Hiển thị các bài đăng có nhãn phái nữ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn phái nữ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Các bệnh ngoài da thường gặp trong kỳ kinh nguyệt

Ảnh minh họa

Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.

Kinh nguyệt: Thời kỳ đặc biệt

Thời kỳ kinh nguyệt là đặc điểm sinh lý đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người phụ nữ. Mỗi người có chu kỳ khác nhau, có chu kỳ từ: khoảng 25-32 ngày, trung bình 28 ngày.

Do sự biến đổi của niêm mạc tử cung dưới tác động của các hormon buồng trứng estrogene và progesterone. Hiện tượng hành kinh kéo dài khoảng 3-5 ngày, lượng máu mất trung bình khoảng 80ml.

Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng. Ảnh minh họa (Nguồn:Tuổi trẻ)

Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.

Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng.

Bên cạnh đó băng vệ sinh không thích hợp, quần lót dày, thô ráp dễ gây dị ứng, ngứa vùng kín.

Các bệnh ngoài da trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ gây ảnh hưởng đến người phụ nữ.

- Tâm lý khó chịu, mệt mỏi, lại thêm tình trạng đau, ngứa, rát làm chị em dễ bị kích động, bứt rứt, lo lắng, mất tập trung, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc.

- Sinh hoạt tình dục: không thoải mái.

- Sức khoẻ sinh sản: đau, viêm nhiễm nếu nặng có thể để lại di chứng.

Các bệnh ngoài da thường gặp:

Mề đay
- Xuất hiện theo chu kỳ kinh: do nguyên nhân nội tiết, hay vì dùng thuốc kháng viêm để giảm đau bụng, hoặc do dị ứng sản phẩm vệ sinh sử dụng trong kỳ kinh.

- Triệu chứng: hồng ban, sẩn phù hình tròn hay bầu dục lan rộng dần, ngứa.

- Tiến triển có chu kỳ: Sau khoảng vài giờ sẩn mờ dần, xẹp và biến mất, sau đó xuất hiện trở lại.

Viêm da tiếp xúc
Gồm viêm da dị ứng và viêm da kích thích.

Viêm da tiếp xúc (chàm tiếp xúc): do tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây dị ứng.

Ở vùng sinh dục, trong thời kỳ kinh nguyệt, viêm da tiếp xúc do: băng vệ sinh (dày hoặc thô nhám, chất liệu dễ gây kích ứng), bao cao su, màng tránh thai ở nữ, nước hoa…

Phân biệt viêm da kích thích và viêm da dị ứng.

- Viêm da dị ứng: Có tính di truyền; chỉ xảy ra trên một số người có cơ địa đặc biệt. Viêm da bộc phát khi tiếp xúc với dị ứng nguyên: quần lót, băng vệ sinh, kem thoa, màng tránh thai, nước hoa… Triệu chứng xảy ra nhanh, 12-48 giờ sau tiếp xúc; gồm: hồng ban, sưng phù, mụn nước, mài, ngứa… Các tổn thương giới hạn rõ, mang hình ảnh vật tiếp xúc.

- Viêm da kích thích: Mọi người đều có nguy cơ bị viêm da kích thích. Nguyên nhân do thay đổi tính chất sinh lý, sinh hóa của thượng bì, không liên quan cơ chế miễn dịch.

Tác nhân gây bệnh: chất kích thích da (dung môi hữu cơ, hoạt chất tẩy rửa, các loại xà phòng mạnh, chất liệu bông, giấy thấm trong băng vệ sinh…) Khi da tổn thương, dù tiếp xúc với một chất kích thích yếu cũng gây ra viêm. Độ nặng nhẹ của viêm da liên quan đến nồng độ chất kích thích và thời gian tiếp xúc.

Triệu chứng của viêm da kích thích khởi phát chậm, khi lớp thượng bì tổn thương. Da khô, nứt, có hồng ban. Tiếp xúc lâu dài có thể gây chàm: hồng ban, mụn nước, mài, trợt, dày da, ngứa.

Chất kích thích mạnh có thể gây phản ứng viêm da cấp tính: hồng ban, trợt, chảy nước, rất ngứa.

Nấm da
- Nấm bẹn, nấm mông là những loại nấm rất thường gặp. Tác nhân gây bệnh là nấm sợi tơ, dễ phát triển trong điều kiện môi trường nóng và ẩm.

Tổn thương thường tạo thành một mảng có viền bờ rõ rệt, có vảy, phần giữa có xu hướng lành, có mụn nhỏ lấm tấm ở bờ viền. Đám tổn thương có màu sẫm, đường kính vài cm, bờ mép có ranh giới rõ rệt và hơi gồ lên.

Tổn thương thường xuất hiện ở cả hai bên bẹn, lan lên xương mu, ra kẽ mông, xuống đùi, lên thắt lưng,… gây ngứa.

Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida. Trong ảnh: Nấm Candida (Ảnh: medicinfo.hu)

- Nấm Candida: Ký sinh ở một số cơ quan tiêu hoá, hô hấp và trên da, nấm Candida khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trở thành tác nhân gây bệnh, đặc biệt loài Candida albicans.

Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida.

Nấm Candida có thể gây ra các tổn thương như:Cảm giác ngứa, rát bỏng; âm hộ đỏ, bóng, phủ chất nhầy trắng đục. Tiểu buốt, giao hợp đau; âm đạo đỏ tươi, có chất nhầy màu kem, có huyết trắng lẫn mủ

Nhiễm trùng da
- Do ngứa gây khó chịu nên cào gãi hoặc tiếp xúc với quần , băng vệ sinh thô ráp làm trầy xước da.

- Lớp thượng bì tổn thương gây nhiễm khuẩn.

- Vi khuẩn gây bệnh: vi trùng thường sinh mủ như Streptococci, Staphylococci, …

- Triệu chứng: đau, rát. Da viêm đỏ vùng đùi, bẹn 2 bên.

- Có khi nặng thấy sưng, có mụn mủ làm khó đi lại.

Viêm nhiễm phụ khoa do vi trùng, siêu vi
- Viêm âm hộ do tạp khuẩn không đặc hiệu: Tác nhân gây bệnh đa dạng như   Streptococci, Staphylococci, Escherichia, Diphteroid… Triệu chứng viêm tại chỗ và huyết trắng khó nhận biết  Đôi khi có viêm âm đạo.

- Herpes sinh dục: do siêu vi, hay tái phát khi có điều kiện thuận lợi. Ở một số phụ nữ, kinh nguyệt là yếu tố khởi phát. Triệu chứng: vùng sinh dục xuất hiện một hay một nhóm mụn nước nhỏ, nhanh chóng vỡ thành vết loét sau 2-4 ngày.

Phòng ngừa

- Sạch sẽ, giữ vệ sinh, tắm rửa thường xuyên. Rửa và thay băng vệ sinh thường xuyên mỗi 4 giờ – 6 giờ.

- Chọn loại băng vệ sinh có độ thấm hút cao, chất liệu mềm mại, thông thoáng, ít gây kích ứng

- Quần áo phải thay giặt, phơi khô ráo, sạch sẽ. Nên dùng loại mềm, mát, rút mồ hôi.

- Khi có triệu chứng ngứa, đau cần tránh cào gãi hay tự ý thoa, uống thuốc vì dễ làm bệnh nặng thêm.

- Tránh giao hợp trong những ngày này vì người phụ nữ thường mệt mỏi, đồng thời dễ gây xuất huyết hay nhiễm trùng.

Thời kỳ kinh nguyệt: giai đoạn nhạy cảm của người phụ nữ. Do những thay đổi về sinh lý đặc biệt nên cần quan tâm bảo vệ sức khoẻ để phòng tránh những bệnh lý ngoài da có thể gây nguy hiểm.

ThS.BS Trần Ngọc Anh

Thai nghén và những bệnh gan thường gặp

Khám thai định kỳ để phát hiện những bất thường

Thai nghén là tình trạng sinh lý tự nhiên, song việc mang thai và sinh con không phải bao giờ cũng thuận buồm xuôi gió. Các cơ quan nội tạng của người mẹ đặc biệt là tim, gan, phổi, thận… phải đảm nhiệm thêm trọng trách vì thai nhi đang phát triển thông qua cơ thể của người mẹ.

Bệnh ứ mật tại gan
Đó là tình trạng mật bị ứ lại trong gan, ngấm vào máu rồi ngấm vào da, gây ra triệu chứng ngứa và vàng da. Tỉ lệ căn bệnh này khoảng dưới 1%. Nó có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng và thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 2 hoặc thứ 3.
Ngứa da thường gặp nhất ở lòng bàn tay, bàn chân. Một số người có thể bị ngứa toàn thân. Triệu chứng ngứa tiến triển càng lúc càng nhiều làm bệnh nhân mất ngủ và ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Vàng da xảy ra khoảng 10 – 20% số người bị căn bệnh này. Nguyên nhân của bệnh chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền, tăng nhạy cảm với estrogen. Bệnh thường gặp hơn ở người sinh đôi hoặc đa thai do tăng nội tiết tố. Khoảng 50% số bệnh nhân bị ứ mật thai kỳ có tiền căn gia đình.

Tiên lượng cho mẹ tốt. Triệu chứng tự biến mất khoảng 2 ngày sau sinh. Tuy vậy, khoảng 60 – 70% số bệnh nhân sẽ bị lại bệnh này khi mang thai lần tới và nguy cơ bị ngứa da khi dùng thuốc ngừa thai. Song bệnh này lại có thể ảnh hưởng tới thai nhi. Khoảng 60% số bà mẹ bị căn bệnh này có nguy cơ sinh non trước 37 tuần. Trẻ sinh non có nguy cơ trên sức khỏe tổng quát suốt thời kì sơ sinh và sau đó. Một số trẻ chết lúc mới sinh. Bệnh này cũng làm tăng nguy cơ thai chết lưu với tỉ lệ nhỏ (1 – 2%), suy thai. Do vậy, cần theo dõi thai nhi cẩn thận với siêu âm và đo tim thai. Nếu bất thường có thể cần đề nghị sinh sớm để giảm nguy cơ thai chết lưu. Có thể chọc ối tuần thứ 36 để xem phổi thai nhi có phát triển đầy đủ không; nếu phổi thai nhi bình thường có thể tự thở, có thể kết thúc thai kì vào tuần thứ 36 đến tuần thứ 38 để phòng ngừa thai chết lưu. Vitamin K nên sử dụng vì nguy cơ xuất huyết sau sinh tăng. Cholestyramine và ursodeoxycholic acid làm giảm triệu chứng ngứa da và điều chỉnh một số rối loạn chức năng gan.

Hội chứng HELLP
HELLP là từ viết tắt của hemolysis (tán huyết), elevated liver enzymes (tăng men gan) và low platelet (giảm tiểu cầu). Hội chứng xảy ra ở 10% số bệnh nhân mang thai bị tiền sản giật nặng. Ở người bị tiền sản giật nặng, khi thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3 nên xem phết máu ngoại biên và xét nghiệm. Triệu chứng của hội chứng HELLP thường xảy ra vào thai kỳ thứ 3, mặc dù hội chứng có thể bắt đầu sớm hơn. Triệu chứng cũng có thể xuất hiện trong 48 giờ đầu sau sinh. Các triệu chứng của bệnh bao gồm: đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu. Nếu không điều trị kịp thời, hội chứng HELLP có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho cả mẹ lẫn thai nhi. Trên người mẹ, bệnh có thể gây hư hại gan nghiêm trọng, hiếm hơn có thể gây vỡ gan, suy thận, rối loạn đông máu, đột quỵ và tử vong. Khi người mẹ bị những biến chứng nghiêm trọng, thai nhi sẽ nguy hiểm tính mạng. Hội chứng HELLP làm tăng nguy cơ nhau bong non trước khi sinh, đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi cũng như tăng nguy cơ sinh non.

Điều trị bệnh bằng cách kiểm soát huyết áp, truyền tiểu cầu nếu tiểu cầu < 20.000mm3 hoặc 40.000mm3 kèm theo rối loạn cầm máu. Chấm dứt thai kì ngay để phòng ngừa những biến chứng nặng. Nếu thai kì dưới 34 tuần, có thể trì hoãn khoảng 48 giờ để điều trị người mẹ bằng corticoides. Thuốc này giúp đẩy nhanh quá trình trưởng thành của phổi thai nhi và phòng ngừa biến chứng sinh non. Một số đề nghị dùng corticoides liều cao để cải thiện triệu chứng của người mẹ. Sau khi sinh, những bất thường về gan và huyết học sẽ mất đi sau vài ngày. Bệnh nhân bị hội chứng HELLP có nguy cơ <5% bị lại hội chứng này trong những lần mang thai khác, nhưng những người này lại bị tăng những nguy cơ khác như: tiền sản giật, nhau bong non và sinh non.

Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai
Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai là một bệnh lí hiếm gặp và xảy ra vào 3 tháng cuối thai kì. Nguyên nhân chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền thiếu các enzyme cần thiết cho việc chuyển hóa chất mỡ của thành phần ty thể trong tế bào gan. Vì vậy, chất mỡ bị đọng lại với một số lượng nhiều bất thường bên trong tế bào gan dẫn đến gan bị viêm và thoái hóa mỡ. Khi một số lượng lớn tế bào gan bị hoại tử ồ ạt sẽ dẫn đến suy giảm chức năng gan. Triệu chứng thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 3 và tương tự như triệu chứng của hội chứng HELLP. Đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu, vàng da. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê, suy thận, rối loạn đông máu và tử vong. Do sau khi sinh bệnh hồi phục tự nhiên nên thai nhi cần được sinh ra càng sớm càng tốt để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Săn sóc hậu sản bao gồm theo dõi tình trạng đông máu, đường huyết, suy thận, rối loạn chức năng gan. Những người mẹ mang yếu tố gen liên quan đến việc thiếu khả năng oxid hóa chất mỡ có nguy cơ gan bị nhiễm mỡ trở lại trong những lần mang thai khác.

ThS.BS. ĐINH DẠ LÝ HƯƠNG (SK&ĐS)

Viêm bàng quang cấp ở phụ nữ mãn kinh

Phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh dễ mắc những bệnh lý mãn tính và bệnh viêm nhiễm, trong đó có viêm bàng quang cấp. Đây là bệnh lý thường gặp do vi khuẩn đi ngược dòng từ niệu đạo vào bàng quang gây bệnh.

Nguyên nhân

Phụ nữ khi đi tiểu, dòng nước tiểu xoáy dọc theo thành niệu đạo có thể làm những vi khuẩn ẩn náu quanh lỗ ngoài niệu đạo, sau đó đi ngược vào niệu đạo. Sau khi đi tiểu, niệu đạo khép từ trước ra sau, đẩy những giọt nước tiểu quanh lỗ ngoài niệu đạo đi vào trong bàng quang.

Uống nhiều nước trong ngày sẽ ngừa viêm bàng quang cấp

Ở phụ nữ trong giai đoạn sinh đẻ, dưới sự hỗ trợ nội tiết tố nữ, niêm mạc âm đạo, niêm mạc niệu đạo và niêm mạc bàng quang cùng với các hệ thống tuyến như tuyến skene, tuyến bartholine tiết ra những chất nhờn làm bôi trơn các thành ống và có tác dụng kháng khuẩn giúp cho bộ phận sinh dục ngoài luôn luôn được cân bằng nên vi khuẩn không có khả năng gây bệnh; đồng thời đi tiểu hết bãi không còn tồn dư nước tiểu và nước tiểu.

Phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh do nội tiết tố nữ giảm thấp nên vai trò của chất này không còn bao nhiêu kiến cho thành ống của đường tiết niệu cũng như đường sinh dục trở nên khô và teo. Đồng thời, các tế bào tuyến của biểu mô thành ống cũng không còn tiết nhiều chất nhờn nữa. Đây chính là yếu tố mà vi khuẩn có cơ hội phát triển gây bệnh.

Bệnh viêm bàng quang cấp còn có thể do các nguyên nhân khác như vi khuẩn được đưa vào bàng quang qua các thủ thuật như đặt sonde tiểu, soi bàng quang, vi khuẩn theo đường máu từ thận xuống bàng quang.

Các dấu hiệu nhận biết

Người bệnh đái buốt như cảm giác bị bỏng mỗi khi đi tiểu, kèm theo đau sau xương mu. Đái rắt, nhiều khi mỗi lần đi tiểu, chỉ ra vài giọt nước tiểu hoặc rất ít nước tiểu. Đái nhiều lần, đái đêm nhiều lần và có thể đái ra máu cuối bãi. Nước tiểu thường đục, mùi khó ngủi và đôi khi có máu. Các dấu hiệu toàn thân ít xảy ra, chỉ khi có dấu hiệu nặng, cảm giác ớn lạnh, sốt và đau nhiều vùng sau xương mu khi ấn vào.

Xét nghiệm huyết đồ: bạch cầu tăng, tập trung bạch cầu đa nhân trung tính tăng.

Làm xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, có thể xuất hiện nhiều hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn. Khi cấy nước tiểu có thể xác định vi khuẩn gây bệnh.

Siêu âm ở những bệnh nhân viêm bàng quang cấp: thấy thành bàng quang dày, bờ thành không đều, có thể có cặn lắng trong bàng quang.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm bàng quang do lao: bệnh lý thường hay tái phát, triệu chứng hay gặp đái ra mủ, cấy nước tiểu không tìm ra vi khuẩn, ngược lại có thể thấy trực khuẩn lao. Điều trị thuốc kháng sinh thông thường, không đáp ứng.

Viêm bàng quang kẽ: đây là thể bệnh bàng quang còn chưa rõ ràng về nguyên nhân và cơ chế. Triệu chứng cơn đau bàng quang ngắt quãng, rối loạn đi tiểu. Soi bàng quang có thể thấy niêm mạc thành bàng quang loét và xơ hóa. Điều trị chống viêm nhiễm, giảm đau, kháng viêm. Nhưng kết quả tạm thời.

Ung thư bàng quang: bệnh lý này ít gặp chỉ gặp trong trường hợp ung thư cổ tử cung di căn bàng quang. Người bệnh đau vùng tiểu khung, đái ra máu toàn bãi và các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung.

Điều trị

Sử dụng thuốc kháng sinh qua đường tiết niệu chủ yếu là thuốc dùng đường uống như: amoxicillin, augmentin, ciprofloxacin… Dùng thuốc kháng sinh trung bình 7 – 10 ngày. Kết hợp với thuốc chống co thắt như Spasmaverin, Spasless, Spasfon.

Cần ăn nhiều rau, trái cây, tránh dùng các chất khích thích như trà, cà phê, rượu. Uống nhiều nước trong ngày.

Vệ sinh vùng âm hộ sạch sẽ, bằng nước vệ sinh phụ khoa như dung dịch lactacyd FH, dung dịch gynofar. Mỗi lần đi tiểu cần lau bằng khăn giấy vệ sinh, tránh dùng vòi hoa sen rửa trực tiếp vào âm hộ, điều này giúp cho vi khuẩn ẩn náu ở lỗ ngoài niệu đạo có cơ hội vào trong niệu đạo rồi lên bàng quang theo dòng nước rửa.

Trường hợp nếu điều trị thuốc kháng sinh 10 ngày không kết quả, có thể cấy nước tiểu và làm kháng sinh đồ và điều trị thuốc theo kháng sinh đồ.

BS.CKII. TUÊ THÀNH