Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
Những món ăn chữa thiếu sữa sau khi sinh
Trẻ mới ra đời rất cần nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ. Nhưng nhiều bà mẹ lại không đủ sữa cho con bú hoặc sữa mẹ loãng. Nguyên nhân thiếu sữa ở sản phụ là do khí hư huyết yếu – nghĩa là cơ thể người phụ nữ vốn đã có khí hư, huyết ít, đến khi sinh, huyết bị mất nhiều, khí bị hao, khí huyết đều suy, hoặc tỳ vị hư yếu, khí huyết sinh hóa bất túc khiến cho khí huyết hư yếu không tạo ra được sữa; hoặc do tinh thần căng thẳng, lo lắng buồn chán hoặc một số trường hợp do cảm nhiễm, làm cho sản phụ không có sữa hoặc có ít sữa. Xin giới thiệu một số món ăn tốt cho sản phụ để có nguồn sữa dồi dào cho em bé lại vừa đủ chất dinh dưỡng và dễ tiêu hoá.
Cháo móng giò lợn: móng giò lợn 2 cái (250 – 300g), gạo ngon 150g, lạc nhân 50g, đu đủ non 30g, mắm muối vừa đủ.
Móng giò lợn đem nướng vàng, cạo sạch, chặt vừa miếng, ướp mắm muối đem xào chín. Cho tất cả nguyên liệu vào nồi thêm nước (vừa đủ) ninh nhừ. Khi cháo chín chia 2 lần ăn trong ngày. Ăn liền 3 – 5 ngày (sau đẻ từ 3 – 5 ngày mới nên ăn).
Cháo lạc: lạc nhân 50g, gạo tẻ ngon 150g, quả mít non 30g, đường phèn.
Quả mít non rửa sạch giã nhỏ. Lạc nhân, gạo tẻ ngon xay thành bột, cho vào nồi thêm 300ml nước, đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho mít non, đường phèn vào quấy đều, đun tiếp, khi đường tan hết là được. Ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 ngày.
Cháo kê: kê 250g, thịt gà nạc 100g, đường trắng 30g.
Thịt gà bỏ da, xé nhỏ. Kê bỏ vỏ giã dập cho vào nồi thêm 300ml nước đun cho kê chín nhừ, cho thịt gà và đường vào quấy đều đun tiếp, cháo sôi lại một lúc là được. Ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
Cháo thỏ: đầu thỏ 1 cái, gạo 100g, vừng đen 50g, bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Vừng đen bỏ vỏ, đầu thỏ làm sạch cùng với gạo cho vào nồi thêm đủ nước hầm thật kỹ cho nhừ. Khi cháo chín cho bột ngọt, bột gia vị vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 2 – 3 ngày. Khi ăn đập xương sọ của thỏ lấy não của nó cho vào cháo quấy đều.
Cá chép hầm quả sung: cá chép 1 con (250 – 300g), quả sung non 50g, quả mít non 50g, rượu trắng 1 thìa canh, mắm muối vừa đủ.
Cá chép làm sạch, đem ướp mắm muối và rượu. Quả sung, quả mít non rửa sạch giã nhỏ chia đôi, một nửa rải ở đáy bát to, đặt cá lên và rải tiếp nửa còn lại lên cá, đem hấp cách thuỷ. Cá chín cho sản phụ ăn, ngày 1 lần, cần ăn 2 – 3 ngày.
Củ mài hầm thịt lợn: củ mài tươi 100g, lạc nhân 50g, thịt chân giò lợn 150g, mắm muối vừa đủ. Thịt chân giò lợn rửa sạch thái vừa miếng, ướp mắm muối xào chín tới. Củ mài bỏ vỏ rửa sạch thái miếng. Lạc nhân để cả vỏ giã dập. Tất cả cho vào nồi thêm nước vừa đủ hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
Thịt lợn nạc hầm hạt mít: thịt lợn nạc 300g, hạt mít 300g, mắm muối vừa đủ. Thịt lợn nạc rửa sạch thái miếng ướp mắm muối xào chín tới. Hạt mít bỏ vỏ giã dập cùng thịt lợn nạc cho vào nồi thêm nước vừa đủ, hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Chân lợn hầm đậu phụ: chân lợn 300g, đậu phụ 200g, mắm muối vừa đủ. Chân lợn đem nướng vàng làm sạch, chặt vừa miếng ướp mắm muối, thêm nước cho vừa đem hầm nhừ, trước khi ăn cho đậu phụ vào đun sôi 3 phút là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Rau cải cúc thịt lợn nạc hấp cách thuỷ: rau cải cúc 300g, thịt lợn nạc 150g, lạc nhân 50g, mắm muối vừa đủ.
Rau cải cúc nhặt rửa sạch. Lạc nhân giã nhỏ. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ trộn với lạc, mắm muối, viên thành viên bằng quả táo. Dùng bát to, đặt lớp cải cúc ở đáy bát, sau đó cho thịt vào, trên cùng lại rải lớp cải cúc, đem hấp cách thuỷ, khi chín chia làm 2 lần ăn với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Canh rau diếp: rau diếp 300g, tôm tươi 150g, mắm muối vừa đủ.
Rau diếp nhặt rửa sạch, thái nhỏ. Tôm làm sạch bóc vỏ, bỏ càng, thái mỏng. Vỏ và càng tôm giã nhỏ, đổ nước lọc lấy 300ml (như lọc cua). Cho mắm muối vào nước tôm quấy đều rồi đun, khi sôi cho thịt tôm, đun tiếp cho đến khi canh sôi lại cho rau diếp đảo đều. Canh sôi là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Ngoài ra, người mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều, cần sự động viên, quan tâm chăm sóc của người thân trong gia đình, tránh mọi căng thẳng vì sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình tạo sữa. Sản phụ không nên kiêng khem quá mức, nên ăn đa dạng thực phẩm bổ dưỡng, kiêng các đồ sống lạnh như hải sản, các chất tanh như cua, sò, ốc, hến, trai, cá mè; hạn chế các gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu… và các chất kích thích như chè, cà phê…
Lương y Đình Thuấn (SK& Đ S)
Cảnh giác với bệnh đường tiết niệu ở trẻ
Nguyên nhân của viêm đường tiểu ở trẻ em
Có khá nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường tiết niệu cho trẻ. Ở bé gái, do cấu tạo sinh lý là niệu đạo ngắn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn nên rất dễ bị lây nhiễm bởi các vi sinh vật từ phân lây sang. Ở bé trai, có một số do có dị dạng ở đường tiểu, nhất là hiện tượng hẹp bao quy đầu làm cho nước tiểu thường xuyên bị ứ lại gây viêm đường tiết niệu ngược dòng. Một số trẻ không mặc quần hoặc mặc quần thủng đít hoặc hay chơi lăn lê trên mặt đất cũng rất dễ bị viêm đường tiết niệu. Ngày nay, việc đóng bỉm cho bé là chuyện bình thường nhưng việc sử dụng bỉm không đúng quy cách cũng có thể làm cho trẻ bị viêm đường tiết niệu, nhất là mỗi khi cả phân và nước tiểu lẫn lộn với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên rất dễ làm cho trẻ bị nhiễm vi khuẩn. Viêm đường tiết niệu ở trẻ đôi khi còn do các bậc phụ huynh hoặc cô nuôi dạy trẻ gây ra như việc rửa cho trẻ sau khi trẻ đi vệ sinh. Nếu rửa đít cho trẻ mà rửa từ sau ra trước thì vô tình sẽ đưa vi khuẩn vào lỗ tiểu, nhất là các trẻ em gái. Về căn nguyên gây viêm đường tiết niệu ở trẻ chủ yếu do vi khuẩn E.coli và có thể do một số ký sinh trùng (vi nấm) hoặc do virut. Vi khuẩn E.coli là một loại vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột có nhiều trong phân của người và động vật. Ở ngoại cảnh, vi khuẩn này phân bố khắp nơi (trong đất, bụi, nước và không khí, thực phẩm, rau, quả…) nên rất dễ lây nhiễm sang cho con người mỗi khi có điều kiện, nhất là khi vệ sinh môi trường chưa được cải thiện, vệ sinh cá nhân chưa tốt.
Biểu hiện viêm đường niệu ở trẻ em
Tuỳ theo độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì triệu chứng viêm đường tiết niệu càng kín đáo, khó phát hiện. Trẻ có thể bị sốt nhẹ, sốt kéo dài, đôi khi sốt cao. Người ta thấy rằng có một tỷ lệ khoảng từ 10 – 15% số trẻ không sốt mà thân nhiệt lại giảm. Trẻ có thể biếng ăn, kém chơi, hay quấy khóc, đôi khi có rối loạn tiêu hoá như nôn hoặc tiêu chảy. Đôi khi trẻ khóc khi tiểu bởi bị đau. Một số trẻ em trai lớn hơn có động tác sờ vào chim do khó chịu, đau khi đi tiểu. Trẻ cũng có thể đái dắt, buốt, đi tiểu nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn nên một số trẻ bị viêm đường tiết niệu hay đi tiểu làm cho một số phụ huynh hoặc các cô bảo mẫu hiểu nhầm và đánh giá sai về hành vi của cháu. Trẻ càng lớn thì hiện tượng đái buốt, đái dắt càng rõ nét hơn do trẻ đã nhận biết được. Nước tiểu của trẻ bị viêm đường tiểu có thể đục. Mức độ đục nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian bị viêm đường tiết niệu, nước tiểu được lấy để quan sát vào lúc nào trong ngày (nếu nước tiểu lấy vào lúc sáng sớm thì có thể thấy đục nhưng lấy nước tiểu vào buổi trưa hoặc chiều thì có thể không thấy). Muốn biết trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không, nên căn cứ vào một trong các dấu hiệu (hoặc có nhiều dấu hiệu) như mô tả ở trên. Khi cần thiết phải lấy nước tiểu làm xét nghiệm vi sinh (nhuộm soi và nuôi cấy phân lập vi khuẩn). Qua xét nghiệm vi sinh có thể biết được trong nước tiểu có vi khuẩn hay vi nấm. Xét nghiệm nước tiểu của trẻ nghi nhiễm khuẩn tiết niệu bằng phương pháp vi sinh, qua đó người ta còn làm kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh thích hợp điều trị có hiệu quả nhất cho trẻ. Người ta cũng có thể kiểm tra toàn bộ hệ thống đường tiết niệu bằng siêu âm và một số xét nghiệm cận lâm sàng khác để góp phần chẩn đoán chính xác trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không.
Khi nào bạn nên ngừng cho con bú?
Một khi con bạn đã bắt đầu không mấy hứng thú với việc bú mẹ, bạn có thể tự hỏi khi nào bạn nên ngừng cho con bú. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ rất nhiều, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bé đã có kế hoạch khác? Cho dù đang đấu tranh với việc cho bé ngừng bú hay chỉ là muốn hiểu hơn thời điểm nên đưa ra quyết định này, bạn nên tham khảo bài viết sau.
Thế nào là tự cai sữa mẹ ?
Khi bé yêu của bạn bắt đầu khám phá thế giới xung quanh, nhu cầu của bé bắt đầu thay đổi. Thông thường ngoài một tuổi, khi nhà thám hiểm tí hon có thể uống bằng cốc và ăn thức ăn đặc, bé sẽ dần dần giảm hứng thú với sữa mẹ và coi đây là một quá trình tự cai sữa.
Con đã sẵn sàng để thôi sữa mẹ ?
Học viện nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo nên cho con bú ít nhất trong năm đầu tiên của bé. Tiến sĩ Charles Shubin, giám đốc khoa nhi, Trung tâm y tế Mercy ở Baltimore cho biết: “Nguyên tắc cơ bản là trẻ sơ sinh cần sữa mẹ, hoặc một dạng thức tương đương, trong khi sữa là thành phần chính của chế độ ăn uống của bé. Đến một tuổi, hầu hết trẻ sơ sinh đã chuyển sang một chế độ ăn uống chủ yếu dưới dạng thức ăn thể rắn, và sữa trở thành một loại nước giải khát”.
Tuy nhiên, khi bé có kế hoạch khác, không phải tất cả các bà mẹ và em bé đều duy trì thời gian bú mẹ cho đến khi bé tròn 1 tuổi. “Nếu một em bé tự bỏ bú mẹ trước khi một năm tuổi, và được ăn thực phẩm là chủ yếu thì không có vấn đề gì về thức uống. Trước 10 hoặc 11 tháng, mặc dù, hầu hết trẻ sơ sinh vẫn còn nhận được một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng của từ sữa mẹ, do đó, một em bé tự cai sữa trong độ tuổi sẽ được bổ sung theo đúng công thức ấy”, Tiến sĩ Shubin tư vấn.
Những dấu hiệu nhầm lẫn của việc tự cai sữa
Ngày nay, dường như có vẻ người lớn ít quan tâm đến việc ngưng nghỉ từ lối sống năng động của mình đến việc cho con bú? Lang thang xung quanh hơn hay tạm dừng để nhồi nhét? Đừng vô tình vứt bỏ đi cái quý giá.
Từ 6 đến 12 tháng tuổi, bé có thể trở nên bị phân tâm bởi thế giới xung quanh. Mặc dù bé không để ý nhiều đến ti mẹ và mải chơi nhưng không nhất thiết có nghĩa là bé sẵn sàng từ bỏ sữa mẹ hoàn toàn. Nếu bé tự cai sữa trước 12 tháng, bạn có thể muốn gắn bó với bé, sự thờ ơ với sữa mẹ trong ngày hôm nay có thể hoàn toàn khác vào ngày mai.
Theo sát sự dẫn dắt của bé
Tuy nhiên, sẵn sàng hay không, một ngày nào đó bé yêu sẽ bắt đầu tự thôi sữa mẹ. Tập trung vào sự tăng trưởng tích cực của em bé có thể giúp bạn đưa ra quyết định dễ hơn.
Trong một số trường hợp, bản năng có một cách để cho bé yêu của bạn biết rằng đã đến lúc thôi sữa mẹ.
Nếu bạn nhận ra dấu hiệu tự cai sữa và đang gặp khó khăn để đưa ra quyết định trong thời gian này, hãy tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần từ các bà mẹ khác hoặc tham gia một diễn đàn trực tuyến cho các bà mẹ đã trải qua giai đoạn cuối cùng của thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Sau đó bạn hãy an ủi mình đã làm đúng có thể là vài tháng hoặc vài năm, bạn nuôi dưỡng con mình theo một cách mang lại cho con nhiều lợi ích nhất!
Khi mang thai có nên dùng thuốc bổ Đông y?
Trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ nên tham khảo ý kiến bác sĩ.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y cho biết, việc dùng thuốc bổ nói chung phải được xem xét một cách thận trọng và tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đặc biệt là với phụ nữ mang thai. Cũng vì thế, các dược thư cổ luôn ghi rõ những vị thuốc cấm dùng cho phụ nữ có thai, trong đó có cả những vị thuốc thuộc nhóm bổ dưỡng. Hơn nữa, các vị thuốc được coi là bổ trong Đông y có thể bổ với người này nhưng lại gây hại với người kia. Do vậy, phụ nữ có thai nếu ăn uống tốt, đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, thai nhi phát triển bình thường, mẹ khỏe thì không cần dùng thuốc. Chỉ nên tìm đến sự hỗ trợ của Đông y khi thai phụ bị nôn nhiều, ăn uống kém, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn về sức khỏe, tuổi, tiền sử bệnh tật… để quyết định có nên sử dụng hay không.
Theo Thạc sỹ Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Trung ương quân đội 108, khi mang thai, trạng thái sinh lý của cơ thể thai phụ biến đổi rất lớn. Người mẹ rất dễ mắc một số bệnh như ốm nghén, phù, đi tiểu khó, động thai, băng huyết, trụy thai (sảy thai, đẻ non…) Ngoài ra, trong thời kỳ này, phụ nữ cũng cần lượng dinh dưỡng và huyết lớn để nuôi con. Vì vậy nếu việc bồi bổ bằng thức ăn không đảm bảo thì nên dùng thuốc. Trước hết, nên trọng dụng các món ăn – bài thuốc vì đây là phương thức bồi bổ đơn giản, có hiệu quả, dễ dùng, dễ chế và dễ được chấp nhận. Việc bồi bổ bằng thuốc phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ. Và khi mua thuốc nên mua tại các cơ sở tin cậy, không mua thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ.