Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012
Giải toả khó chịu trước kỳ kinh
Cương tức vú, mệt mỏi, trầm cảm, bực bội… Dù chỉ hay xảy ra vài ngày trước khi hành kinh nhưng các triệu chứng rối loạn này ảnh hưởng khá nhiều tới cuộc sống người phụ nữ. Dù được các nhà chuyên môn quan tâm nghiên cứu từ đầu những năm 30 song cho tới nay, hội chứng này vẫn còn khá bí ẩn.
Không phải phụ nữ nào cũng mắc hội chứng rối loạn trước kỳ kinh. Từ 20-50% phụ nữ Pháp cảm thấy khó ở trước ngày hành kinh. Nhưng chỉ 3-10% trong số họ thực sự bị hội chứng rối loạn trước kỳ kinh.
Một đặc điểm của hội chứng rối loạn trước kỳ kinh là nó xảy ra theo một chu kỳ, thường là từ một đến hai tuần trước ngày thấy tháng. Sau đó, các triệu chứng tạm thời suy giảm trong vòng một tuần. Chỉ được coi là hội chứng trước kỳ kinh nếu các triệu chứng diễn ra liên tục, qua nhiều chu kỳ kinh nguyệt.
Triệu chứng
Các biểu hiện của hội chứng rối loạn trước kì kinh rất đa dạng. Thường thì thầy thuốc rất khó chẩn đoán bệnh, và nhiều khi miêu tả của người bệnh cũng không rõ ràng.
Những triệu chứng đầu tiên thường xuất hiện ở độ tuổi từ 20-40. Người ta có thể thống kê tới 100 triệu chứng, nhưng có 3 biểu hiện thường gặp nhất.
- Cương vú: vú to lên, cứng hơn, cực kỳ nhạy cảm và đau.
- Rối loạn tâm thần- thần kinh: có những biểu hiện trầm cảm, tinh thần bất ổn, đau đầu, dễ nổi cáu, mệt mỏi, mất ngủ, và chán ăn.
- Rối loạn đường tiêu hoá: trướng bụng, nôn nao, ỉa chảy, táo bón.
Cơ chế bí ẩn
Thăm khám cơ thể hoặc thử máu không cho phép chẩn đoán hội chứng trước kỳ kinh. Các bác sĩ đã đề nghị bệnh nhân của họ ghi lại các triệu chứng và quá trình biến chuyển của chúng trong ngày, qua nhiều kỳ kinh. Tuy vậy bác sĩ vẫn chỉ dừng lại ở việc đưa ra các giả thiết về nguyên nhân của hội chứng này.
- Nguyên nhân nội tiết.
- Nguyên nhân di truyền.
- Nguyên nhân dị ứng (với một số hormone).
- Do cơ chế trao đổi chất.
- Thiếu hụt một số vitamin và chất khoáng.
Rất có thể, người phụ nữ bị hội chứng rối loạn là do cơ thể họ phản ứng với một số thay đổi ở hormone liên quan đến kỳ kinh. Những người phụ nữ có thần kinh nhạy cảm dễ gặp phải vấn đề hơn những người khác.
Chữa trị
Các bác sĩ khuyên phụ nữ trước khi dùng thuốc hãy thử một số biện pháp nhẹ nhàng như sau.
Ăn uống hợp lý và kiểm soát tốt hơn tình cảm:
Đầu tiên, hãy ăn uống một cách hợp lý. Tránh các thức ăn mặn, bởi muối bắt cơ thể trữ nước. Không nên uống nhiều cà phê và trà bởi những thức uống này dễ gây căng thẳng thần kinh. Đường và đồ uống ngọt cũng là những thứ nên tránh.
Bạn cũng nên bỏ thuốc và rượu vì những thứ này gây cảm giác nặng nề và những rối loạn tình cảm.
Theo một số bác sĩ, thức ăn giàu can xi, ma nhê và măng gan cũng có tác dụng trong việc giảm thiểu các triệu chứng rối loạn trước kỳ kinh. Một số các chuyên gia khác còn khuyên nên dùng thêm kẽm và vitamin B6 cũng như axít béo chưa no.
Cuối cùng, ngủ đủ giấc và chơi thể thao cũng có thể là những phương thuốc hiệu nghiệm.
Dùng thuốc hỗ trợ:
Thường thì phụ nữ chịu đựng được các rối loạn này, và không cần phải tới gặp bác sĩ. Nhưng đôi khi các khó chịu trước kỳ kinh gây trở ngại tới công việc và cuộc sống của họ. Trong trường hợp này, các bác sĩ khuyên dùng thuốc. Các bà các cô có thể dùng thuốc tránh thai để ngăn ngừa các rối loạn trước kỳ kinh. Hiệu quả của thuốc này vẫn đang trong quá trình nghiên cứu nhưng các nhà khoa học Mỹ đang chuẩn bị đưa ra thị trường một loại thuốc tránh thai dành riêng cho những phụ nữ có vấn đề khi chuẩn bị hành kinh.
(Quỳnh Anh)
Các bệnh ngoài da thường gặp trong kỳ kinh nguyệt
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.
Kinh nguyệt: Thời kỳ đặc biệt
Thời kỳ kinh nguyệt là đặc điểm sinh lý đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người phụ nữ. Mỗi người có chu kỳ khác nhau, có chu kỳ từ: khoảng 25-32 ngày, trung bình 28 ngày.
Do sự biến đổi của niêm mạc tử cung dưới tác động của các hormon buồng trứng estrogene và progesterone. Hiện tượng hành kinh kéo dài khoảng 3-5 ngày, lượng máu mất trung bình khoảng 80ml.
Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng. Ảnh minh họa (Nguồn:Tuổi trẻ)
Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.
Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng.
Bên cạnh đó băng vệ sinh không thích hợp, quần lót dày, thô ráp dễ gây dị ứng, ngứa vùng kín.
Các bệnh ngoài da trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ gây ảnh hưởng đến người phụ nữ.
- Tâm lý khó chịu, mệt mỏi, lại thêm tình trạng đau, ngứa, rát làm chị em dễ bị kích động, bứt rứt, lo lắng, mất tập trung, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc.
- Sinh hoạt tình dục: không thoải mái.
- Sức khoẻ sinh sản: đau, viêm nhiễm nếu nặng có thể để lại di chứng.
Các bệnh ngoài da thường gặp:
Mề đay
- Xuất hiện theo chu kỳ kinh: do nguyên nhân nội tiết, hay vì dùng thuốc kháng viêm để giảm đau bụng, hoặc do dị ứng sản phẩm vệ sinh sử dụng trong kỳ kinh.
- Triệu chứng: hồng ban, sẩn phù hình tròn hay bầu dục lan rộng dần, ngứa.
- Tiến triển có chu kỳ: Sau khoảng vài giờ sẩn mờ dần, xẹp và biến mất, sau đó xuất hiện trở lại.
Viêm da tiếp xúc
Gồm viêm da dị ứng và viêm da kích thích.
Viêm da tiếp xúc (chàm tiếp xúc): do tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây dị ứng.
Ở vùng sinh dục, trong thời kỳ kinh nguyệt, viêm da tiếp xúc do: băng vệ sinh (dày hoặc thô nhám, chất liệu dễ gây kích ứng), bao cao su, màng tránh thai ở nữ, nước hoa…
Phân biệt viêm da kích thích và viêm da dị ứng.
- Viêm da dị ứng: Có tính di truyền; chỉ xảy ra trên một số người có cơ địa đặc biệt. Viêm da bộc phát khi tiếp xúc với dị ứng nguyên: quần lót, băng vệ sinh, kem thoa, màng tránh thai, nước hoa… Triệu chứng xảy ra nhanh, 12-48 giờ sau tiếp xúc; gồm: hồng ban, sưng phù, mụn nước, mài, ngứa… Các tổn thương giới hạn rõ, mang hình ảnh vật tiếp xúc.
- Viêm da kích thích: Mọi người đều có nguy cơ bị viêm da kích thích. Nguyên nhân do thay đổi tính chất sinh lý, sinh hóa của thượng bì, không liên quan cơ chế miễn dịch.
Tác nhân gây bệnh: chất kích thích da (dung môi hữu cơ, hoạt chất tẩy rửa, các loại xà phòng mạnh, chất liệu bông, giấy thấm trong băng vệ sinh…) Khi da tổn thương, dù tiếp xúc với một chất kích thích yếu cũng gây ra viêm. Độ nặng nhẹ của viêm da liên quan đến nồng độ chất kích thích và thời gian tiếp xúc.
Triệu chứng của viêm da kích thích khởi phát chậm, khi lớp thượng bì tổn thương. Da khô, nứt, có hồng ban. Tiếp xúc lâu dài có thể gây chàm: hồng ban, mụn nước, mài, trợt, dày da, ngứa.
Chất kích thích mạnh có thể gây phản ứng viêm da cấp tính: hồng ban, trợt, chảy nước, rất ngứa.
Nấm da
- Nấm bẹn, nấm mông là những loại nấm rất thường gặp. Tác nhân gây bệnh là nấm sợi tơ, dễ phát triển trong điều kiện môi trường nóng và ẩm.
Tổn thương thường tạo thành một mảng có viền bờ rõ rệt, có vảy, phần giữa có xu hướng lành, có mụn nhỏ lấm tấm ở bờ viền. Đám tổn thương có màu sẫm, đường kính vài cm, bờ mép có ranh giới rõ rệt và hơi gồ lên.
Tổn thương thường xuất hiện ở cả hai bên bẹn, lan lên xương mu, ra kẽ mông, xuống đùi, lên thắt lưng,… gây ngứa.
Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida. Trong ảnh: Nấm Candida (Ảnh: medicinfo.hu)
- Nấm Candida: Ký sinh ở một số cơ quan tiêu hoá, hô hấp và trên da, nấm Candida khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trở thành tác nhân gây bệnh, đặc biệt loài Candida albicans.
Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida.
Nấm Candida có thể gây ra các tổn thương như:Cảm giác ngứa, rát bỏng; âm hộ đỏ, bóng, phủ chất nhầy trắng đục. Tiểu buốt, giao hợp đau; âm đạo đỏ tươi, có chất nhầy màu kem, có huyết trắng lẫn mủ
Nhiễm trùng da
- Do ngứa gây khó chịu nên cào gãi hoặc tiếp xúc với quần , băng vệ sinh thô ráp làm trầy xước da.
- Lớp thượng bì tổn thương gây nhiễm khuẩn.
- Vi khuẩn gây bệnh: vi trùng thường sinh mủ như Streptococci, Staphylococci, …
- Triệu chứng: đau, rát. Da viêm đỏ vùng đùi, bẹn 2 bên.
- Có khi nặng thấy sưng, có mụn mủ làm khó đi lại.
Viêm nhiễm phụ khoa do vi trùng, siêu vi
- Viêm âm hộ do tạp khuẩn không đặc hiệu: Tác nhân gây bệnh đa dạng như Streptococci, Staphylococci, Escherichia, Diphteroid… Triệu chứng viêm tại chỗ và huyết trắng khó nhận biết Đôi khi có viêm âm đạo.
- Herpes sinh dục: do siêu vi, hay tái phát khi có điều kiện thuận lợi. Ở một số phụ nữ, kinh nguyệt là yếu tố khởi phát. Triệu chứng: vùng sinh dục xuất hiện một hay một nhóm mụn nước nhỏ, nhanh chóng vỡ thành vết loét sau 2-4 ngày.
Phòng ngừa
- Sạch sẽ, giữ vệ sinh, tắm rửa thường xuyên. Rửa và thay băng vệ sinh thường xuyên mỗi 4 giờ – 6 giờ.
- Chọn loại băng vệ sinh có độ thấm hút cao, chất liệu mềm mại, thông thoáng, ít gây kích ứng
- Quần áo phải thay giặt, phơi khô ráo, sạch sẽ. Nên dùng loại mềm, mát, rút mồ hôi.
- Khi có triệu chứng ngứa, đau cần tránh cào gãi hay tự ý thoa, uống thuốc vì dễ làm bệnh nặng thêm.
- Tránh giao hợp trong những ngày này vì người phụ nữ thường mệt mỏi, đồng thời dễ gây xuất huyết hay nhiễm trùng.
Thời kỳ kinh nguyệt: giai đoạn nhạy cảm của người phụ nữ. Do những thay đổi về sinh lý đặc biệt nên cần quan tâm bảo vệ sức khoẻ để phòng tránh những bệnh lý ngoài da có thể gây nguy hiểm.
ThS.BS Trần Ngọc Anh
Có nên chọn ngày, giờ để sinh con?
| Sinh mổ mang lại nhiều nguy cơ cho mẹ và con. |
Ngày càng có nhiều sản phụ chọn phương pháp sinh mổ, họ quan niệm rằng việc phẫu thuật giúp họ lựa chọn được ngày sinh, tháng đẻ, giờ sinh và cả bác sĩ mát tay và số giường, số phòng… để sinh con quý tử, hợp với bố mẹ… Yếu tố tâm linh là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều sản phụ chọn phương pháp phẫu thuật thay vì sinh đẻ tự nhiên. Nhưng có thật sự là ai sinh vào ngày, giờ “vàng” cũng tốt không? Và việc chọn ngày, giờ để sinh con có những ảnh hưởng như thế nào đến thai phụ và thai nhi?
Những con số đáng báo động
Theo nghiên cứu mới đây của nhóm bác sĩ Bệnh viện phụ sản TƯ và Trường Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mổ lấy thai ở nước ta đang có xu hướng tăng dần. Hiện, tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản TƯ là gần 41%, Bệnh viện phụ sản Hà Nội là hơn 43%. Trong số 423 bà mẹ (ở hai quận Hoàn Kiếm, Gia Lâm) tham gia nghiên cứu, có 30,3% bà mẹ mổ lấy thai, trong đó, 14% muốn mổ lấy thai để chọn được ngày, giờ sinh tốt cho đứa trẻ và 16,7% là do chịu sự tác động từ phía gia đình…
Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thời điểm tỷ lệ mổ đẻ chiếm tới 60% các ca sinh nở.
Con số thấp hơn, như ở Bệnh viện TP Hồ Chí Minh các ca mổ đẻ cũng chiếm trên 30%. Tại Bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ này cũng trên 40% ca mổ đẻ. Trong khi đó, mức trung bình trên thế giới chỉ chiếm trên 10% tổng số các ca sinh.
Nhiều nguy cơ cho mẹ và con
Theo các bác sĩ, có thể tiến hành các ca mổ đẻ trước từ mấy tuần tuổi, miễn sao đảm bảo theo tiêu chuẩn, chỉ định của ngành y tế. Nhưng việc can thiệp thai nhi sớm, chắc chắn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của bào thai cũng như đứa trẻ sau này và cả người mẹ nữa.Theo đó, dù nguyên nhân nào thì việc đứa trẻ chào đời do không được ra bằng đường tự nhiên (trẻ không đi qua ống âm đạo, phổi không bị ép để tống xuất các chất dịch) nên dạ dày và phổi có thể vẫn còn nước ối. Sự tồn ứ dịch trong phổi trẻ làm tăng nguy cơ suy hô hấp, gây bệnh màng trong.
Đây là các bệnh lý rất nặng ở trẻ sơ sinh, việc điều trị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Ngoài ra, sự chuyển dạ của người mẹ sẽ sản sinh ra nhiều hormon giúp trẻ đề kháng tốt. Những trẻ sinh mổ không trải qua quá trình này sẽ thiếu những hormon cần thiết nên thường yếu hơn những trẻ sinh thường.
Việc sinh mổ còn có thể dẫn đến những biến chứng cho người mẹ trong lần mang thai sau, nhất là nguy cơ chửa ngoài dạ con, vỡ tử cung ở mẹ, nhau thai bám vào vết mổ cũ… rồi lần sinh con sau hầu như đều phải mổ, quá trình mang thai sau cũng phải theo dõi sát sao, căng thẳng hơn.
Vì vậy, trước khi đề nghị chọn ngày giờ sinh mổ, sản phụ cần tìm hiểu kỹ những ích lợi và tác hại của nó, lắng nghe những tư vấn của bác sĩ. Nếu bác sĩ không chỉ định mổ lấy thai, sản phụ nên sinh con theo cách tự nhiên. Bác sĩ sẽ chỉ định cho sinh mổ trong một số trường hợp như: thai quá to, người mẹ có bệnh nhiễm khuẩn có thể gây lây nhiễm cho bé trong khi sinh thường hay dị tật về cơ thể, mẹ mang thai nhiều bé cùng một lúc, trẻ bị tràng hoa quấn cổ có nguy cơ tử vong, thai ngược…