dễ, vì ĐH tăng thường không gây ra triệu chứng mà bệnh được phát hiện do tình cờ.
Do vậy, ở tuổi trên 60 rất nên đo ĐH định kỳ. Không nên đo trong nước tiểu (vì có đường trong nước tiểu là bệnh đã tiến triển một thời gian dài). Đái tháo đường ở NCT thường đi liền với các bệnh khác như: xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, do vậy những yếu tố này cần được kiểm soát chặt chẽ, NCT cần có một chế độ ăn uống và tập luyện sau khi đã đi thăm khám và có ý kiến của bác sĩ.

Xử trí đúng khi bị hạ Đường huyết
Hạ ĐH do đột ngột tăng lượng sử dụng, trong khi kho dự trữ đường ở gan không còn dồi dào, hoặc không huy động kịp. Nói chung, gan NCT giảm khả năng dự trữ glucid, nhất là khi xa bữa ăn (một số cụ già cần ăn nhiều bữa).
Khi tiếp cận môi trường lạnh (do đột ngột ra lạnh mà không mặc đủ ấm, hoặc do ở lâu ngoài trời lạnh), người trẻ dễ thích nghi, còn NCT rất dễ hạ ĐH. Nếu NCT dùng sức đột ngột mà thiếu sự khởi động cho cơ thể kịp thích nghi, cũng dẫn đến hạ ĐH. Ví dụ, đột ngột thực hiện một loạt động tác thể dục tương đối mạnh, hoặc tập khi bụng đói…

Khi có cơn nóng giận kéo dài, không tự kiềm chế được…
Hạ ĐH do gan giảm dự trữ. Ở NCT, ngay sau khi ăn, tổng lượng đường ở gan vẫn thấp. Tình trạng này càng rõ nếu mắc các bệnh gan mạn tính (xơ gan, suy gan), đáng chú ý là gan của người nghiện rượu… Nhiều người nghiện từ thời trẻ, dần dần có thói quen uống mà quên ăn. Một dấu hiệu nói lên tình trạng hạ ĐH ban đêm là ngủ mê mệt, trong giấc mơ thấy mình ăn rất nhiều và ngon lành. Một nguy cơ là dự trữ protein của cơ thể có thể cạn kiệt dần, do biến thành glucose để chống hạ ĐH. Hậu quả là suy dinh dưỡng (khó phục hồi).

Hạ ĐH do sử dụng quá mức các biện pháp chữa bệnh đái tháo đường.
Có thể do người bệnh sử dụng một chế độ ăn quá nghèo glucid với mục đích tích cực chữa bệnh, phòng biến chứng. Nên nhớ rằng, dù mắc bệnh đái tháo đường, bệnh nhân vẫn cần một khẩu phần glucid đủ mức cần thiết, chủ yếu là loại glucid nguyên hạt. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường bị hạ ĐH thường do sử dụng quá mức các thuốc hạ ĐH (hy vọng kiềm chế bệnh tốt hơn), mà không theo chỉ dẫn của thấy thuốc và không tự theo dõi định kỳ mức ĐH.
Tế bào não duy nhất chỉ sử dụng glucose làm thức ăn, mà không sử dụng mỡ, protein như mọi tế bào khác. Do vậy, nếu ĐH hạ đột ngột xuống dưới 4mmol/l sẽ có ngay các triệu chứng thần kinh: run rẩy, mắt hoa, xây xẩm; nếu giảm tới 3mmol/l sẽ có bủn rủn, choáng váng, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, mạch yếu… Nếu còn hạ tiếp sẽ co cứng hàm, lú lẫn, mất hẳn trương lực các cơ (ngã vật), hôn mê. Cùng một mức độ giảm ĐH, NCT thường có bệnh cảnh nặng hơn, khó cứu chữa hơn (so với người trẻ). Nếu hạ ĐH từ từ, thoạt tiên thấy đói cồn cào, bộ máy tiêu hóa co bóp mạnh. Sau đó cũng là run rẩy, mắt hoa, vã mồ hôi lạnh, tứ chi bủn rủn; do diễn biến kéo dài nên cơ thể trẻ đủ thời gian để kịp điều chỉnh (huy động protein); trái lại, NCT sự huy động này tỏ ra chậm chạp và kém hiệu lực, do vậy hậu quả thường nặng nề: có thể hôn mê, có thể thiểu lực kéo dài, có thể suy cạn kho protein khó hồi phục.
Trong tình trạng này, NCT cần ăn ngay các loại glucid dễ hấp thu: kẹo, bánh ngọt, khẩn cấp hơn có thể dùng nước đường (không dùng đường hóa học), nước quả cây, sữa… Trường hợp khẩn cấp phải truyền glucose vào máu.

GS. Nguyễn Ngọc Lanh (SKNCT/8-2011)

Bổ sung canxi cho người cao tuổi

Theo sự lão hóa của cơ thể thì mật độ xương của người cao tuổi cũng giảm dần. Hậu quả là chỉ cần một tai nạn nhỏ cũng làm người già gãy xương. Để khắc phục tình trạng này nên bổ sung canxi cho người cao tuổi qua chế độ dinh dưỡng hằng ngày.

Hậu quả của loãng xương

Loãng xương là một loại bệnh toàn thân mà đặc điểm chính là sự giảm sút mật độ xương, kết cấu các tổ chức xương bị phá vỡ dẫn đến giòn xương, dễ gãy. Xương cổ tay, cổ xương đùi, xương cột sống là những vị trí hay gãy nhất. Loãng xương không chỉ đem lại nỗi đau khổ cho bệnh nhân mà còn gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng về gánh nặng kinh tế cho gia đình và xã hội. Đặc biệt ở bệnh nhân đái tháo đường thì càng tạo thành một vòng xoắn bệnh lý làm cho bệnh nặng lên, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, giảm khả năng lao động và có thể dẫn đến tàn tật suốt đời. Phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh là những đối tượng có tỷ lệ loãng xương tương đối cao.

Vai trò của canxi đối với sự chắc khỏe của bộ xương

Các yếu tố nguy cơ gây loãng xương bao gồm: tuổi tác, cân nặng, chiều cao, hormon, mức độ vận động, lối sống, dinh dưỡng… trong đó canxi là một yếu tố liên quan mật thiết đến độ chắc khoẻ của xương.

Canxi là một khoáng chất quan trọng giúp cho quá trình phát triển của xương. Trong cơ thể, canxi chiếm 1/3 khối lượng chất khoáng, 98% lượng canxi nằm ở xương và răng. Do đó, canxi rất cần thiết đối với việc hình thành một khung xương vững chắc, phát triển tốt. Đối với phụ nữ, cơ thể mất đi một lượng canxi đáng kể trong thời kỳ mang thai và cho con bú. Thời kỳ này, nhu cầu canxi cao hơn bình thường, vì vậy nếu khẩu phần ăn thiếu canxi, cơ thể phải cân bằng canxi trong máu bằng cách huy động canxi từ xương. Nếu không được bổ sung đầy đủ lượng canxi trong thời kỳ này, người mẹ sẽ tăng nguy cơ loãng xương. Trong thời kỳ mãn kinh và sau mãn kinh, khi mức hormon nữ estrogen giảm (hormon này có tác dụng giúp xương hấp thụ canxi), phụ nữ bị mất canxi trong xương nhanh hơn, hiện tượng loãng xương càng trở nên rõ rệt.

Lựa chọn thực phẩm giàu canxi

Nhu cầu canxi khác nhau theo từng lứa tuổi và giai đoạn sinh lý. Từ 19 – 50 tuổi là 1.000mg/ngày, 51 tuổi trở nên là 1.200mg/ ngày, phụ nữ đang mang thai là 1.200mg/ngày và cho con bú là 1.000mg/ ngày. Để cung cấp đầy đủ lượng canxi cho cơ thể cần phải hết sức chú ý đến vấn đề lựa chọn thực phẩm cho khẩu phần ăn.

Những thực phẩm giàu canxi có thể kể đến: sữa và các chế phẩm từ sữa (phomat), cua, tôm, cá nhỏ kho nhừ ăn cả xương, trai, hến, đậu phụ, vừng, lạc, rau muống, bắp cải, hành… trong đó đậu phụ là một thực phẩm có chứa nhiều canxi và đồng thời có chứa phytoestrogen rất tốt cho phụ nữ tiền mãn kinh và mãn kinh. Bên cạnh đó cần ăn đủ các thực phẩm giàu chất đạm như thịt, cá, trứng, sữa, đậu để việc hấp thu canxi trong cơ thể được tốt hơn. Tuy nhiên, nếu quá nhiều chất đạm sẽ dẫn đến hiện tượng đào thải canxi. Cũng cần chú ý thêm một số chất làm tăng cường khả năng hấp thụ canxi như vitamin D, đường lactose trong sữa. Cần chú ý các chất ức chế hấp thụ canxi phải kể đến là acid oxalic, một số thuốc như tetracyclin, thuốc lợi tiểu và heparin.

ThS. TRẦN QUỐC MINH

Phòng và trị chứng mất ngủ

Theo y học cổ truyền, mất ngủ nhiều liên hệ đến tạng tâm và thận. Cũng từ đó, việc điều trị thường liên quan đến hai tạng này. Về thuốc theo YHCT chia làm 4 thể: âm hư hỏa vượng, đàm thấp, tâm đởm khí hư và tâm tỳ lưỡng hư.

Các bài thuốc cổ phương

Thể âm hư hỏa vượng:

Triệu chứng: miệng khô khát, người bứt rứt khó ngủ grain quên, hồi hộp, tiểu đêm, ù tai, hoa mắt, đi cầu grain bón, tiểu vàng. Mạch tế sác, chất lưỡi đỏ.

Phép trị: tư âm, thanh hỏa.

Bài thuốc: Thiên vương bổ tâm đơn: nhân sâm 12g, đơn sâm 10g, huyền sâm 10g, bá tử nhân 10g, phục linh 12g, đương quy 12g, kiết cánh 8g, mạch môn 12g, thiên môn 10g, ngũ vị 4g, sinh địa 20g, viễn chí 10g, táo nhân (sao đen) 10g.

Công dụng: bổ tâm, an thần, dưỡng tâm phế, thanh hư nhiệt.

Thể đàm thấp:

Triệu chứng: tâm phiền, miệng đắng, đầu cảm giác nặng, hoa mắt, người uể oải…

Phép trị: hóa đàm, trừ thấp.

Bài thuốc: Ôn đởm thang gia giảm: trần bì 8g, bán hạ 8g, phục linh 12g, cam thảo 6g, trúc nhự 10g, chỉ thực 8g, sinh khương 3 lát.

Công dụng: hòa vị tiêu tích, thanh nhiệt, an thần.

Thể tâm đởm khí hư:

Triệu chứng: ngủ ít, ngủ grain mơ màng, hồi hộp, có tiếng động nhẹ là giật mình. Mạch tế sác, rêu lưỡi trắng nhạt.

Phép trị: ích khí, sinh huyết.

Bài thuốc: Nhân thục tán: nhân sâm 12g, thục địa 20g, sơn thù 12g, phục thần 10g, nhục quế 6g, ngũ vị 4g, chỉ xác 10g, bá tử nhân 12g, kỷ tử 12g, cúc hoa 10g.

Công dụng: dưỡng tâm, an thần, trị đởm hư, sợ hãi ngủ không yên.

Thể tâm tỳ lưỡng hư:

Triệu chứng: ngủ kém grain nằm mơ, ăn không biết ngon, grain quên, hồi hộp, dễ tỉnh giấc. Mạch trầm nhược, rêu lưỡi nhạt.

Phép trị: ích khí tâm tỳ.

Bài thuốc: Quy tỳ thang gia giảm: đảng sâm 14g, huỳnh kỳ 12g, đương quy 12g, bạch truật 10g, chích thảo 8g, phục thần 10g, viễn chí 10g, nhãn nhục 12g, táo nhân 10g, mộc hương 8g, liên nhục 12g, ngọc trúc 12g.

Công dụng: kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí, bổ huyết.

Các bài thuốc kinh nghiệm

Bài số 1: dùng cho người cơ thể suy nhược: đương quy 12g, hoài sơn (sao gạo hoặc tẩm sữa) 14g, bạch thược (sao rượu) 10g, thục địa 16g, mạch môn (bỏ tim) 10g, bắc táo nhân (sao đen) 10g, ngũ vị tử (sao mật) 4g, prolonged nhãn nhục 14g, viễn chí (chế cam thảo) 10g.

Bài số 2: cho những người cơ thể ở trạng thái tốt mà vẫn bị mất ngủ, nhân sâm (hay cát lâm sâm) 12g, bá tử nhân (sao vàng) 10g, bạch phục linh 12g, trần bì (chế gừng) 5g, viễn chí (chế cam thảo) 10g, mạch môn (bỏ tim) 10g, thạch xương bồ 10g, trúc nhự (sao mật) 5g, toan táo nhân (sao đen) 10g. Cách chế và uống thuốc như trên.

Bài số 3: trà liên cúc: liên nhục (hạt sen) 500g, liên tu (nhụy sen) 500g, cúc hoa 500g.

Cách chế:

- 500g hạt sen ngâm nước nóng, bóc sạch vỏ ngoài và bỏ tim bên trong, sấy khô sao vàng tán thô như hạt đậu.

- 500g cúc hoa (bạch cúc, huỳnh cúc cũng được) phơi khô trong mát (hoặc sấy).

- 500g liên tu (nhụy sen) phơi hoặc sấy khô.

- Tất cả 3 vị đen sao vàng (bốc mùi thơm), để nguội cho vào lọ đậy kín để dùng như trà uống (muốn thơm nên ướp thêm hoa lài, hoa ngâu).

Loại trà này thường uống giúp cho ăn ngủ tốt.

Lương y PHẠM NHƯ TÁ

Sữa nào tốt nhất cho người già?

Khi nói đến sữa, đa phần mọi người chỉ quan tâm đến chọn sữa cho trẻ em. Những thắc mắc liên quan đến uống sữa làm sao cho khoẻ cũng chỉ nhằm đến trẻ sơ sinh hay đang tuổi ăn, tuổi lớn mà ít khi lưu tâm đến người già. Với những ảnh hưởng bệnh tật ở tuổi cao, người già cũng rất cần uống sữa để bồi bổ và nếu sử dụng không hợp lý sẽ gặp những hậu quả nguy hiểm cho sức khoẻ.

Sữa là sản phẩm rất giàu canxi, giàu đạm quý (đầy đủ các axit amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối) và chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B… nên đây là thực phẩm bổ dưỡng cần thiết cho tất cả mọi người, kể cả người cao tuổi.

Không uống sữa thay bữa ăn chính

Người cao tuổi cần nhận đủ canxi hàng ngày để phòng tránh loãng xương. Mặc dù canxi có trong nhiều thực phẩm khác nhau (cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ, rau xanh, đậu hủ…), nhưng người cao tuổi thường ăn ít hơn lúc trẻ nên lượng canxi đưa vào cơ thể từ chế độ ăn hàng ngày sẽ không đủ, trong khi đó nguy cơ loãng xương của họ lại cao. Canxi từ sữa rất dễ hấp thu nên người cao tuổi cần uống sữa thường xuyên mỗi ngày (khoảng 1 – 2 ly) để bổ sung canxi cho cơ thể, giúp phòng tránh loãng xương.

Tuy sữa là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ có thể bổ sung như là bữa phụ chứ không thể thay thế cho bữa chính hàng ngày được vì sẽ mất cân đối do sữa không có đủ những dưỡng chất khác mà cơ thể cần như chất sắt, kẽm, chất xơ, một số vitamin… Nếu chỉ uống sữa mà không ăn bữa chính sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể. Trong trường hợp ăn kém hoặc đau ốm, cần chia nhỏ bữa ăn (ăn ít và nhiều lần), sử dụng thêm các loại thực phẩm cao năng lượng, kết hợp tăng số bữa phụ (uống sữa hoặc các thức ăn phụ bổ dưỡng và dễ tiêu hoá khác).

Tuỳ tuổi, tuỳ bệnh mà chọn sữa

Thông thường sữa cho trẻ em và người bình thường là dạng sữa nguyên kem, chất béo của sữa là chất béo no nguồn gốc động vật nên sẽ chứa nhiều cholesterol không thích hợp đối với người già nếu uống thường xuyên mỗi ngày. Tuy nhiên đối với người gầy, không có bệnh mãn tính không lây như rối loạn lipid máu, cao huyết áp, đái tháo đường… và chế độ ăn rất ít thực phẩm nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol (thịt heo, thịt bò, mỡ…) thì uống loại sữa này vẫn được.

Việc chọn loại sữa nào còn phải tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng người. Đối với những người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường thì nên chọn loại sữa không béo, không đường. Lượng sữa uống mỗi ngày sẽ phải cân đối với các thực phẩm khác để bảo đảm đường huyết ổn định. Người chỉ bị viêm khớp thì có thể vẫn uống được sữa hơi béo, hơi ngọt nếu thích. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với người thừa cân, béo phì nếu dùng sữa béo, ngọt sẽ làm tăng cân nhanh chóng và sẽ tăng sức chịu đựng đối với các khớp chịu sức nặng cơ thể như khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân nên sẽ khó điều trị khỏi tình trạng viêm và đau khớp.

Uống sữa đúng cách để tránh tai hoạ

Sữa là thực phẩm giàu canxi ở dạng dễ hấp thu. Chỉ khi nào lượng canxi đưa vào cơ thể quá dư thừa thì mới bị đào thải qua đường thận gây sạn thận. Trường hợp này ít gặp trong chế độ ăn thông thường mà do dùng thuốc canxi liều cao, kéo dài. Do vậy, khi sử dụng nhiều thực phẩm giàu canxi hoặc uống thuốc canxi phòng loãng xương thì cần chú ý uống nhiều nước để phòng sạn thận.

Một số người khi uống sữa hay bị đau bụng, tiêu chảy… thường là do cơ thể thiếu men lactase để hấp thu loại đường lactose có trong sữa. Trong trường hợp đó, nên giảm lượng sữa trong mỗi lần uống (có thể dưới 100ml/lần) và tăng dần lên khi thích ứng. Nếu vẫn không tiêu hoá được thì có thể chuyển sang dùng sản phẩm khác của sữa như yaourt, sữa chua, phô mai… hoặc có thể dùng sữa đậu nành.

TS.BS Trần Thị Minh Hạnh
Trưởng phòng dinh dưỡng cộng đồng,
trung tâm dinh dưỡng TP.HCM

Nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Người già cũng cần khám sức khỏe định kỳ


[123Suckhoe] – Theo kết quả một nghiên cứu vừa được bệnh viện Nội tiết Trung ương công bố, hiện có khoảng 5 triệu người Việt Nam mắc bệnh tiểu đường, chiếm khoảng 6% dân số.

Nghiên cứu cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ bệnh tiểu đường chỉ đứng thứ 10 thế giới và là nước có bệnh tiểu đường phát triển nhanh nhất mà đa số bắt gặp ở người trung niên và cao tuổi. Đây là criminal số đáng báo động về tình trạng sức khỏe của người trung niên và cao tuổi Việt Nam.Tuy nhiên lại rất ít người ý thức được rằng ở độ tuổi này cần phải đặc biệt quan tâm đến khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện ra bệnh

Chủ quan với khám sức khỏe định kỳ

Chủ quan, tiếc tiền không dám đi khám bệnh vì sợ phát hiện ra bệnh là tâm lý chung của người cao tuổi. Tuy nhiên chính tâm lý ấy càng làm cho căn bệnh trở nên trầm trọng hơn đối với những người già có bệnh mà không đi chữa trị. Trường hợp của ông Thành 65 tuổi ( Lương Yên- Hà Nội) là một ví dụ. Thời gian trước ông grain bị đau đầu kèm theo hoa mắt nhưng với suy nghĩ đơn giản người già bị như vậy là bình thường nên cả ông và gia đình chủ quan không đi khám sức khỏe. Chỉ đến khi ông có dấu hiệu đau đầu dữ dội, kèm theo nôn mửa, mất khả năng thăng bằng, gia đình đưa ông đến bệnh viện Bạch Mai mới biết ông bị tai biến mạch máu não. Bây giờ ông đã qua cơn nguy kịch nhưng theo Bác sĩ điều trị thì sau này thì ông rất khó có thể đi lại được nữa.

Trường hợp chị Hoa 46 tuổi( Vĩnh Phúc ) cũng tương tự . Chị được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến xa, di căn thận trái. Ổ bệnh không còn nằm khu trú, nên những can thiệp bằng xạ trị và phẫu trị đều vô nghĩa. Trước đó, chị chỉ nghe nói về ung thư cổ tử cung chứ cũng không tìm hiểu rõ, không đi khám phụ khoa . “Sau khi mãn kinh 7-8 tháng,tôi thấy ra huyết, dù ít nhưng dai dẳng nên mới đi khám. Ai ngờ bị ung thư vì biểu hiện chỉ là ngồi lâu thấy thốn thốn ở bụng dưới..”, người phụ nữ buồn rầu kể lại. Khi chị nhập viện, có khái niệm về tình trạng của mình thì đã quá muộn.

3 Bệnh tuổi già có thể lường trước

Để tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra, những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi cần đi khám sức khỏe định để theo dõi tình trạng sức khỏe xem có bất thường gì xảy ra không. Đây là độ tuổi cần được đặc biệt quan tâm và chăm sóc về sức khỏe. Bởi ở độ tuổi này sức đề kháng và khả năng hấp thu dinh dưỡng đã giảm nhiều, các chức năng của cơ thể cũng không còn hoạt động tốt như trước. Do đó người ở độ tuổi này rất dễ mắc bệnh mà thường gặp là: mỡ máu, tiểu đường, tim mạch, loãng xương …nguy hiểm hơn là các bệnh ác tính như ung thư tử cung, ung thư dạ dày…..,

Các chuyên gia về sức khỏe khuyên rằng với những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi nên khám sức khỏe tổng quát định kỳ thường xuyên ít nhất là 6 tháng 1 lần cho dù có bệnh grain không. Việc làm này không chỉ là để theo dõi tình hình sức khỏe hiện tại mà còn sớm phát hiện bệnh từ đó có phương pháp điều trị kịp thời giúp người bệnh vừa tiết kiệm chi phí vừa phòng chống bệnh tốt hơn .Đối với những trường hợp có bệnh, đang điều trị và theo dõi thì cần đi khám định kỳ theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để có hướng điều trị và xử lý kịp thời khi bệnh có chiều hướng xấu.