Hiển thị các bài đăng có nhãn cô bé. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn cô bé. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Cách trị viêm tắc tia sữa

Viêm tắc tia sữa là quá trình bế tắc, ứ đọng sữa và tạo mủ cấp tính. Bệnh thường phát sinh vào thời kỳ cho con bú, đặc biệt ở bà mẹ sinh con đầu lòng. Triệu chứng điển hình là bầu vú sưng nóng, đau, toàn thân sốt, sợ rét, đau mình.

Một số nguyên nhân gây viêm tắc tia sữa:

- Không day đều bầu sữa để thông tia sữa ngay sau khi sinh.

- Không vắt bỏ sữa thừa khi trẻ bú không hết. Sữa đọng lại lâu ngày gây ôi, tắc và ung nhũ.

- Cảm nhiễm hàn tà, làm cho sữa khó lưu thông.

- Tinh thần không thư thái làm can khí uất, ảnh hưởng đến chức năng vận hóa của tỳ, sữa ứ đọng hóa hỏa sinh nhũ ung.

- Ăn uống thất thường gây tổn thương tỳ vị, vị nhiệt ủng trệ, nhiệt tích tại nhũ lạc, gây sưng đau vú.

- Cơ thể sau sinh chính khí suy.

- Sau khi cho trẻ bú không vệ sinh lau rửa đầu vú sạch.

Các bài thuốc chữa viêm tuyến vú:

Giai đoạn nhũ thống – sữa ứ trệ:

- Triệu chứng: vú sưng đau, sữa ra không đều, không thông, sắc da đỏ nhẹ hoặc không đỏ, có hoặc không có hòn cục, sốt, sợ lạnh, đau đầu, đau mình mẩy, ngực tức. Rêu lưỡi trắng mỏng hoặc hơi vàng.

- Bài thuốc gồm: qua lâu 12 g, ngưu bàng tử 12 g, sài hồ 12 g, hoàng cầm 10 g, liên kiều 8 g, sơn chi tử 10 g, thiên hoa phấn 16 g, tạo giác thích 8 g, kim ngân hoa 12 g, trần bì 10 g, thanh bì 12 g, cam thảo 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Giai đoạn ung – làm mủ:

- Triệu chứng: bầu vú sưng to, da đỏ nóng từng đám hoặc cả vú, đau tăng, sốt cao, người bứt rứt khó chịu, miệng khát muốn uống, lưỡi đỏ rêu vàng, mạch huyền sác.

- Bài thuốc gồm: hoàng liên 10 g, hoàng cầm 12 g, liên kiều 10 g, ơn chi tử 12 g, cát cánh 12 g, đại hoàng 10 g, đương quy 12 g, bạch thược 12 g, đinh lang 10 g, bạc hà 8 g, mộc hương 8 g, thăng ma 10 g, hoàng kỳ 12 g, bạch chỉ 12 g, xuyên sơn giáp 6 g, tạo giác thích 6 g, cam thảo 6 g. Sắc uống ngày một thang.

Giai đoạn vỡ mủ:

- Triệu chứng: do mủ tự vỡ hoặc chích rạch tháo mủ, thân nhiệt hạ, sưng đau giảm. Nếu mủ đã vỡ mà vẫn không giảm sưng đau, thân nhiệt cao, chứng tỏ nhiệt độc còn thịnh, làm mủ lan sang các nhũ lạc khác hình thành truyền nang nhũ ung.

-Bài thuốc gồm: nhân sâm 10 g, bạch truật 12 g, xuyên sơn giáp 6 g, bạch chỉ 12 g, thăng ma 10 g, đương quy 12 g, hoàng kỳ 12 g, tạo giác thích 6 g, cam thảo 6 g, thanh bì 12 g. Sắc uống ngày một thang.

Bác sĩ Trần Văn Bản (SK&ĐS)

Những món ăn chữa thiếu sữa sau khi sinh

Trẻ mới ra đời rất cần nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ. Nhưng nhiều bà mẹ lại không đủ sữa cho con bú hoặc sữa mẹ loãng. Nguyên nhân thiếu sữa ở sản phụ là do khí hư huyết yếu – nghĩa là cơ thể người phụ nữ vốn đã có khí hư, huyết ít, đến khi sinh, huyết bị mất nhiều, khí bị hao, khí huyết đều suy, hoặc tỳ vị hư yếu, khí huyết sinh hóa bất túc khiến cho khí huyết hư yếu không tạo ra được sữa; hoặc do tinh thần căng thẳng, lo lắng buồn chán hoặc một số trường hợp do cảm nhiễm, làm cho sản phụ không có sữa hoặc có ít sữa. Xin giới thiệu một số món ăn tốt cho sản phụ để có nguồn sữa dồi dào cho em bé lại vừa đủ chất dinh dưỡng và dễ tiêu hoá.

Cháo móng giò lợn: móng giò lợn 2 cái (250 – 300g), gạo ngon 150g, lạc nhân 50g, đu đủ non 30g, mắm muối vừa đủ.

Móng giò lợn đem nướng vàng, cạo sạch, chặt vừa miếng, ướp mắm muối đem xào chín. Cho tất cả nguyên liệu vào nồi thêm nước (vừa đủ) ninh nhừ. Khi cháo chín chia 2 lần ăn trong ngày. Ăn liền 3 – 5 ngày (sau đẻ từ 3 – 5 ngày mới nên ăn).

Cháo lạc: lạc nhân 50g, gạo tẻ ngon 150g, quả mít non 30g, đường phèn.

Quả mít non rửa sạch giã nhỏ. Lạc nhân, gạo tẻ ngon xay thành bột, cho vào nồi thêm 300ml nước, đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho mít non, đường phèn vào quấy đều, đun tiếp, khi đường tan hết là được. Ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 ngày.

Cháo kê: kê 250g, thịt gà nạc 100g, đường trắng 30g.

Thịt gà bỏ da, xé nhỏ. Kê bỏ vỏ giã dập cho vào nồi thêm 300ml nước đun cho kê chín nhừ, cho thịt gà và đường vào quấy đều đun tiếp, cháo sôi lại một lúc là được. Ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 – 7 ngày.

Cháo thỏ: đầu thỏ 1 cái, gạo 100g, vừng đen 50g, bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Vừng đen bỏ vỏ, đầu thỏ làm sạch cùng với gạo cho vào nồi thêm đủ nước hầm thật kỹ cho nhừ. Khi cháo chín cho bột ngọt, bột gia vị vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 2 – 3 ngày. Khi ăn đập xương sọ của thỏ lấy não của nó cho vào cháo quấy đều.

Cá chép hầm quả sung: cá chép 1 con (250 – 300g), quả sung non 50g, quả mít non 50g, rượu trắng 1 thìa canh, mắm muối vừa đủ.

Cá chép làm sạch, đem ướp mắm muối và rượu. Quả sung, quả mít non rửa sạch giã nhỏ chia đôi, một nửa rải ở đáy bát to, đặt cá lên và rải tiếp nửa còn lại lên cá, đem hấp cách thuỷ. Cá chín cho sản phụ ăn, ngày 1 lần, cần ăn 2 – 3 ngày.

Củ mài hầm thịt lợn: củ mài tươi 100g, lạc nhân 50g, thịt chân giò lợn 150g, mắm muối vừa đủ. Thịt chân giò lợn rửa sạch thái vừa miếng, ướp mắm muối xào chín tới. Củ mài bỏ vỏ rửa sạch thái miếng. Lạc nhân để cả vỏ giã dập. Tất cả cho vào nồi thêm nước vừa đủ hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 – 7 ngày.

Thịt lợn nạc hầm hạt mít: thịt lợn nạc 300g, hạt mít 300g, mắm muối vừa đủ. Thịt lợn nạc rửa sạch thái miếng ướp mắm muối xào chín tới. Hạt mít bỏ vỏ giã dập cùng thịt lợn nạc cho vào nồi thêm nước vừa đủ, hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.

Chân lợn hầm đậu phụ: chân lợn 300g, đậu phụ 200g, mắm muối vừa đủ. Chân lợn đem nướng vàng làm sạch, chặt vừa miếng ướp mắm muối, thêm nước cho vừa đem hầm nhừ, trước khi ăn cho đậu phụ vào đun sôi 3 phút là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.

Rau cải cúc thịt lợn nạc hấp cách thuỷ: rau cải cúc 300g, thịt lợn nạc 150g, lạc nhân 50g, mắm muối vừa đủ.

Rau cải cúc nhặt rửa sạch. Lạc nhân giã nhỏ. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ trộn với lạc, mắm muối, viên thành viên bằng quả táo. Dùng bát to, đặt lớp cải cúc ở đáy bát, sau đó cho thịt vào, trên cùng lại rải lớp cải cúc, đem hấp cách thuỷ, khi chín chia làm 2 lần ăn với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.

Canh rau diếp: rau diếp 300g, tôm tươi 150g, mắm muối vừa đủ.

Rau diếp nhặt rửa sạch, thái nhỏ. Tôm làm sạch bóc vỏ, bỏ càng, thái mỏng. Vỏ và càng tôm giã nhỏ, đổ nước lọc lấy 300ml (như lọc cua). Cho mắm muối vào nước tôm quấy đều rồi đun, khi sôi cho thịt tôm, đun tiếp cho đến khi canh sôi lại cho rau diếp đảo đều. Canh sôi là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.

Ngoài ra, người mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều, cần sự động viên, quan tâm chăm sóc của người thân trong gia đình, tránh mọi căng thẳng vì sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình tạo sữa. Sản phụ không nên kiêng khem quá mức, nên ăn đa dạng thực phẩm bổ dưỡng, kiêng các đồ sống lạnh như hải sản, các chất tanh như cua, sò, ốc, hến, trai, cá mè; hạn chế các gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu… và các chất kích thích như chè, cà phê…

Lương y Đình Thuấn (SK& Đ S)

Có nên chọn ngày, giờ để sinh con?

Sinh mổ mang lại nhiều nguy cơ cho mẹ và con.

Ngày càng có nhiều sản phụ chọn phương pháp sinh mổ, họ quan niệm rằng việc phẫu thuật giúp họ lựa chọn được ngày sinh, tháng đẻ, giờ sinh và cả bác sĩ mát tay và số giường, số phòng… để sinh con quý tử, hợp với bố mẹ… Yếu tố tâm linh là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều sản phụ chọn phương pháp phẫu thuật thay vì sinh đẻ tự nhiên. Nhưng có thật sự là ai sinh vào ngày, giờ “vàng” cũng tốt không? Và việc chọn ngày, giờ để sinh con có những ảnh hưởng như thế nào đến thai phụ và thai nhi?

Những con số đáng báo động
Theo nghiên cứu mới đây của nhóm bác sĩ Bệnh viện phụ sản TƯ và Trường Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mổ lấy thai ở nước ta đang có xu hướng tăng dần. Hiện, tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản TƯ là gần 41%, Bệnh viện phụ sản Hà Nội là hơn 43%. Trong số 423 bà mẹ (ở hai quận Hoàn Kiếm, Gia Lâm) tham gia nghiên cứu, có 30,3% bà mẹ mổ lấy thai, trong đó, 14% muốn mổ lấy thai để chọn được ngày, giờ sinh tốt cho đứa trẻ và 16,7% là do chịu sự tác động từ phía gia đình…

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thời điểm tỷ lệ mổ đẻ chiếm tới 60% các ca sinh nở.
Con số thấp hơn, như ở Bệnh viện TP Hồ Chí Minh các ca mổ đẻ cũng chiếm trên 30%. Tại Bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ này cũng trên 40% ca mổ đẻ. Trong khi đó, mức trung bình trên thế giới chỉ chiếm trên 10% tổng số các ca sinh.

Nhiều nguy cơ cho mẹ và con
Theo các bác sĩ, có thể tiến hành các ca mổ đẻ trước từ mấy tuần tuổi, miễn sao đảm bảo theo tiêu chuẩn, chỉ định của ngành y tế. Nhưng việc can thiệp thai nhi sớm, chắc chắn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của bào thai cũng như đứa trẻ sau này và cả người mẹ nữa.Theo đó, dù nguyên nhân nào thì việc đứa trẻ chào đời do không được ra bằng đường tự nhiên (trẻ không đi qua ống âm đạo, phổi không bị ép để tống xuất các chất dịch) nên dạ dày và phổi có thể vẫn còn nước ối. Sự tồn ứ dịch trong phổi trẻ làm tăng nguy cơ suy hô hấp, gây bệnh màng trong.

Đây là các bệnh lý rất nặng ở trẻ sơ sinh, việc điều trị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Ngoài ra, sự chuyển dạ của người mẹ sẽ sản sinh ra nhiều hormon giúp trẻ đề kháng tốt. Những trẻ sinh mổ không trải qua quá trình này sẽ thiếu những hormon cần thiết nên thường yếu hơn những trẻ sinh thường.
Việc sinh mổ còn có thể dẫn đến những biến chứng cho người mẹ trong lần mang thai sau, nhất là nguy cơ chửa ngoài dạ con, vỡ tử cung ở mẹ, nhau thai bám vào vết mổ cũ… rồi lần sinh con sau hầu như đều phải mổ, quá trình mang thai sau cũng phải theo dõi sát sao, căng thẳng hơn.

Vì vậy, trước khi đề nghị chọn ngày giờ sinh mổ, sản phụ cần tìm hiểu kỹ những ích lợi và tác hại của nó, lắng nghe những tư vấn của bác sĩ. Nếu bác sĩ không chỉ định mổ lấy thai, sản phụ nên sinh con theo cách tự nhiên. Bác sĩ sẽ chỉ định cho sinh mổ trong một số trường hợp như: thai quá to, người mẹ có bệnh nhiễm khuẩn có thể gây lây nhiễm cho bé trong khi sinh thường hay dị tật về cơ thể, mẹ mang thai nhiều bé cùng một lúc, trẻ bị tràng hoa quấn cổ có nguy cơ tử vong, thai ngược…

Hoài Phương (SK&ĐS)

Vì sao “bà bầu” hay bị chóng mặt?

Khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn. Chóng mặt thời kỳ thai nghén là một biểu hiện thường thấy, cũng có thể do bệnh lý hoặc có thể do cơ thể phản ứng lại với một mầm sống mới đang hình thành trong cơ thể.

Ảnh minh họa

Trong thời kỳ đầu mang thai, một loạt các triệu chứng xuất hiện như váng đầu, buồn nôn, nôn, kiệt sức… Nguyên nhân phát bệnh có thể là do trạng thái tinh thần và cơ chế tác động của hormon trong cơ thể. Ngoài ra chức năng của tuyến vỏ thượng thận bị suy giảm, thiếu vitamin B 6 , và tâm lý sợ hãi có thể thúc đẩy phát sinh các phản ứng thời kỳ đầu mang thai làm xuất hiện chóng mặt.

Vào cuối thời kỳ mang thai, thai phụ có thể xuất hiện tăng huyết áp, nước tiểu có abumin và có phù, tăng huyết áp có thể dẫn đến chóng mặt, nặng đầu. Khi xuất hiện những triệu chứng này cần chú ý đến  khả năng chảy máu cuống rốn, tình trạng đông máu trong mạch máu. Khi bị phù chân voi, chóng mặt, váng đầu ở thời kỳ cuối của quá trình thai nghén cần phải đi khám ngay ở các cơ sở sản khoa tin cậy và không được tự ý uống bất kỳ loại thuốc nào dù là Đông hay Tây y.

Chóng mặt khi mang thai cũng có thể do thiếu máu, đây là tình trạng phổ biến nhất là đối với những phụ nữ cơ thể gầy yếu, khi mang thai không được uống bổ sung sắt. Vào cuối thời kỳ mang thai, dung lượng huyết tương tăng nhanh hơn tổng hợp gia tăng của huyết sắc tố và hồng cầu khiến máu bị loãng, tỉ lệ hồng cầu bị hạ thấp làm thai phụ xuất hiện hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt. Khi thiếu máu nặng sẽ khiến đại não và tai trong bị trở ngại do không được cung cấp đủ máu và xuất hiện các triệu chứng như váng đầu, ù tai, mất thăng bằng, mất sức, sắc mặt tái xanh…

Chóng mặt trong thời kỳ mang thai là tình trạng thường gặp và có thể điều trị được. Để khắc phục tình trạng này, trước khi mang thai người phụ nữ cần bồi dưỡng sức khoẻ, nhất là đối với người có thể trạng gầy yếu. Khi có thai cần ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, không dùng các chất kích thích như rượu, bia, cà phê. Ngủ đủ 8 tiếng một ngày, không làm công việc nặng nhọc, nên luyện tập bằng hình thức đi bộ thư giãn. Tránh những nơi ồn ào, kích động. Cần uống viên sắt mỗi ngày, sau khi đẻ một số người do mất máu nhiều cũng có thể gây thiếu máu, váng đầu, ù tai. Thực hiện tốt những lưu ý trên, thai phụ có thể tránh được chứng chóng mặt, váng đầu. Nếu đột nhiên xảy ra tình trạng chóng mặt dữ dội, cần đến ngay bác sĩ để bảo vệ cả mẹ và thai nhi an toàn.

BS. Nguyễn Tiến Dũng (SK&DS)