Hiển thị các bài đăng có nhãn nhiễm khuẩn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhiễm khuẩn. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Ung thư – Căn bệnh của người cao tuổi

Ung thư là vấn đề sức khoẻ được quan tâm ở nhiều nước trên thế giới. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO),hàng năm trên thế giới có khoảng 11 triệu người mắc bệnh ung thư và gần 7 triệu người chết do ung thư.

Uớc tính đến năm 2020 trên thế giới hàng năm có khoảng 16 triệu người mắc bệnh ung thư và dự đoán gần 10 triệu người chết do ung thư.
Nguyên nhân chính xác gây ra ung thư vẫn còn đang được nghiên cứu .
Tuy vậy các nghiên cứu đã chỉ ra rằng ung thư có nhiều khả năng xuất hiện hơn khi người ta già đi.
Bệnh ung thư thường gặp ở người cao tuổi – những người trên 50 tuổi. Tuy nhiên ung thư có thể xuất hiện ở những người ít tuổi hơn,thậm chí ở lứa tuổi trẻ do môi trường ngày càng bị ô nhiễm .

Ở Việt nam theo ứơc tính mỗi năm có khoảng 100.000 đến 150.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 70.000 người chết vì ung thư. Con số này có xu hướng ngày càng gia tăng. Dự báo tới năm 2010 mỗi năm ở Việt nam có khoảng 200.000 bệnh nhân ung thư mới mắc và 100.000 người chết vì ung thư .

Các loại ung thư phổ biến nhất ở nam giới là : Phổi, dạ dầy, gan, đại trực tràng, vòm họng, thực quản và u lympho ác tính không Hodgkin
Các loại ung thư phổ biến nhất ở nữ giới là : Vú, cổ tử cung, dạ dày, đại trực tràng, phổi, vòm họng, buồng trứng và khoang miệng
Các nhà khoa học đã khẳng định một phần ba số bệnh ung thư có thể phòng ngừa, một phần ba có thể chữa khỏi nếu được chẩn đoán sớm và cùng với điều trị chăm sóc hỗ trợ sẽ làm tăng chất lượng sống cho một phần ba số bệnh nhân ung thư còn lại
Vì vậy vấn đề hiểu biết về bệnh ung thư để phòng bệnh, phát hiện sớm bệnh ung thư ngày càng là vấn đề cấp bách, rất cần thiêt đối với mọi người dân đặc biệt là người cao tuổi.

Vậy Ung thư là gì?

Ung thư là một nhóm bệnh bắt đầu từ những tế bào – đơn vị cơ bản của cơ thể sống. Để hiểu về bệnh ung thư chúng ta nên xem xét điều gì xảy ra khi các tế bào bình thường trở thành tế bào ung thư.
Cơ thể chúng ta được cấu tạo từ nhiều loại tế bào. Thông thường tế bào sinh trưởng và phân chia để tạo ra tế bào mới chỉ khi cơ thể cần chúng. Quá trình này diễn ra một cách tuần tự giúp cơ thể khoẻ mạnh. Tuy nhiên, thỉnh thoảng tế bào cứ tiếp tục phân chia khi cơ thể không cần những tế bào mới. Những tế bào mọc thêm này hình thành một khối mô, được gọi là khối u.

Các khối u có thể lành tính hay ác tính.

Khối u lành tính không phải là ung thư. Chúng thường được loại bỏ và trong hầu hết các trường hợp không mọc lại. Tế bào ở những khối u lành không lan sang các phần khác của cơ thể. Quan trọng nhất là các khối u lành tính hiếm khi nguy hiểm đối với cuộc sống.
Khối u ác tính là ung thư. Tế bào trong những khối u này không bình thường, chúng phân chia không kiểm soát được và không theo trình tự. Chúng có thể xâm lấn và gây tổn thương các mô và cơ quan lân cận. Hơn nữa những tế bào này có thể tách khỏi u ác tính và đi vào mạch máu hay hệ bạch huyết. Đó là cách thức ung thư lan từ vị trí ban đầu để hình thành nên những khối u mới ở các cơ quan khác. Sự lan rộng của bệnh ung thư  được gọi là di căn.
Hầu hết các loại ung thư được gọi tên theo cơ quan hay loại tế bào mà chúng được hình thành. Ví dụ như, ung thư hình thành ở phổi được gọi là ung thư phổi, và ung thư hình thành từ các tế bào hắc tố da melanocytes gọi là u hắc tố melanom.
Khi bệnh ung thư  lan đi (di căn), các tế bào ung thư thường được tìm thấy ở những hạch bạch huyết lân cận hay trong vùng. Khi ung thư lan từ vị trí ban đầu sang một bộ phận khác của cơ thể, khối u mới có cùng loại tế bào bất thường và có cùng tên với khối u ban đầu. Ví dụ, nếu ung thư phổi lan vào não, tế bào ung thư ở não thực tế cũng là tế bào ung thư ở phổi và bệnh này được gọi là ung thư phổi di căn (chứ không phải là ung thư não).

Các triệu chứng báo động của bệnh ung thư

Ung thư có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nhau. Sau đây là một số triệu chứng đó:
- Sự dày lên hay nổi cục ở vú hay bất cứ bộ phận nào trong cơ thể
- Có sự thay đổi rõ ràng ở hột cơm hay nốt ruồi
- Vết loét không lành được
- Ho kéo dài và khàn giọng
- Những thay đổi thói quen đại – tiểu tiện
- Không tiêu hoặc khó nuốt
- Những thay đổi về trọng lượng không thể  lý giải được
- Ra máu âm đạo hoặc khí hư bất thường.

Khi những triệu chứng này hay khác xuất hiện thì không phải lúc nào cũng là do ung thư gây ra. Chúng có thể do hiện tượng nhiễm khuẩn, khối u lành hay các vấn đề khác gây ra. Điều quan trọng là phải đến gặp bác sĩ khi có bất kỳ triệu chứng nào hoặc những thay đổi thể lực xuất hiện. Chỉ có bác sĩ mới có thể đưa ra chẩn đoán. Không nên chờ tới khi cảm thấy đau. Ung thư giai đoạn đầu thường không gây ra đau đớn. Hãy đến ngay bác sỹ  để được tư vấn khi có một trong các dấu hiệu báo động Ung thư nói trên. Điều này có thể cho chúng ta một cơ hội cứu được tính mạng của mình.

TS. Nguyễn Thanh Đạm (Tổng thư ký Hội Ung thư Việt Nam)

Viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi

Viêm phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản – phổi tắc nghẽn không đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.

Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện  thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống…

Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính

Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 – 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể. Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ…). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế – huyết quản tăng đậm.

Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Tăng cường sức khỏe cho người già

Các thực phẩm dinh dưỡng cho người cao tuổi

[123Suckhoe] – Tuổi già đoạn cuối của cuộc đời, người già grain có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật. Làm thế nào để người già sống vui, sống khỏe mỗi ngày?

Khi về già, chức năng hoạt động của hệ tiêu hóa kém hiệu quả, cường độ trao đổi chất trong cơ thể người cao tuổi cũng diễn ra chậm. Tuổi già grain thường xuyên mắc các bệnh như cao huyết áp, loãng xương, tai biến mạch máu não.

Vì thế, việc bổ sung một chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nếu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hợp lý cũng là bí quyết sống vui – sống khỏe cho người cao tuổi.

Với những thay đổi của cơ thể trước thời gian người già cần có những điều chỉnh về chế độ ăn uống để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng. Theo các chuyên gia bác sĩ khuyên rằng điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đầy đủ lượng vitamin và khoáng chất cần thiết. Người cao tuổi, nhất là những người bị bệnh tim mạch không nên ăn quá nhiều chất béo như thịt, trứng, bơ…mà cần ăn nhiều các loại củ quả và đặc biệt là rau xanh để đảm bảo sức khỏe và tránh béo phì và nguy cơ đột qụy.

Cùng với đó, sữa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng không những giúp cung cấp lượng canxi cần thiết, giàu đạm quý để nuôi hệ xương chắc khỏe mà còn bổ sung các vi dưỡng chất bị thiếu hụt một cách an toàn. Đây là một thức uống không thể thiếu cho người cao tuổi.

Bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý. Người già không nên ngồi nhiều một chỗ như thế không tốt cho sức khỏe. Mà thay vào đó là nên thường xuyên vận động nhẹ, hoặc tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh dành cho người cao tuổi giúp thư giãn gân cốt, cho xương chắc khỏe, và giúp cho máu lưu thông tuần hoàn.

Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh hơn

Ông Phạm Việt 73 tuổi (G3- Thành Công- Ba Đình- Hà Nội) chia sẻ, ông bị mắc căn biến mạch máu não cách đây gần 2 năm đi lại rất khó khăn nhưng nhờ thói quen đi bộ nên bây giờ đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn hơn. ông cũng cho biết mỗi một ngày bỏ ra một tiếng cho việc đi bộ vào cả buổi sáng và buổi chiều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn và đặc biệt là tư tưởng thoải mái hơn rất nhiều.

Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải kết hợp đúng cách và bản thân mỗi người già phải tự biết tạo lập cho mình một thói quen tốt, lành mạnh và tích cực để mỗi ngày khi về với tuổi già là một ngày sống vui, sống khỏe và sống có ích.

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Bệnh khớp ở người cao tuổi

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện anathema đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, grain gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, grain di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng poison uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một grain hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý grain gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc group thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Những bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

Khi thời tiết thay đổi, nhất là từ nóng sang lạnh, đây là lúc bắt đầu xuất hiện các bệnh lý về khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển mà thường gặp nhất là ở người cao tuổi.

Gút là bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

 

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện ban đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, hay gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng acid uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một hay hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Đừng chủ quan khi bị chóng mặt

Chóng mặt là một loại triệu chứng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở người cao tuổi chiếm tỷ lệ cao hơn và nguy hiểm hơn. Chóng mặt thường có kèm theo một số triệu chứng khác như quay cuồng, hoa mắt, ù tai gây rất khó chịu cho người bệnh và rất dễ tái phát.

Không nên chủ quan khi người cao tuổi bị chóng mặt.

 

Chóng mặt ở người cao tuổi có thể biểu hiện ở nhiều tư thế khác nhau nhưng hay gặp nhất là khi đang nằm xuất hiện chóng mặt, đặc biệt là khi thay đối tư thế (đang nằm ngửa chuyển sang nằm nghiêng trái hoặc nghiêng phải). Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chóng mặt liên quan đến tiền đình, thiếu máu não là một triệu chứng thường gặp.

Nguyên nhân gây nên chóng mặt ở người cao tuổi

Nguyên nhân hay gặp nhất trong chóng mặt ở người cao tuổi là xuất phát từ dây thần kinh tiền đình. Tiền đình là vùng nằm sau ốc tai, là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, điều hoà, phối hợp cử động mắt, đầu, phản xạ các cơ và vận động thân mình nói chung. Vì vậy, khi tiền đình bị ảnh hưởng do bất kỳ một nguyên nhân nào cũng có thể sẽ gây rối loạn thăng bằng, rung giật nhãn cầu, chóng mặt, buồn nôn hoặc nôn thực sự.

Những tổn thương như chấn thương vùng đầu, viêm mê đạo của vùng ốc tai, do tắc mạch máu não vùng sau cổ (tắc, hẹp) hoặc hội chứng Menière đều có gây triệu chứng chóng mặt (hội chứng Menière gồm có chóng mặt, ù tai, giảm thính lực). Người ta còn đề cập đến nguyên nhân tổn thương tiền đình do nhiễm khuẩn gây viêm tiền đình hoặc chấn thương gây vỡ xương đá.

Một nguyên nhân gặp khá nhiều gây chóng mặt ở người cao tuổi là rối loạn vận mạch do hệ thống mạch máu (động mạch cung cấp máu cho vùng tiểu não bị ảnh hưởng hoặc do lượng máu đến ít đi hoặc mạch máu bị tắc, nghẽn do xơ vữa động mạch) như động mạch cột sống thân nền. Nguyên nhân của xơ vữa thành động mạch thì có nhiều nhưng do tăng mỡ trong máu mà đặc biệt là bệnh tăng huyết áp.

Tăng lượng cholesterol máu nhất là tăng loại cholesterol xấu có nguy cơ làm xơ vữa động mạch. Khi động mạch bị xơ vữa thì lòng động mạch bị hẹp lại làm cho lượng máu đi qua khó khăn gây hạn chế lưu thông máu đến não. Các loại u não cũng gây nên chóng mặt, buồn nôn như u não, u tiểu não, u dây thần kinh số VIII.

Các nguyên nhân về mạch máu hoặc do khối u gây nên chóng mặt thường người ta xếp vào loại rối loạn tiền đình thuộc về trung ương. Ngoài ra chóng mặt ở người cao tuổi cũng có thể gặp do ngộ độc thực phẩm bởi hoá chất hoặc bởi vi khuẩn (vi khuẩn gây ngộ độc thịt có độc lực mạnh và tác động chủ yếu vào hệ thần kinh trung ương như Clostridium butulinum hoặc S. aureus) hoặc chóng mặt có thể có liên quan đến thời tiết chuyển mùa, stress liên tục…

Khi bị chóng mặt, người cao tuổi nên làm gì?

Khi bị chóng mặt thì người bệnh nên chọn tư thế nằm cho thích hợp (nghiêng trái hay nghiêng bên phải hoặc nằm ngửa), không nên gắng, gượng đi tiếp. Tránh thay đổi tư thế và nên tránh ánh sáng chói như ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn hoặc tránh tiếng động, ồn ào. Cần gọi cho người thân, người giúp việc biết tình trạng của mình để mọi người có thái độ xử lý thích hợp nhất (cho uống thuốc nếu đã biết bệnh từ trước và có sẵn thuốc mua theo đơn của bác sĩ hoặc cho đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất).

Khi bị chóng mặt dù chỉ mới thoáng qua cũng nên đi khám bệnh để được bác sĩ xác định bệnh và tình trạng bệnh, nhất thiết không được chủ quan. Tùy tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ khám về hệ thống tim mạch, hoặc chỉ định các xét nghiệm thích hợp, ví dụ xét nghiệm máu lúc đói để biết chỉ số cholesterol hoặc siêu âm tim, điện tim…Nếu nghi là xơ vữa động mạch hoặc bệnh về tai, mũi, họng thì có thể nội soi động mạch hoặc nội soi tai, mũi, họng.

Nếu nghi là u não, những vấn đề về ốc tiền đình thì có thể chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… Từ đó giúp chẩn đoán chính xác nguyên nhân và có chỉ định dùng thuốc thích hợp.

Ngoài việc dùng thuốc, cần tập luyện thường xuyên, nhẹ nhàng nhưng đúng động tác, ví dụ tập đốt sống cổ cần quay trái, quay phải, ngả đầu về sau, cúi đầu xuống, phải thực hiện các động tác một cách từ từ không vội vàng, mỗi lần tập như vậy cũng chỉ kéo dài từ 5-10 phút, không nên tập kéo dài thời gian…

Nếu chóng mặt bởi rối loạn tuần hoàn não do tăng mỡ máu hay do tăng huyết áp cần lưu ý thay vì ăn mỡ động vật bằng ăn dầu thực vật nhưng cũng ở trong giới hạn cho phép, không nên lạm dụng và không nên dùng loại dầu rán đã qua sử dụng nhiều lần. Nếu bị tăng huyết áp thì việc sử dụng thuốc phải thường xuyên, dùng loại thuốc nào, liều lượng bao nhiêu phải do thầy thuốc chỉ định và luôn được kiểm tra huyết áp (tốt nhất là kiểm tra hằng ngày với người biết đo huyết áp và máy đo chuẩn).

BS. Bùi Mai Hương -  Sức khỏe đời sống

Người cao tuổi chớ chủ quan với chứng chóng mặt

Chóng mặt là một loại triệu chứng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở người cao tuổi (NCT) chiếm tỷ lệ cao hơn và nguy hiểm hơn. Chóng mặt thường có kèm theo một số triệu chứng khác như quay cuồng, hoa mắt, ù tai gây rất khó chịu cho người bệnh và rất dễ tái phát. Chóng mặt ở NCT có thể biểu hiện ở nhiều tư thế khác nhau nhưng hay gặp nhất là khi đang nằm xuất hiện chóng mặt, đặc biệt là khi thay đối tư thế (đang nằm ngửa chuyển sang nằm nghiêng trái hoặc nghiêng phải). Có nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó chóng mặt liên quan đến tiền đình, thiếu máu não là một triệu chứng thường gặp.

Nguyên nhân gây nên chóng mặt ở NCT

Nguyên nhân hay gặp nhất trong chóng mặt ở NCT là xuất phát từ dây thần kinh tiền đình. Tiền đình là vùng nằm sau ốc tai, là một hệ thống có vai trò quan trọng trong duy trì tư thế, dáng bộ, điều hoà, phối hợp cử động mắt, đầu, phản xạ các cơ và vận động thân mình  nói chung. Vì vậy, khi tiền đình bị ảnh hưởng do bất kỳ một nguyên nhân nào cũng có thể sẽ gây rối loạn thăng bằng, rung giật nhãn cầu, chóng mặt, buồn nôn hoặc nôn thực sự. Những tổn thương như chấn thương vùng đầu, viêm mê đạo của vùng ốc tai, do tắc mạch máu não vùng sau cổ (tắc, hẹp) hoặc  hội chứng Menière đều có gây triệu chứng chóng mặt (hội chứng Menière gồm có chóng mặt, ù tai,  giảm thính lực). Người ta còn đề cập đến nguyên nhân tổn thương tiền đình do nhiễm khuẩn gây viêm tiền đình hoặc chấn thương gây vỡ xương đá. Một nguyên nhân gặp khá nhiều gây chóng mặt ở NCT là rối loạn vận mạch do hệ thống mạch máu (động mạch cung cấp máu cho vùng tiểu não bị ảnh hưởng  hoặc do lượng máu đến ít đi hoặc mạch máu bị tắc, nghẽn do xơ vữa động mạch) như động mạch cột sống thân nền. Nguyên nhân của xơ vữa thành động mạch thì có nhiều nhưng do tăng mỡ trong máu mà đặc biệt là bệnh tăng huyết áp. Tăng lượng cholesterol máu nhất là tăng loại cholesterol xấu có nguy cơ làm xơ vữa động mạch. Khi động mạch bị xơ vữa thì lòng động mạch bị hẹp lại làm cho lượng máu đi qua khó khăn gây hạn chế lưu thông máu đến não. Các loại u não cũng gây nên chóng mặt, buồn nôn như u não, u tiểu não, u dây thần kinh số VIII. Các nguyên nhân về mạch  máu hoặc do khối u gây nên chóng mặt thường người ta xếp vào loại rối loạn tiền đình thuộc về trung ương. Ngoài ra chóng mặt ở NCT cũng có thể gặp do ngộ độc thực phẩm bởi hoá chất hoặc bởi vi khuẩn (vi khuẩn gây ngộ độc thịt có độc lực mạnh và tác động chủ yếu vào hệ thần kinh trung ương như Clostridium butulinum hoặc S. aureus)  hoặc chóng mặt có thể có liên quan đến thời tiết chuyển mùa, stress liên tục…

Khi  bị chóng mặt, NCT nên làm gì?

Khi bị chóng mặt thì người bệnh nên chọn tư thế nằm cho thích hợp (nghiêng trái hay nghiêng bên phải hoặc nằm ngửa), không nên gắng, gượng đi tiếp. Tránh thay đổi tư thế và nên tránh ánh sáng chói như ánh sáng mặt trời, ánh sáng đèn hoặc tránh tiếng động, ồn ào. Cần gọi cho người thân, người giúp việc biết tình trạng của mình để mọi người có thái độ xử lý thích hợp nhất (cho uống thuốc nếu đã biết bệnh từ trước và có sẵn thuốc mua theo đơn của bác sĩ hoặc cho đi khám bệnh ở cơ sở y tế gần nhất). Khi bị chóng mặt dù chỉ mới thoáng qua cũng nên đi khám bệnh để được bác sĩ xác định bệnh và tình trạng bệnh, nhất thiết không được chủ quan. Tùy tình trạng bệnh mà bác sĩ sẽ khám về hệ thống tim mạch, hoặc chỉ định các xét nghiệm thích hợp, ví dụ xét nghiệm máu lúc đói để biết chỉ số cholesterol hoặc siêu âm tim, điện tim…Nếu nghi là xơ vữa động mạch hoặc bệnh về tai, mũi, họng thì có thể nội soi động mạch hoặc nội soi tai, mũi, họng. Nếu nghi là u não, những vấn đề về ốc tiền đình thì có thể chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ… Từ đó giúp chẩn đoán chính xác nguyên nhân và có chỉ định dùng thuốc thích hợp. Ngoài việc dùng thuốc, cần tập luyện thường xuyên, nhẹ nhàng nhưng đúng động tác, ví dụ tập đốt sống cổ cần quay trái, quay phải, ngả đầu về sau, cúi đầu xuống, phải thực hiện các động tác một cách từ từ không vội vàng, mỗi lần tập như vậy cũng chỉ kéo dài từ 5-10 phút, không nên tập kéo dài thời gian… Nếu chóng mặt bởi rối loạn tuần hoàn não do tăng mỡ máu hay do tăng huyết áp cần lưu ý thay vì ăn  mỡ động vật bằng ăn dầu thực vật nhưng cũng ở trong giới hạn cho phép, không nên lạm dụng và không nên dùng loại dầu rán đã qua sử dụng nhiều lần. Nếu bị tăng huyết áp thì việc sử dụng thuốc phải thường xuyên, dùng loại thuốc nào, liều lượng bao nhiêu phải do thầy thuốc chỉ định và luôn được kiểm tra huyết áp (tốt nhất là kiểm tra hằng ngày với người biết đo huyết áp và máy đo chuẩn).

Theo: SK&ĐS