Những món ăn chữa thiếu sữa sau khi sinh
Trẻ mới ra đời rất cần nguồn dinh dưỡng từ sữa mẹ. Nhưng nhiều bà mẹ lại không đủ sữa cho con bú hoặc sữa mẹ loãng. Nguyên nhân thiếu sữa ở sản phụ là do khí hư huyết yếu – nghĩa là cơ thể người phụ nữ vốn đã có khí hư, huyết ít, đến khi sinh, huyết bị mất nhiều, khí bị hao, khí huyết đều suy, hoặc tỳ vị hư yếu, khí huyết sinh hóa bất túc khiến cho khí huyết hư yếu không tạo ra được sữa; hoặc do tinh thần căng thẳng, lo lắng buồn chán hoặc một số trường hợp do cảm nhiễm, làm cho sản phụ không có sữa hoặc có ít sữa. Xin giới thiệu một số món ăn tốt cho sản phụ để có nguồn sữa dồi dào cho em bé lại vừa đủ chất dinh dưỡng và dễ tiêu hoá.
Cháo móng giò lợn: móng giò lợn 2 cái (250 – 300g), gạo ngon 150g, lạc nhân 50g, đu đủ non 30g, mắm muối vừa đủ.
Móng giò lợn đem nướng vàng, cạo sạch, chặt vừa miếng, ướp mắm muối đem xào chín. Cho tất cả nguyên liệu vào nồi thêm nước (vừa đủ) ninh nhừ. Khi cháo chín chia 2 lần ăn trong ngày. Ăn liền 3 – 5 ngày (sau đẻ từ 3 – 5 ngày mới nên ăn).
Cháo lạc: lạc nhân 50g, gạo tẻ ngon 150g, quả mít non 30g, đường phèn.
Quả mít non rửa sạch giã nhỏ. Lạc nhân, gạo tẻ ngon xay thành bột, cho vào nồi thêm 300ml nước, đun trên lửa nhỏ. Khi cháo chín cho mít non, đường phèn vào quấy đều, đun tiếp, khi đường tan hết là được. Ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 ngày.
Cháo kê: kê 250g, thịt gà nạc 100g, đường trắng 30g.
Thịt gà bỏ da, xé nhỏ. Kê bỏ vỏ giã dập cho vào nồi thêm 300ml nước đun cho kê chín nhừ, cho thịt gà và đường vào quấy đều đun tiếp, cháo sôi lại một lúc là được. Ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
Cháo thỏ: đầu thỏ 1 cái, gạo 100g, vừng đen 50g, bột ngọt, bột gia vị vừa đủ. Vừng đen bỏ vỏ, đầu thỏ làm sạch cùng với gạo cho vào nồi thêm đủ nước hầm thật kỹ cho nhừ. Khi cháo chín cho bột ngọt, bột gia vị vào quấy đều, cháo sôi lại là được. Ăn ngày 1 lần lúc đói, cần ăn liền 2 – 3 ngày. Khi ăn đập xương sọ của thỏ lấy não của nó cho vào cháo quấy đều.
Cá chép hầm quả sung: cá chép 1 con (250 – 300g), quả sung non 50g, quả mít non 50g, rượu trắng 1 thìa canh, mắm muối vừa đủ.
Cá chép làm sạch, đem ướp mắm muối và rượu. Quả sung, quả mít non rửa sạch giã nhỏ chia đôi, một nửa rải ở đáy bát to, đặt cá lên và rải tiếp nửa còn lại lên cá, đem hấp cách thuỷ. Cá chín cho sản phụ ăn, ngày 1 lần, cần ăn 2 – 3 ngày.
Củ mài hầm thịt lợn: củ mài tươi 100g, lạc nhân 50g, thịt chân giò lợn 150g, mắm muối vừa đủ. Thịt chân giò lợn rửa sạch thái vừa miếng, ướp mắm muối xào chín tới. Củ mài bỏ vỏ rửa sạch thái miếng. Lạc nhân để cả vỏ giã dập. Tất cả cho vào nồi thêm nước vừa đủ hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 2 lần lúc đói, cần ăn liền 5 – 7 ngày.
Thịt lợn nạc hầm hạt mít: thịt lợn nạc 300g, hạt mít 300g, mắm muối vừa đủ. Thịt lợn nạc rửa sạch thái miếng ướp mắm muối xào chín tới. Hạt mít bỏ vỏ giã dập cùng thịt lợn nạc cho vào nồi thêm nước vừa đủ, hầm nhừ. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Chân lợn hầm đậu phụ: chân lợn 300g, đậu phụ 200g, mắm muối vừa đủ. Chân lợn đem nướng vàng làm sạch, chặt vừa miếng ướp mắm muối, thêm nước cho vừa đem hầm nhừ, trước khi ăn cho đậu phụ vào đun sôi 3 phút là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần, cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Rau cải cúc thịt lợn nạc hấp cách thuỷ: rau cải cúc 300g, thịt lợn nạc 150g, lạc nhân 50g, mắm muối vừa đủ.
Rau cải cúc nhặt rửa sạch. Lạc nhân giã nhỏ. Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ trộn với lạc, mắm muối, viên thành viên bằng quả táo. Dùng bát to, đặt lớp cải cúc ở đáy bát, sau đó cho thịt vào, trên cùng lại rải lớp cải cúc, đem hấp cách thuỷ, khi chín chia làm 2 lần ăn với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Canh rau diếp: rau diếp 300g, tôm tươi 150g, mắm muối vừa đủ.
Rau diếp nhặt rửa sạch, thái nhỏ. Tôm làm sạch bóc vỏ, bỏ càng, thái mỏng. Vỏ và càng tôm giã nhỏ, đổ nước lọc lấy 300ml (như lọc cua). Cho mắm muối vào nước tôm quấy đều rồi đun, khi sôi cho thịt tôm, đun tiếp cho đến khi canh sôi lại cho rau diếp đảo đều. Canh sôi là được. Sản phụ ăn ngày 1 lần với cơm. Cần ăn liền 3 – 5 ngày.
Ngoài ra, người mẹ cần được nghỉ ngơi nhiều, cần sự động viên, quan tâm chăm sóc của người thân trong gia đình, tránh mọi căng thẳng vì sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình tạo sữa. Sản phụ không nên kiêng khem quá mức, nên ăn đa dạng thực phẩm bổ dưỡng, kiêng các đồ sống lạnh như hải sản, các chất tanh như cua, sò, ốc, hến, trai, cá mè; hạn chế các gia vị cay nóng như ớt, hạt tiêu… và các chất kích thích như chè, cà phê…
Lương y Đình Thuấn (SK& Đ S)
Các bệnh ngoài da thường gặp trong kỳ kinh nguyệt
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.
Kinh nguyệt: Thời kỳ đặc biệt
Thời kỳ kinh nguyệt là đặc điểm sinh lý đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người phụ nữ. Mỗi người có chu kỳ khác nhau, có chu kỳ từ: khoảng 25-32 ngày, trung bình 28 ngày.
Do sự biến đổi của niêm mạc tử cung dưới tác động của các hormon buồng trứng estrogene và progesterone. Hiện tượng hành kinh kéo dài khoảng 3-5 ngày, lượng máu mất trung bình khoảng 80ml.
Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng. Ảnh minh họa (Nguồn:Tuổi trẻ)
Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.
Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng.
Bên cạnh đó băng vệ sinh không thích hợp, quần lót dày, thô ráp dễ gây dị ứng, ngứa vùng kín.
Các bệnh ngoài da trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ gây ảnh hưởng đến người phụ nữ.
- Tâm lý khó chịu, mệt mỏi, lại thêm tình trạng đau, ngứa, rát làm chị em dễ bị kích động, bứt rứt, lo lắng, mất tập trung, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc.
- Sinh hoạt tình dục: không thoải mái.
- Sức khoẻ sinh sản: đau, viêm nhiễm nếu nặng có thể để lại di chứng.
Các bệnh ngoài da thường gặp:
Mề đay
- Xuất hiện theo chu kỳ kinh: do nguyên nhân nội tiết, hay vì dùng thuốc kháng viêm để giảm đau bụng, hoặc do dị ứng sản phẩm vệ sinh sử dụng trong kỳ kinh.
- Triệu chứng: hồng ban, sẩn phù hình tròn hay bầu dục lan rộng dần, ngứa.
- Tiến triển có chu kỳ: Sau khoảng vài giờ sẩn mờ dần, xẹp và biến mất, sau đó xuất hiện trở lại.
Viêm da tiếp xúc
Gồm viêm da dị ứng và viêm da kích thích.
Viêm da tiếp xúc (chàm tiếp xúc): do tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây dị ứng.
Ở vùng sinh dục, trong thời kỳ kinh nguyệt, viêm da tiếp xúc do: băng vệ sinh (dày hoặc thô nhám, chất liệu dễ gây kích ứng), bao cao su, màng tránh thai ở nữ, nước hoa…
Phân biệt viêm da kích thích và viêm da dị ứng.
- Viêm da dị ứng: Có tính di truyền; chỉ xảy ra trên một số người có cơ địa đặc biệt. Viêm da bộc phát khi tiếp xúc với dị ứng nguyên: quần lót, băng vệ sinh, kem thoa, màng tránh thai, nước hoa… Triệu chứng xảy ra nhanh, 12-48 giờ sau tiếp xúc; gồm: hồng ban, sưng phù, mụn nước, mài, ngứa… Các tổn thương giới hạn rõ, mang hình ảnh vật tiếp xúc.
- Viêm da kích thích: Mọi người đều có nguy cơ bị viêm da kích thích. Nguyên nhân do thay đổi tính chất sinh lý, sinh hóa của thượng bì, không liên quan cơ chế miễn dịch.
Tác nhân gây bệnh: chất kích thích da (dung môi hữu cơ, hoạt chất tẩy rửa, các loại xà phòng mạnh, chất liệu bông, giấy thấm trong băng vệ sinh…) Khi da tổn thương, dù tiếp xúc với một chất kích thích yếu cũng gây ra viêm. Độ nặng nhẹ của viêm da liên quan đến nồng độ chất kích thích và thời gian tiếp xúc.
Triệu chứng của viêm da kích thích khởi phát chậm, khi lớp thượng bì tổn thương. Da khô, nứt, có hồng ban. Tiếp xúc lâu dài có thể gây chàm: hồng ban, mụn nước, mài, trợt, dày da, ngứa.
Chất kích thích mạnh có thể gây phản ứng viêm da cấp tính: hồng ban, trợt, chảy nước, rất ngứa.
Nấm da
- Nấm bẹn, nấm mông là những loại nấm rất thường gặp. Tác nhân gây bệnh là nấm sợi tơ, dễ phát triển trong điều kiện môi trường nóng và ẩm.
Tổn thương thường tạo thành một mảng có viền bờ rõ rệt, có vảy, phần giữa có xu hướng lành, có mụn nhỏ lấm tấm ở bờ viền. Đám tổn thương có màu sẫm, đường kính vài cm, bờ mép có ranh giới rõ rệt và hơi gồ lên.
Tổn thương thường xuất hiện ở cả hai bên bẹn, lan lên xương mu, ra kẽ mông, xuống đùi, lên thắt lưng,… gây ngứa.
Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida. Trong ảnh: Nấm Candida (Ảnh: medicinfo.hu)
- Nấm Candida: Ký sinh ở một số cơ quan tiêu hoá, hô hấp và trên da, nấm Candida khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trở thành tác nhân gây bệnh, đặc biệt loài Candida albicans.
Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida.
Nấm Candida có thể gây ra các tổn thương như:Cảm giác ngứa, rát bỏng; âm hộ đỏ, bóng, phủ chất nhầy trắng đục. Tiểu buốt, giao hợp đau; âm đạo đỏ tươi, có chất nhầy màu kem, có huyết trắng lẫn mủ
Nhiễm trùng da
- Do ngứa gây khó chịu nên cào gãi hoặc tiếp xúc với quần , băng vệ sinh thô ráp làm trầy xước da.
- Lớp thượng bì tổn thương gây nhiễm khuẩn.
- Vi khuẩn gây bệnh: vi trùng thường sinh mủ như Streptococci, Staphylococci, …
- Triệu chứng: đau, rát. Da viêm đỏ vùng đùi, bẹn 2 bên.
- Có khi nặng thấy sưng, có mụn mủ làm khó đi lại.
Viêm nhiễm phụ khoa do vi trùng, siêu vi
- Viêm âm hộ do tạp khuẩn không đặc hiệu: Tác nhân gây bệnh đa dạng như Streptococci, Staphylococci, Escherichia, Diphteroid… Triệu chứng viêm tại chỗ và huyết trắng khó nhận biết Đôi khi có viêm âm đạo.
- Herpes sinh dục: do siêu vi, hay tái phát khi có điều kiện thuận lợi. Ở một số phụ nữ, kinh nguyệt là yếu tố khởi phát. Triệu chứng: vùng sinh dục xuất hiện một hay một nhóm mụn nước nhỏ, nhanh chóng vỡ thành vết loét sau 2-4 ngày.
Phòng ngừa
- Sạch sẽ, giữ vệ sinh, tắm rửa thường xuyên. Rửa và thay băng vệ sinh thường xuyên mỗi 4 giờ – 6 giờ.
- Chọn loại băng vệ sinh có độ thấm hút cao, chất liệu mềm mại, thông thoáng, ít gây kích ứng
- Quần áo phải thay giặt, phơi khô ráo, sạch sẽ. Nên dùng loại mềm, mát, rút mồ hôi.
- Khi có triệu chứng ngứa, đau cần tránh cào gãi hay tự ý thoa, uống thuốc vì dễ làm bệnh nặng thêm.
- Tránh giao hợp trong những ngày này vì người phụ nữ thường mệt mỏi, đồng thời dễ gây xuất huyết hay nhiễm trùng.
Thời kỳ kinh nguyệt: giai đoạn nhạy cảm của người phụ nữ. Do những thay đổi về sinh lý đặc biệt nên cần quan tâm bảo vệ sức khoẻ để phòng tránh những bệnh lý ngoài da có thể gây nguy hiểm.
ThS.BS Trần Ngọc Anh
Chứng đau bụng kinh ở phụ nữ
Khái niệm đau bụng hành kinh được dùng để chỉ một loạt triệu chứng của phụ nữ trước, sau hoặc đang trong kỳ kinh nguyệt…
Bao gồm đau bụng dưới (có khi đau quằn quại và kéo dài), đau thắt lưng, bụng có cảm giác đầy hơi, hậu môn có những biểu hiện khó chịu như buồn đi ngoài… Người bị đau bụng kinh ở mức nhẹ thường không quan tâm lắm đến chứng này. Nhưng ở mức độ nghiêm trọng, chứng đau bụng kinh sẽ ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Ngoài đau bụng, một số người còn có các hiện tượng đau ngực, buồn nôn, ỉa chảy. Nếu hiện tượng này kéo dài, bệnh nhân phải uống thuốc điều trị. Khi đó, có thể coi nó là một triệu chứng bệnh.
1. Phân loại đau bụng hành kinh như thế nào?
Đau bụng hành kinh nhìn chung được phân làm hai loại: loại nguyên phát và loại thứ phát.
Loại nguyên phát (còn gọi là đau bụng hành kinh mang tính cơ năng): Người bệnh không phát hiện ra ở cơ quan sinh dục bất cứ biển đổi bệnh lý gì, nhưng vẫn bị đau bụng hành kinh. Hiện tượng này thường gặp ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn và chưa sinh con. Đau bụng kinh xuất hiện sau chu kỳ rụng trứng.
Ở loại đau bụng kinh thứ phát (còn gọi là đau bụng kinh mang tính khí chất), cơ quan sinh dục của người bệnh có nhiều thay đổi. Bệnh thường gặp ở những người bị bệnh phụ khoa như: lạc nội mạc tử cung, u dưới niêm mạc tử cung, tuyến cơ tử cung, cổ tử cung hẹp, dính khoang tử cung…
Chúng ta rất khó phân biệt rõ ràng hai loại đau bụng kể trên. Ví dụ như người bị đau bụng kinh nguyên phát sau nhiều năm sẽ có những thay đổi của cơ quan sinh dục, khiến cho hiện tượng đau bụng kinh ngày càng nặng; khi đó rất khó để phán đoán. Có trường hợp người bệnh được chẩn đoán là đau bụng kinh nguyên phát, nhưng thực tế họ bị mắc chứng lạc nội mạc tử cung ở mức nhẹ, khi kiểm tra soi ổ bụng mới phát hiện được là bị đau bụng kinh thứ phát.
Nói tóm lại, đau bụng kinh nguyên phát và thứ phát chỉ là hai dạng của thống kinh, giữa hai loại này nhiều lúc rất khó xác định chính xác bằng các biểu hiện lâm sàng.
2. Đau bụng hành kinh có phải là hiện tượng thường xảy ra không?
Đau bụng hành kinh đúng là một loại bệnh phụ khoa tương đối phổ biến. Từ trước đến nay, do cảm giác đau của mỗi người khác nhau, mức độ chịu đựng của mỗi người cũng khác nhau, hơn nữa lại thiếu phương pháp định lượng khách quan, chuẩn xác về mức độ của bệnh, nên tỷ lệ đau bụng hành kinh được thống kê của phụ nữ ở các nước có sự chênh lệch khá lớn.
Theo một số điều tra, năm 1980 ở Trung Quốc có 33% người bị đau bụng hành kinh trong số 72.000 phụ nữ được điều tra. Trong đó:
- 36% đau bụng kinh nguyên phát.
- 32% bị đau thứ phát.
- 32% không rõ nguyên nhân.
- 13,6% người bị ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt.
Năm 1982, Andersch và Milsom đưa ra báo cáo: Có đến 72% nữ thanh niên lứa tuổi 19 ở Thụy Điển bị đau bụng hành kinh, trong đó 15% dùng thuốc giảm đau. Năm 1985, ở Mỹ 50% phụ nữ sau tuổi dậy thì bị đau bụng kinh ở mức độ khác nhau, 10% vì đau bụng kinh mà mỗi tháng phải nghỉ một đến ba ngày. Từ đó có thể thấy, đau bụng kinh là chứng bệnh rất phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ dưới 19 tuổi.
3. Chứng đau bụng hành kinh liên quan đến những yếu tố gì?
Những nhân tố liên quan đến đau bụng hành kinh nguyên phát gồm:
- Thấy kinh lần đầu sớm hoặc muộn: Có điều tra cho thấy mức độ đau và tuổi thấy kinh lần đầu có liên quan đến nhau. Ở người thấy kinh lần đầu sớm, tỷ lệ đau bụng kinh cao, đồng thời mức độ đau cũng nghiêm trọng hơn.
- Hôn nhân và sinh đẻ: Giữa đau bụng kinh và việc kết hôn có liên quan với nhau hay không, hiện còn tồn tại hai quan điểm. Đại đa số cho rằng đau bụng hành kinh không liên quan gì đến hôn nhân. Nhưng không ít người cho rằng sau khi kết hôn, mức độ đau bụng hành kinh ở nhiều phụ nữ giảm hẳn. Điều này đang cần được nghiên cứu lâm sàng để đưa ra kết luận chính xác.
- Đau bụng hành kinh còn liên quan đến những nhân tố mệt mỏi kéo dài, căng thẳng, thời tiết lạnh hoặc cơ thể quá mẫn cảm.
Những nhân tố liên quan đến hiện tượng đau bụng hành kinh thứ phát:- Giữ vệ sinh không tốt trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và sau khi sinh, sinh hoạt tình dục quá sớm, quá nhiều dẫn đến chứng viêm tử cung.
- Nạo phá thai hay tác động vào khoang tử cung nhiều lần gây viêm dính nội mạc.
- Tránh thai: Đau bụng hành kinh và các phương pháp tránh thai có ảnh hưởng nhất định với nhau. Đặc biệt, phương pháp đặt vòng thường làm tăng mức độ đau bụng hành kinh. Thuốc tránh thai chứa progestagen có tác dụng làm lỏng cơ nhẵn của tử cung, giảm nhẹ triệu chứng đau bụng do co bóp. Uống thuốc tránh thai có thể giảm tỷ lệ và độ đau của đau bụng hành kinh.
- Ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt và độ dài ngắn của từng chu kỳ: Nhìn chung, độ nghiêm trọng của đau bụng hành kinh và độ dài ngắn của chu kỳ kinh nguyệt không có ảnh hưởng gì đến nhau. Nhưng do đau bụng kinh biểu hiện trong thời kỳ kinh nguyệt nên nếu thời gian hành kinh kéo dài thì thời gian đau bụng kinh cũng bị kéo dài theo.
- Một số nhân tố khác: Có ý kiến cho rằng người béo mập thường dễ bị đau bụng hành kinh; thói quen hút thuốc lá và đau bụng hành kinh luôn có tỷ lệ thuận.
4. Nguyên nhân và cơ chế gây đau bụng hành kinh:
Đây là một bệnh phụ khoa mà biểu hiện lâm sàng là đau bụng. Thực ra, nó là một chứng bệnh độc lập, nhưng do sự đau đớn có những biểu hiện đặc biệt nên người ta liệt nó vào hàng các bệnh phụ khoa.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau bụng hành kinh, biểu hiện của chúng rất khác nhau. Người bị u cơ dưới niêm mạc tử cung, người có cơ quan sinh dục cấu tạo không bình thường như cổ tử cung hẹp… đều có thể bị đau bụng hành kinh. Sự tồn tại của những vật lạ trong tử cung (như vòng tránh thai) cũng có thể kích thích tử cung, phát sinh sự đau đớn.
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến đau bụng hành kinh có thể quy về mấy phương diện sau:
- Sự co thắt quá độ của tử cung: Áp lực co thắt tử cung của người đau bụng hành kinh và người bình thường cơ bản là giống nhau. Nhưng do sự co thắt của tử cung duy trì trong thời gian khá dài, lại không dễ thả lỏng hoàn toàn, nên tử cung bị co thắt quá độ dẫn đến đau bụng hành kinh.
- Tử cung co thắt không bình thường, khiến cơ nhẵn tử cung bị thiếu máu, gây đến co thắt, thậm chí co rút cơ tử cung, từ đó xuất hiện đau bụng hành kinh. Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy, huyết áp cao là nhân tố quan trọng tạo thành sự co thắt không bình thường của tử cung.
- Hàm lượng chất prostaglandin (PG) trong máu kinh nguyệt và nội mạc tử cung tăng cao. Chất Prostaglandin E2 (PGE2) làm co thắt cơ tử cung. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh hàm lượng PG trong máu người đau bụng kinh cao hơn người bình thường. Trong một cơ thể, hàm lượng PGE2 và PGF2a cũng khác nhau, tỷ lệ GPF2a/PGE2 không tương đồng ở những khoảng thời gian khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt. Những kích thích đó có thể dẫn đến sự co thắt không bình thường của cơ tử cung, gây đau đớn.
Ở người bị chứng lạc nội mạc tử cung, quan hệ giữa chứng đau bụng hành kinh và hàm lượng PG càng rõ ràng. Hàm lượng PGF2a trong huyết thanh và dịch khoang bụng của họ cao hơn người không đau bụng hành kinh.
5. Đau bụng hành kinh nguyên phát có những đặc điểm lâm sàng nào?
Đau bụng hành kinh nguyên phát thường thấy ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn, chưa sinh con. Bệnh thường phát vào khoảng 1-2 năm sau khi có kinh lần đầu.
Hiện tượng đau bụng xuất hiện một thời gian ngắn trước ngày hành kinh hoặc trong ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt, kéo dài trong nhiều giờ, thậm chí 1-2 ngày. Cơn đau thường xảy ra ở bụng dưới và thắt lưng; hậu môn có cảm giác khó chịu. 50% người bệnh có một hoặc nhiều triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi, đau đầu, tiêu chảy, đi tiểu nhiều lần… Nếu đau nhiều, bệnh nhân sẽ toát mồ hôi, mặt mũi tái nhợt, tay chân lạnh ngắt, hạ đường huyết.
Sau khi người phụ nữ kết hôn, sinh nở hoặc khi tuổi đời nhiều lên, chứng đau bụng hành kinh có thể tự nhiên giảm đi hoặc mất hẳn.
Chẩn đoán và điều trị đau bụng hành kinh như thế nào?
Phụ nữ trước, trong hoặc sau chu kỳ kinh nguyệt xuất hiện đau bụng thì nên làm gì?
Trước tiên, nên đến bệnh viện kiểm tra phụ khoa một cách tỉ mỉ. Căn cứ vào lý lịch bệnh do người bệnh cung cấp, vào những triệu chứng lâm sàng và kiểm tra, bác sĩ sẽ có chẩn đoán chính xác nhất.
Bệnh nhân cần được giám định để xác định triệu chứng đau bụng là do các chứng bệnh khác (như u nang buồng trứng, chửa ngoài tử cung, viêm tiểu khung cấp tính, đẻ non…) gây nên hay do đau bụng hành kinh gây nên. Việc các chứng bệnh trên bị chẩn đoán nhầm thành đau bụng kinh sẽ dẫn đến điều trị sai, gây những hậu quả không tốt.
Phương pháp trị đau bụng hành kinh chủ yếu là uống thuốc; nhưng tác dụng của tâm lý trị liệu và sự nghỉ ngơi cũng không thể coi nhẹ, đặc biệt là với phụ nữ trẻ tuổi bị đau bụng hành kinh nguyên phát. Khi bắt đầu có kinh, họ thường có những thay đổi về tâm lý như sợ hãi, lo lắng, u uất… Những phản ứng tâm lý này cũng làm tăng thêm mức độ đau bụng hành kinh.
Uống thuốc để điều trị đau bụng hành kinh là phương pháp không thể thiếu:
- Thuốc có progestagen: Progestagen có tác dụng làm giãn cơ nhẵn của tử cung, ức chế sự co bóp của tử cung, nhờ đó giảm nguy cơ đau đớn. Ngoài ra, việc dùng progestagen vừa phải còn ức chế rụng trứng, giảm tỷ lệ sản sinh prostaglandin.
Cần uống thuốc chứa progestagen trong thời gian ngắn hoặc theo chu kỳ.
+ Uống thuốc trong thời gian ngắn: Bắt đầu khi hết hành kinh được 5-7 ngày, liên tục trong 5-7 ngày’
+ Uống theo chu kỳ: Tương tự như dùng thuốc tránh thai, bắt đầu vào ngày thứ 5 của chu kỳ kinh nguyệt, uống trong khoảng 20 ngày, sau khi dừng thuốc cần chú ý hiện tượng đau bụng kinh. Có thể uống thuốc liền trong 3 chu kỳ.
- Thuốc kháng viêm: Thông qua ức chế quá trình hợp thành các prostaglandin, loại thuốc này làm giảm việc sản sinh prostaglandin; hoặc gián đoạn sự kết hợp giữa prostaglandin với các chất khác. Từ đó, nó trực tiếp kháng lại tác dụng của prostaglandin, đạt đến hiệu quả ngừng đau. Loại thuốc này có thể dùng trong thời gian tương đối dài. Người bị viêm loét dạ dày, có bệnh hô hấp phải thận trọng khi dùng thuốc.
- Thuốc tễ chống lắng đọng canxi: Sự ngưng đọng canxi khi xâm nhập vào tế bào sẽ làm ức chế sự co bóp tử cung. Loại thuốc này có tác dụng phụ như: làm giảm huyết áp, cản trở hô hấp.
- Thuốc Bắc: Làm khí huyết lưu thông, giảm nhẹ cơn đau.
- Phẫu thuật: Nên hạn chế, chỉ dùng khi các loại thuốc trên không có hiệu quả.
Nếu bị đau bụng hành kinh kéo dài, ngoài việc điều trị bằng các loại thuốc kể trên, bạn nên tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh như: chứng lạc nội mạc tử cung, chứng bệnh ở tuyến cơ tử cung.
6 Làm thế nào để phòng tránh đau bụng hành kinh?
Do cơ chế phát bệnh của đau bụng kinh nguyên phát còn chưa rõ ràng nên ta chỉ có thể dự phòng bằng cách tránh lạnh, không làm việc quá sức, quá căng thẳng. Đau bụng kinh kéo dài do các chứng bệnh ở cơ quan sinh dục gây nên, vì vậy nên sớm kiểm tra phát hiện bệnh phụ khoa, kịp thời điều trị. Ngoài ra, bạn cần lưu ý:
- Giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt, tránh lao động thể lực hoặc vận động quá sức. Tuyệt đối không sinh hoạt vợ chồng trong thời kỳ kinh nguyệt và tránh những kiểm tra phụ khoa không cần thiết.
- Làm tốt công tác tránh thai. Tránh nạo thai và phẫu thuật buồng tử cung (có thể dẫn đến dính niêm mạc tử cung và phát sinh chứng bệnh khác.
- Giữ vệ sinh cá nhân, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con. Tuyệt đối không sinh hoạt tình dục bừa bãi, tránh phát sinh chứng viêm tiểu khung và các chứng phụ khoa khác.
Theo SK&ĐS
Những thức ăn không an toàn cho bà bầu
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Ăn những thức ăn an toàn là một vấn đề rất quan trọng trong thời gian bạn mang thai. Nhưng có một số loại thức ăn đang ẩn chứa những nguy cơ có thể làm ảnh hưởng đến bạn và thai nhi. Sau đây là một số nguy cơ đang tìm ẩn trong thức ăn mà bạn nên biết và có cách phòng tránh.
Một số loại vi khuẩn
Một số loại vi khuẩn có thể là nguyên nhân gây ra chứng cảm ho cho bạn. Nhưng nguy hiểm hơn, nó còn là nguyên nhân dấn đến nguy cơ bị sẩy thai và sinh non ở thai phụ
“Trên thế giới có 20 ngàn phụ nữ mang thai bị nhiễm vi khuẩn thì có đến 50 phần trăm trong số này bị ảnh hưởng đến thai nhi” Fiona Ford – một chuyên gia về dinh dưỡng của Sainsbury’s cho biết. “Loại vi khuẩn này chỉ xuất hiện trong một số loại thức ăn không an toàn. Nhưng không có nghĩa là cứ bạn ăn những loại thức ăn không an toàn thì sẽ bị nhiễm loại vi khuẩn này. Vì vậy đừng tỏ ra quá lo lắng” Ông nói thêm.
Các món ăn nên tránh
Phó mát kết hợp với lòng trắng trứng gà, chẳng hạn như: phó mát camembe, phó mát của Pháp
Pâ te được làm từ thịt, cá hoặc rau xanh, trừ khi chúng đã được đóng hộp hoặc được kiểm nghiệm qua phương pháp Pax tơ (tránh ăn pâ te có chứa gan)
Khuẩn Salmonella
Khuẩn Salmonella là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra ngộ độc thực phẩm.
Salmonella không gây hại ngay tức khắc đối với thai nhi, nhưng nó là nguyên nhân làm cho bạn bị nôn mửa, tiêu chảy và dẫn đến mất nước trầm trọng.
“Phụ nữ hay lo ngại về việc ăn trứng, nhưng sự nguy hiểm chính lại xuất phát từ việc bạn ăn thịt gà” Fiona Ford nói.
Những thức ăn nên tránh
Không nên ăn thịt gà sống hoặc chưa chín tới
Không nên ăn trứng sống hoặc trứng còn quá lỏng, hoặc những món ăn được làm từ trứng sống
Một số thức ăn khác mà bạn nên tránh
Ngoài các thức ăn kể trên. Còn có một số loại thức ăn khác bạn cũng cần nên tránh trong suốt thời kì mang thai, vì nó có thể gây ra nhiều vấn đề rắc rối cho bạn.
Gan
Tránh ăn gan và những thức ăn có chứa gan vì chúng có chứa hàm lượng vitamin A quá cao. Nếu cơ thể bạn hấp thụ quá nhiều viwtamin A sẽ dễ dẫn đến nguy cơ bị thai dị dạng hoặc khó sinh.
Đậu phụng
Nếu tiểu sử bạn bị mắc các chứng bệnh kinh niên như: hen suyễn, ho theo mùa, chàm bội nhiễm… thì tổ chức chăm sóc sức khỏe khuyên bạn nên tránh xa đậu phụng. Điều này sẽ giúp bạn tránh được những dị ứng từ đậu. Ngoài ra, bạn cũng nên tránh ăn những thức ăn như cua, tôm, sò.
Theo Young Parents
Chế độ dinh dưỡng của mẹ giúp bé thông minh
Chế độ ăn uống của mẹ thời kỳ bầu bí liên quan mật thiết đến sự phát triển não bộ của bé. Bởi vậy mẹ nhất định phải nắm bắt thời cơ này mà bồi bổ cho hợp lý. Tám nguyên tắc dinh dưỡng sau đây sẽ giúp mẹ bé.
Chú trọng thực phẩm chính, trạm năng lượng phát triển não bộ cho bé
Đường Glucose là chất dinh dưỡng duy nhất cung cấp năng lượng cho não mà hợp chất carbohydrate chính là nguồn cung cấp đường glucose chủ yếu. Bởi vậy những thực phẩm giàu carboydrate như gạo, bột mì, ngô hay các loại đậu, khoai tây, trái cây nên chiếm tỉ lệ khoảng 60% (thậm chí có thể nhiều hơn) trong bữa ăn của người mẹ. Mẹ cũng nên hạn chế nạp những thực phẩm có chứa hàm lượng đường đơn giản cao như đường mía, đường đỏ.
Bổ sung protein, vật chất nền móng để phát triển não bộ của bé.
Cần phải có 35% protein để duy trì và phát triển chức năng của bộ não, tăng cường khả năng tư duy, phân tích và lý giải của não. Nhưng bổ sung protein cần phải được tiến hành dưới tiền đề năng lượng và hợp chất carbohydrate cũng được cung cấp đầy đủ. Nếu nhiệt lượng chưa được bổ sung đầy đủ mà đã bổ sung hàm lượng lớn protein thì protein không những không dự trữ và chuyển cho bào thai mà ngược lại sẽ bị đốt cháy để cung cấp năng lượng cho mẹ. Hơn thế nữa, hàm lượng lớn axit uric sản sinh trong quá trình phân giải protein sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho thận.
Vậy nên tiền đề của việc ăn ngon chính là ăn no, đặc biệt đối với thai phụ ở thai kỳ thứ hai, bởi việc mang thai cộng với gánh nặng công việc sẽ khiến năng lượng của người mẹ bị tiêu hao nhiều hơn. Một bà mẹ 55-60kg, làm công việc lao động tương đối nhẹ nhàng một ngày ngoài 6 lạng tinh bột cần phải bổ sung 500ml sữa, 1 quả trứng, 3 lạng thịt nạc (thịt gia súc, gia cầm hay tôm cá) và lượng hoa quả rau xanh phù hợp. Đặc biệt nên cố gắng đảm bảo lượng thực phẩm động vật vì hàm lượng protein trong động vật cao hơn nhiều so với thực vật.
Chú trọng đến axit béo – vũ khí bí mật giúp bé thông minh
Chất béo chiếm khoảng 50-60% trọng lượng não bé. Những loại chất béo có chất lượng cao đặc biệt là axit béo tổng hợp không no (polyunsaturated fatty acid) và chất béo lecithin có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển tế bào não và hình thành myelin (chất béo bao bọc xung quanh dây thần kinh). Dầu bắp, dầu oliu, dầu mè, dầu đậu nành, dầu thực vật và các loại cá biển nước sâu, tôm đều là những thực phẩm có nguồn axit béo rất tốt.
Tăng cường vitamin B, axit folic – giải pháp ngừa khuyết tật ống thần kinh
Vitamin nhóm B có tác dụng duy trì chức năng bình thường của hệ thần kinh, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Phụ nữ trước khi mang thai khoảng một tháng và trong suốt thời gian đầu của thai kỳ mỗi ngày nên bổ sung 400mg axit folic để ngăn chặn khuyết tật ở ống thần kinh. Ngũ cốc, gan, thịt, đậu và rau sẫm màu chính là nguồn vitamin nhóm B rất phong phú.
Bổ sung DHA và Cholin – thúc đẩy sự phát triển của tế bào não của thai nhi
DHA là một loại axit béo tổng hợp không no tồn tại trong thiên nhiên rất cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh, nó có liên quan trực tiếp đến sự phát triển tế bào thần kinh ở não thai nhi và võng mạc. Phụ nữ mang thai mặc dù có thể bổ sung DHA thông qua axit linolenic có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật chuyển hóa thành DHA, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có khoảng 3% axit linolenic loại này chuyển hóa thành DHA, do đó bổ sung DHA thông qua thực phẩm có nguồn gốc từ động vật vẫn là sự lựa chọn thích hợp cho thai phụ.
Trong mỡ của tôm, cá biển (đặc biệt là cá nước sâu như cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá chích, cá chình, tôm sú…) có chứa hàm lượng lớn DHA, do đó mỗi tuần bạn hãy ăn 3-4 lần tôm cá để cung cấp DHA cho thai nhi.
Hàm lượng DHA của động vật trên cạn tương đối nhỏ, do đó nếu không ăn được cá tôm bạn có thể lựa chọn các sản phẩm có chứa DHA (từ sữa, trứng, đậu tương…) để hỗ trợ cho việc hấp thụ DHA.
Cholin là dưỡng chất thiết yếu của cơ thể, có vai trò tăng cường trí nhớ nhưng lượng Cholin tích lũy trong cơ thể khó có thể thỏa mãn nhu cầu khi mang thai, do đó bổ sung lượng cholin thích hợp từ các thực phẩm như tim gan động vật, trứng, thịt, sữa, đậu lạc, khoai tây sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các tế bào não của thai nhi.
Không quên kẽm. Thiếu kẽm, não bé kém phát triển
Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể, nó có vai trò tác động chọn lọc lên quá trình phân giải axit nucleic và protein – những thành phần quan trọng nhất của sự sống. Kẽm có độ tập trung cao trong não đặc biệt ở thùy hải mã, ở vỏ não. Nếu thiếu kẽm có thể dẫn đến rối loạn thần kinh và cơ thể phát sinh bệnh tâm phần phân liệt. Để bổ sung lượng kẽm thích hợp cho thai nhi, mẹ cần phải ăn các loại thực phẩm có hàm lượng kẽm cao như thịt, gan, trứng, sữa, cá tôm, rau củ quả có màu vàng hoặc màu xanh đậm.
Đừng bỏ qua iốt – nguyên liệu cần thiết cho phát triển não và hệ thần kinh
Iốt tập trung chủ yếu ở tuyến giáp để tổng hợp hoócmôn giáp trạng, nó cũng là nguyên liệu thiết yếu phát triển não và hệ thống thần kinh ở thai nhi. Thông thường muối ăn có chứa iốt, nhưng mẹ cần biết cách sử dụng muối cho đúng: dù chiên xào hay nấu cũng nên bỏ muối sau khi đã nấu kỹ hoặc trước khi bắc nồi ra để tránh mất iốt trong quá trình nấu nướng lâu. Ngoài ra, rong biển, cá biển cũng rất giàu iốt.
Cảnh giác với thực phẩm có chứa kim loại nặng. Không ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá có kích thước lớn
Ăn cá tất nhiên rất có lợi, nhưng không nên ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá lớn vì trong cơ thể chúng có chứa thủy ngân. Chất này sẽ đi qua nhau thai để vào bào thai và tích lũy trong cơ thể bé lâu dần có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ bé và rất có thể sẽ khiến trí lực của bé chậm phát triển.
Cuối cùng xin nhắc các bà mẹ rằng vitamin và các nguyên tố vi lượng như canxi, phốt pho, natri, kali, iốt, sắt, kẽm, mangan đều là những dưỡng chất không thể thiếu cho hoạt động của não bé. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ giúp não bé phát triển thông minh vượt trội.
Theo – Mẹ & Bé
10 bí quyết giúp bà mẹ trẻ lấy lại vóc dáng sau khi sinh em bé
Cơ thể của bạn sẽ khó trở lại như hồi chưa mang thai nhưng gần với mức ấy thì có thể. 10 bí quyết giảm cân sau sinh dưới đây sẽ giúp bạn:
1. Không nên vội vã và bắt đầu ăn kiêng ngay sau khi vừa sinh em bé
Điều này đặc biệt đúng nếu bạn đang cho con bú. Với những ai nuôi con bằng sữa ngoài, bạn mới có thể bắt đầu tập thể dục ngay sau khi tôi đã được phục hồi. Những gì bạn cần làm là tập trung vào việc ăn uống lành mạnh và đến với một số kế hoạch tập thể dục tốt.
2. Trước tiên nên cho phép cơ thể của bạn trở lại mức “bình thường ”
Khi cơ thể đã phục hồi và bạn có thời gian rảnh, hãy bắt đầu kế hoạch giảm cân mà bạn đã đề ra trước đó.
3. Bạn có thể quay lại trọng lượng bình thường trong khoảng hơn nửa năm
Nếu bạn tăng không quá 11-16 kg, bạn có thể trở về trọng lượng bình thường sau 8 tháng. Nghe có vẻ chậm, nhưng 8 tháng sẽ qua nhanh trước khi bạn nhận ra điều đó.
4. Cho con bú có thể giúp bạn giảm cân
Điều này xảy ra là do quá trình nuôi con bằng sữa mẹ được biết đến phổ biến với việc tiết ra một số hormone khác nhau trong cơ thể, giúp tử cung trở lại quay trở lại kích thước như trước khi mang thai.
5. Ăn uống lành mạnh cho cả bạn và bé
Chế độ ăn uống nên bao gồm các loại trái cây và rau quả cũng như bổ sung đủ nước.
6. Chất và lượng thức ăn
Chất và lượng thức ăn bạn tiêu thụ sau khi sinh con sẽ tác động lớn đến sức khỏe và cân nặng của bạn
Nguyên tắc tương tự có thể được áp dụng cho việc tập thể dục, chỉ cần bạn đừng lạm dụng nó.
7. Bất kể làm gì, bạn cũng nên luôn luôn chăm sóc cơ thể mình
Cơ thể bạn đã trải qua rất nhiều căng thẳng. Thêm nữa, sự xuất hiện của thành viên mới có nghĩa bạn sẽ cần có tất cả các nguồn năng lượng mà bạn có thể nhận được.
8. Tìm hiểu về thực phẩm
Bạn nên tự giáo dục bản thân về dinh dưỡng chứ không riêng việc giảm cân.
9. Kết giao với một người bạn sẵn sàng thực hiện kế hoạch giảm cân với bạn
Một bà mẹ mới sinh khác sẽ trở thành một đối tác tuyệt vời. Tuy nhiên, nếu bạn không thể tìm thấy một người như vậy, bạn có thể kêu gọi bất cứ ai có mục đích giống bạn.
10. Bắt đầu bằng cách đặt ra các mục tiêu nhỏ
Bạn nên bắt đầu các bài tập khoảng 10 phút mỗi ngày và sau đó tăng dần.
Theo – VTV
Cảnh giác với bệnh đường tiết niệu ở trẻ
Nguyên nhân của viêm đường tiểu ở trẻ em
Có khá nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm đường tiết niệu cho trẻ. Ở bé gái, do cấu tạo sinh lý là niệu đạo ngắn, lỗ tiểu lại gần với hậu môn nên rất dễ bị lây nhiễm bởi các vi sinh vật từ phân lây sang. Ở bé trai, có một số do có dị dạng ở đường tiểu, nhất là hiện tượng hẹp bao quy đầu làm cho nước tiểu thường xuyên bị ứ lại gây viêm đường tiết niệu ngược dòng. Một số trẻ không mặc quần hoặc mặc quần thủng đít hoặc hay chơi lăn lê trên mặt đất cũng rất dễ bị viêm đường tiết niệu. Ngày nay, việc đóng bỉm cho bé là chuyện bình thường nhưng việc sử dụng bỉm không đúng quy cách cũng có thể làm cho trẻ bị viêm đường tiết niệu, nhất là mỗi khi cả phân và nước tiểu lẫn lộn với nhau tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn phát triển nên rất dễ làm cho trẻ bị nhiễm vi khuẩn. Viêm đường tiết niệu ở trẻ đôi khi còn do các bậc phụ huynh hoặc cô nuôi dạy trẻ gây ra như việc rửa cho trẻ sau khi trẻ đi vệ sinh. Nếu rửa đít cho trẻ mà rửa từ sau ra trước thì vô tình sẽ đưa vi khuẩn vào lỗ tiểu, nhất là các trẻ em gái. Về căn nguyên gây viêm đường tiết niệu ở trẻ chủ yếu do vi khuẩn E.coli và có thể do một số ký sinh trùng (vi nấm) hoặc do virut. Vi khuẩn E.coli là một loại vi khuẩn thuộc họ vi khuẩn đường ruột có nhiều trong phân của người và động vật. Ở ngoại cảnh, vi khuẩn này phân bố khắp nơi (trong đất, bụi, nước và không khí, thực phẩm, rau, quả…) nên rất dễ lây nhiễm sang cho con người mỗi khi có điều kiện, nhất là khi vệ sinh môi trường chưa được cải thiện, vệ sinh cá nhân chưa tốt.
Biểu hiện viêm đường niệu ở trẻ em
Tuỳ theo độ tuổi, tuổi càng nhỏ thì triệu chứng viêm đường tiết niệu càng kín đáo, khó phát hiện. Trẻ có thể bị sốt nhẹ, sốt kéo dài, đôi khi sốt cao. Người ta thấy rằng có một tỷ lệ khoảng từ 10 – 15% số trẻ không sốt mà thân nhiệt lại giảm. Trẻ có thể biếng ăn, kém chơi, hay quấy khóc, đôi khi có rối loạn tiêu hoá như nôn hoặc tiêu chảy. Đôi khi trẻ khóc khi tiểu bởi bị đau. Một số trẻ em trai lớn hơn có động tác sờ vào chim do khó chịu, đau khi đi tiểu. Trẻ cũng có thể đái dắt, buốt, đi tiểu nhiều lần trong một khoảng thời gian ngắn nên một số trẻ bị viêm đường tiết niệu hay đi tiểu làm cho một số phụ huynh hoặc các cô bảo mẫu hiểu nhầm và đánh giá sai về hành vi của cháu. Trẻ càng lớn thì hiện tượng đái buốt, đái dắt càng rõ nét hơn do trẻ đã nhận biết được. Nước tiểu của trẻ bị viêm đường tiểu có thể đục. Mức độ đục nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố như thời gian bị viêm đường tiết niệu, nước tiểu được lấy để quan sát vào lúc nào trong ngày (nếu nước tiểu lấy vào lúc sáng sớm thì có thể thấy đục nhưng lấy nước tiểu vào buổi trưa hoặc chiều thì có thể không thấy). Muốn biết trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không, nên căn cứ vào một trong các dấu hiệu (hoặc có nhiều dấu hiệu) như mô tả ở trên. Khi cần thiết phải lấy nước tiểu làm xét nghiệm vi sinh (nhuộm soi và nuôi cấy phân lập vi khuẩn). Qua xét nghiệm vi sinh có thể biết được trong nước tiểu có vi khuẩn hay vi nấm. Xét nghiệm nước tiểu của trẻ nghi nhiễm khuẩn tiết niệu bằng phương pháp vi sinh, qua đó người ta còn làm kỹ thuật kháng sinh đồ để tìm kháng sinh thích hợp điều trị có hiệu quả nhất cho trẻ. Người ta cũng có thể kiểm tra toàn bộ hệ thống đường tiết niệu bằng siêu âm và một số xét nghiệm cận lâm sàng khác để góp phần chẩn đoán chính xác trẻ có bị viêm đường tiết niệu hay không.
Khi nào bạn nên ngừng cho con bú?
Một khi con bạn đã bắt đầu không mấy hứng thú với việc bú mẹ, bạn có thể tự hỏi khi nào bạn nên ngừng cho con bú. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ rất nhiều, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bé đã có kế hoạch khác? Cho dù đang đấu tranh với việc cho bé ngừng bú hay chỉ là muốn hiểu hơn thời điểm nên đưa ra quyết định này, bạn nên tham khảo bài viết sau.
Thế nào là tự cai sữa mẹ ?
Khi bé yêu của bạn bắt đầu khám phá thế giới xung quanh, nhu cầu của bé bắt đầu thay đổi. Thông thường ngoài một tuổi, khi nhà thám hiểm tí hon có thể uống bằng cốc và ăn thức ăn đặc, bé sẽ dần dần giảm hứng thú với sữa mẹ và coi đây là một quá trình tự cai sữa.
Con đã sẵn sàng để thôi sữa mẹ ?
Học viện nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo nên cho con bú ít nhất trong năm đầu tiên của bé. Tiến sĩ Charles Shubin, giám đốc khoa nhi, Trung tâm y tế Mercy ở Baltimore cho biết: “Nguyên tắc cơ bản là trẻ sơ sinh cần sữa mẹ, hoặc một dạng thức tương đương, trong khi sữa là thành phần chính của chế độ ăn uống của bé. Đến một tuổi, hầu hết trẻ sơ sinh đã chuyển sang một chế độ ăn uống chủ yếu dưới dạng thức ăn thể rắn, và sữa trở thành một loại nước giải khát”.
Tuy nhiên, khi bé có kế hoạch khác, không phải tất cả các bà mẹ và em bé đều duy trì thời gian bú mẹ cho đến khi bé tròn 1 tuổi. “Nếu một em bé tự bỏ bú mẹ trước khi một năm tuổi, và được ăn thực phẩm là chủ yếu thì không có vấn đề gì về thức uống. Trước 10 hoặc 11 tháng, mặc dù, hầu hết trẻ sơ sinh vẫn còn nhận được một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng của từ sữa mẹ, do đó, một em bé tự cai sữa trong độ tuổi sẽ được bổ sung theo đúng công thức ấy”, Tiến sĩ Shubin tư vấn.
Những dấu hiệu nhầm lẫn của việc tự cai sữa
Ngày nay, dường như có vẻ người lớn ít quan tâm đến việc ngưng nghỉ từ lối sống năng động của mình đến việc cho con bú? Lang thang xung quanh hơn hay tạm dừng để nhồi nhét? Đừng vô tình vứt bỏ đi cái quý giá.
Từ 6 đến 12 tháng tuổi, bé có thể trở nên bị phân tâm bởi thế giới xung quanh. Mặc dù bé không để ý nhiều đến ti mẹ và mải chơi nhưng không nhất thiết có nghĩa là bé sẵn sàng từ bỏ sữa mẹ hoàn toàn. Nếu bé tự cai sữa trước 12 tháng, bạn có thể muốn gắn bó với bé, sự thờ ơ với sữa mẹ trong ngày hôm nay có thể hoàn toàn khác vào ngày mai.
Theo sát sự dẫn dắt của bé
Tuy nhiên, sẵn sàng hay không, một ngày nào đó bé yêu sẽ bắt đầu tự thôi sữa mẹ. Tập trung vào sự tăng trưởng tích cực của em bé có thể giúp bạn đưa ra quyết định dễ hơn.
Trong một số trường hợp, bản năng có một cách để cho bé yêu của bạn biết rằng đã đến lúc thôi sữa mẹ.
Nếu bạn nhận ra dấu hiệu tự cai sữa và đang gặp khó khăn để đưa ra quyết định trong thời gian này, hãy tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần từ các bà mẹ khác hoặc tham gia một diễn đàn trực tuyến cho các bà mẹ đã trải qua giai đoạn cuối cùng của thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Sau đó bạn hãy an ủi mình đã làm đúng có thể là vài tháng hoặc vài năm, bạn nuôi dưỡng con mình theo một cách mang lại cho con nhiều lợi ích nhất!
Những thực phẩm giúp bạn trẻ lâu
Bạn hoàn toàn có thể lưu giữ vẻ đẹp trẻ trung với một chế độ ăn uống giàu vitamin và khoáng chất có lợi cho da không cần dùng loại mỹ phẩm đắt tiền mà đôi khi hiệu quả thực lại khác xa quảng cáo hay phẫu thuật thẩm mỹ có thể gặp rủi ro không mong muốn.
Khi thiếu các acid béo cần thiết, da sẽ bị khô, có vảy, mất đi vẻ mềm mại, tươi tắn, xuất hiện nhiều nếp nhăn. Vitamin B tạo ra chất collagen giúp hạn chế triệt để nếp nhăn trong khi vitamin A&E bảo vệ, ngăn ngừa sự phá hoại của các gốc tự do hoặc phản ứng xấu của ô xy hóa đối với tế bào. Vitamin C lại giúp duy trì lượng collagen trong da, giữ cho nó được ổn định.
Vitamin A: có nhiều trong gan cá, gấc, đu đủ, ớt đỏ, quả kiwi, chanh, cam, bưởi….dầu olive, giá đỗ là những mỏ Vitamin E thiên nhiên quý giá. Acid béo omega 3 và 6: Chất béo không bão hòa này sản sinh ra lượng dầu tự nhiên giúp da không bị mất nước và luôn mềm mại đồng thời ngăn ngừa sự xuất hiện của các nếp nhăn. Khi thiếu acid béo cần thiết, da sẽ bị khô, tróc vảy, mất đi vẻ mềm mại tươi tắn. Cá hồi,cá thu là những thức ăn chứa hàm lượng acid béo omega 3 nhiều nhất. Chất béo có lợi cho da này cũng có trong quả bơ, hạt điều, hạnh nhân, hạt óc chó.
Kẽm: Khoáng chất này giúp làm liền vết thương nhanh mà không để lại sẹo, chứa nhiều collagen và các chất xơ đàn hồi có thể đảm bảo sự mềm dẻo cũng như vững chắc cho làn da.Thiếu hụt kẽm có thể gây khô, rạn nứt, sần sùi da và sinh mụn. Kẽm có nhiều trong thịt bò, hạt bí, thịt gà tây, lòng đỏ trứng, rau xà lách và các loại đậu…
AHA: Đây là loại acid có tác dụng mài mòn những lớp tế bào già cỗi, giúp tẩy da chết, làm da trắng, sáng hơn, để bổ sung AHA, bạn nên uống sữa và ăn nho tươi.
Selen: Chất khoáng selen có khả năng ngăn ngừa nguy cơ cháy nắng của da và cải thiện màu sắc cho da. Chất này đặc biệt có nhiều trong cá chỉ vàng.
Magne: Dù rất nhỏ, nhưng magne là thành phần của men chống lão hóa, giúp da khỏe mạnh, mềm.Thực phẩm có nhiều magne là sữa, ngũ cốc, các loại rau sẫm mầu, trái cây chín mềm như chuối, bơ..
Những món ăn giàu licopen
Các chuyên gia nhận thấy trong quá trình trao đổi chất, cơ thể luôn sinh ra gốc tự do (Các gốc này có hoạt tính rất mạnh phản ứng với nhiều phân tử khác, kể cả AND). Tất nhiên quá trình này xẩy ra liên tục và kéo dài, hậu quả chúng gây ra các bệnh mạn tính, ung thư, tim mạch và sự lão hóa như nếp nhăn, da cằn cỗi. Các chất chống ô xy hóa được các nhà dinh dưỡng đưa lên hàng đầu có Vitamin C,A,β carotene.. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã tìm ra được tính quý báu của licopen. Đây là một Catotenoid, cơ thể con người không thể tự tổng hợp mà phải lấy từ thức ăn.Trong khi đó licopen có khả năng kiềm chế ô xy nguyên tử gốc tự do gấp đôi β carotene. Licopen có nhiều trong cà chua, bưởi đỏ, ổi, gấc, đu đủ, nhiều nhất là gấc cao gấp 10 lần so với cà chua và 7 lần so với ổi. Người Nhật đã chú ý đến điều này, họ đang nghiên cứu dùng gấc để làm màu thực phẩm và tăng cường licopen.Tuy nhiên, cơ thể khó hấp thu licopen dạng tươi sống mà phải nấu chín.
Theo ước tính của các nhà khoa học thì mỗi ngày chỉ cần uống 3 ly nước cà chua là đủ lượng licopen cho cơ thể.Tuy nhiên chúng ta không thể ăn uống đơn điệu như thế được! Do đó khi lên thực đơn, các bà nội trợ cần lưu ý các món trong tuần, nên xen kẽ món cá kho, bò nấu canh rau, canh dưa, cà chua, xôi gấc sao cho thật phong phú đa dạng nhưng vẫn có đủ licopen. Các loaị rau quả có màu đỏ ngoài licopen còn chứa nhiều tiền sinh tố A. Đây là loại sinh tố mà khi thiếu nó cơ thể sẽ ngừng tăng trưởng, mắt sẽ mờ, da khô nhăn, do dó cần ưu tiên dùng đủ các loại rau củ có màu như ca rôt, cam, bí đỏ… và che chắn kỹ khi ra nắng
Rau màu đậm: Bạn không thể hấp thu chất sắt và calcium trực tiếp từ rau, nhưng chắc chắn bạn có thể tận dụng các vitamin tuyệt vời có trong các loại rau xanh có màu càng đậm thì hàm lượng vitamin càng cao, đồng thời chúng còn cung cấp acid folic cần thiết cho sự tạo tế bào máu trong cơ thể, giúp da hồng hào tươi tắn. Đặc biệt trong các loại rau họ cải còn giàu chất chống ô xy hóa các mô tế bào, làm mô của cơ thể bạn chậm quá trình lão hóa.Trong khẩu phần ăn hàng ngày mỗi người cần từ 250-300g rau xanh.
Củ quả màu cam: Theo nghiên cứu, những loại củ quả có màu cam chứa nhiều beta carotene. Đây là một trong những vitamin có tác dụng chống lại sự ô xy hóa mô cơ thể, giúp hủy hoại gốc tự do- thứ chuyên làm lão hóa các tế bào cuả cơ thể hay góp phần vào việc làm rối loạn hoạt động của nhiều loại tế bào. Trong các loại củ quả này còn chứa các chất chống ung thư như chất licopene có trong vỏ đỏ của quả cà chua chẳng hạn.
Sữa chua: Đây là một loại thức ăn lý tưởng mà người lớn và trẻ em đều dùng được. Sữa chua có giá trị dinh dưỡng đáng kể. Trong 100g sữa chua cho năng lượng khoảng 100Kcal, với khoảng 15g chất đường, 3g chất đạm, rất giàu calci và các vitamin khác. Sữa chua là loại thực phẩm dễ tiêu hóa, lượng men vi sinh có trong sữa chua, giúp cân bằng hệ vi sinh có trong ruột, tăng cường sự phát triển của các vi khuẩn có lợi, giúp cho đường ruột lành mạnh, thực hiện tốt chức năng tiêu hóa và hấp thu thức ăn. Đặc biệt hàm lượng calci trong sữa chua rất cao, giúp bổ sung nhu cầu calci cần thiết hàng ngày cho sự phát triển hệ xương răng ở trẻ và phòng chống loãng xương ở người già.
Hành, tỏi: Qua nghiên cứu, người ta thấy rằng tỏi có rất nhiều tác dụng tốt với cơ thể người, nó làm giảm cholesterol trong máu và dường như cũng góp phần giảm các tác nhân có thể gây ung thư. Những kết quả nghiên cứu trên động vật thực nghiệm và phòng thí nghiệm với tế bào ung thư tại viện nghiên cứu dược lý Mario Negri (Italia) cho thấy: Các hợp chất có trong hành, tỏi, có tác dụng làm kìm hãm sự phát triển của các tế bào khối u, chẳng hạn hợp chất sulfur trong tỏi và flavonoid trong hành là một trong những chất có khả năng bảo vệ tế bào khỏi sự xâm nhập của ung thư. Tuy nhiên khi xử dụng loại thực phẩm này cũng nên thận trọng, vì ăn quá nhiều sẽ gây phản ứng với những loại thuốc làm mỏng mạch máu và gây ra nguy cơ chảy máu.
Các loại hải sản: Cá bể và đa số các loại hải sản đều giàu Iode và kẽm, chúng cũng cung cấp acid béo giàu omega 3, giúp máu khỏi đông cục và tránh những viêm nhiềm trong cơ thể (như viêm khớp) chất béo omega 3 cũng giúp cân bằng các chất béo trong thức ăn như bơ thực vật và một số loại dầu thực vật.
Hàu, trai, hến còn giàu chất kẽm, giúp duy trì hệ miễn dịch khỏe mạnh để chống lại bệnh tật.Theo khuyến cáo từ các chuyên gia dinh dưỡng thì mỗi người lớn nên dùng từ 3-4 lần cá biển hay hải sản biển/tuần.
Dấu hiệu phát hiện sớm ung thư âm đạo
| Khi có dấu hiệu bất thường cần đi khám chuyên khoa sớm. |
Ung thư âm đạo là một loại ung thư hiếm gặp, hình thành trong các tế bào âm đạo của phụ nữ. Trong giai đoạn đầu, bệnh này thường không có bất kỳ triệu chứng gì đáng chú ý nên rất khó chẩn đoán. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Cần chú ý phát hiện sớm để có biện pháp điều trị kịp thời, tránh những hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe.
Các triệu chứng ung thư âm đạo bao gồm
- Chảy máu âm đạo bất thường: Chảy máu âm đạo bất thường sau khi quan hệ tình dục hoặc ở những phụ nữ đã mãn kinh là triệu chứng đầu tiên và thường gặp nhất của bệnh ung thư âm đạo. Tuy nhiên, chảy máu sau mãn kinh và sau khi quan hệ cũng có thể là triệu chứng của các bệnh phụ khoa khác.
- Tiết dịch âm đạo: Mặc dù dịch âm đạo là hiện tượng phổ biến thường gặp ở nhiều chị em và cũng không cần quá quan tâm, nhưng dịch âm đạo bất thường, có mùi khó chịu hoặc có màu máu, lẫn với máu lại có thể là triệu chứng của ung thư âm đạo. Điều này là cực kỳ hiếm, và có nhiều khả năng do sự bất thường đáng lo ngại nào đó. Vậy nên, tốt nhất nếu thấy triệu chứng này, chị em cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
- Thay đổi thói quen đi tiểu: Nếu nhận thấy là mình đi tiểu nhiều hơn bình thường thì chị em cần tìm hiểu nguyên nhân của nó. Hiện tượng này có thể do uống nhiều nước, uống đồ uống có caffein, hoặc do nhiễm trùng đường tiểu.
Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng những bệnh trầm trọng hơn. Nếu cảm thấy đau khi đi tiểu hoặc tiểu ra máu, chị em cần hết sức chú ý, bởi đây cũng có thể là biểu hiện của ung thư âm đạo. Mặc dù bằng mắt thường có thể rất khó phát hiện nước tiểu có lẫn máu, nhưng chị em có thể để ý nếu thấy nước tiểu màu hồng hồng hoặc có vệt máu ở đáy quần lót.
- Đau vùng chậu: Khung chậu đau thường là khi bệnh ung thư âm đạo đã bắt đầu lây lan. Đau vùng chậu có thể là đau hay cảm thấy áp lực và tức ở vùng bụng dưới rốn. Bạn có thể cảm thấy đau liên tục hoặc thi thoảng mới đau. Nhiều phụ nữ bị đau vùng chậu một cách âm ỉ, có lúc đau quặn lên.
- Rối loạn tiêu hóa: Là nguyên nhân của nhiều bệnh trong đó có ung thư âm đạo. Khi ung thư âm đạo tiến triển, phụ nữ có thể bị táo bón mạn tính, phân đen mùi khó chịu và có cảm giác như thể ruột chưa được hoàn toàn thông sau khi đi ngoài.
Phòng ngừa ung thư âm đạo
- Thực hành tình dục an toàn có thể làm giảm nguy cơ ung thư âm đạo. Nên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Tiêm vaccin phòng ung thư cổ tử cung có thể giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư khác liên quan đến cổ tử cung như ung thư âm đạo. Bạn nên tiêm vaccin này trước 26 tuổi vì sẽ phát huy được cao nhất hiệu quả phòng bệnh của vaccin.
- Kiểm tra khung xương chậu có thể giúp chẩn đoán âm đạo và ung thư khác.
Có nên chọn ngày, giờ để sinh con?
| Sinh mổ mang lại nhiều nguy cơ cho mẹ và con. |
Ngày càng có nhiều sản phụ chọn phương pháp sinh mổ, họ quan niệm rằng việc phẫu thuật giúp họ lựa chọn được ngày sinh, tháng đẻ, giờ sinh và cả bác sĩ mát tay và số giường, số phòng… để sinh con quý tử, hợp với bố mẹ… Yếu tố tâm linh là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều sản phụ chọn phương pháp phẫu thuật thay vì sinh đẻ tự nhiên. Nhưng có thật sự là ai sinh vào ngày, giờ “vàng” cũng tốt không? Và việc chọn ngày, giờ để sinh con có những ảnh hưởng như thế nào đến thai phụ và thai nhi?
Những con số đáng báo động
Theo nghiên cứu mới đây của nhóm bác sĩ Bệnh viện phụ sản TƯ và Trường Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mổ lấy thai ở nước ta đang có xu hướng tăng dần. Hiện, tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản TƯ là gần 41%, Bệnh viện phụ sản Hà Nội là hơn 43%. Trong số 423 bà mẹ (ở hai quận Hoàn Kiếm, Gia Lâm) tham gia nghiên cứu, có 30,3% bà mẹ mổ lấy thai, trong đó, 14% muốn mổ lấy thai để chọn được ngày, giờ sinh tốt cho đứa trẻ và 16,7% là do chịu sự tác động từ phía gia đình…
Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thời điểm tỷ lệ mổ đẻ chiếm tới 60% các ca sinh nở.
Con số thấp hơn, như ở Bệnh viện TP Hồ Chí Minh các ca mổ đẻ cũng chiếm trên 30%. Tại Bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ này cũng trên 40% ca mổ đẻ. Trong khi đó, mức trung bình trên thế giới chỉ chiếm trên 10% tổng số các ca sinh.
Nhiều nguy cơ cho mẹ và con
Theo các bác sĩ, có thể tiến hành các ca mổ đẻ trước từ mấy tuần tuổi, miễn sao đảm bảo theo tiêu chuẩn, chỉ định của ngành y tế. Nhưng việc can thiệp thai nhi sớm, chắc chắn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của bào thai cũng như đứa trẻ sau này và cả người mẹ nữa.Theo đó, dù nguyên nhân nào thì việc đứa trẻ chào đời do không được ra bằng đường tự nhiên (trẻ không đi qua ống âm đạo, phổi không bị ép để tống xuất các chất dịch) nên dạ dày và phổi có thể vẫn còn nước ối. Sự tồn ứ dịch trong phổi trẻ làm tăng nguy cơ suy hô hấp, gây bệnh màng trong.
Đây là các bệnh lý rất nặng ở trẻ sơ sinh, việc điều trị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Ngoài ra, sự chuyển dạ của người mẹ sẽ sản sinh ra nhiều hormon giúp trẻ đề kháng tốt. Những trẻ sinh mổ không trải qua quá trình này sẽ thiếu những hormon cần thiết nên thường yếu hơn những trẻ sinh thường.
Việc sinh mổ còn có thể dẫn đến những biến chứng cho người mẹ trong lần mang thai sau, nhất là nguy cơ chửa ngoài dạ con, vỡ tử cung ở mẹ, nhau thai bám vào vết mổ cũ… rồi lần sinh con sau hầu như đều phải mổ, quá trình mang thai sau cũng phải theo dõi sát sao, căng thẳng hơn.
Vì vậy, trước khi đề nghị chọn ngày giờ sinh mổ, sản phụ cần tìm hiểu kỹ những ích lợi và tác hại của nó, lắng nghe những tư vấn của bác sĩ. Nếu bác sĩ không chỉ định mổ lấy thai, sản phụ nên sinh con theo cách tự nhiên. Bác sĩ sẽ chỉ định cho sinh mổ trong một số trường hợp như: thai quá to, người mẹ có bệnh nhiễm khuẩn có thể gây lây nhiễm cho bé trong khi sinh thường hay dị tật về cơ thể, mẹ mang thai nhiều bé cùng một lúc, trẻ bị tràng hoa quấn cổ có nguy cơ tử vong, thai ngược…
Thai nghén và những bệnh gan thường gặp
| Khám thai định kỳ để phát hiện những bất thường |
Thai nghén là tình trạng sinh lý tự nhiên, song việc mang thai và sinh con không phải bao giờ cũng thuận buồm xuôi gió. Các cơ quan nội tạng của người mẹ đặc biệt là tim, gan, phổi, thận… phải đảm nhiệm thêm trọng trách vì thai nhi đang phát triển thông qua cơ thể của người mẹ.
Bệnh ứ mật tại gan
Đó là tình trạng mật bị ứ lại trong gan, ngấm vào máu rồi ngấm vào da, gây ra triệu chứng ngứa và vàng da. Tỉ lệ căn bệnh này khoảng dưới 1%. Nó có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng và thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 2 hoặc thứ 3.
Ngứa da thường gặp nhất ở lòng bàn tay, bàn chân. Một số người có thể bị ngứa toàn thân. Triệu chứng ngứa tiến triển càng lúc càng nhiều làm bệnh nhân mất ngủ và ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Vàng da xảy ra khoảng 10 – 20% số người bị căn bệnh này. Nguyên nhân của bệnh chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền, tăng nhạy cảm với estrogen. Bệnh thường gặp hơn ở người sinh đôi hoặc đa thai do tăng nội tiết tố. Khoảng 50% số bệnh nhân bị ứ mật thai kỳ có tiền căn gia đình.
Tiên lượng cho mẹ tốt. Triệu chứng tự biến mất khoảng 2 ngày sau sinh. Tuy vậy, khoảng 60 – 70% số bệnh nhân sẽ bị lại bệnh này khi mang thai lần tới và nguy cơ bị ngứa da khi dùng thuốc ngừa thai. Song bệnh này lại có thể ảnh hưởng tới thai nhi. Khoảng 60% số bà mẹ bị căn bệnh này có nguy cơ sinh non trước 37 tuần. Trẻ sinh non có nguy cơ trên sức khỏe tổng quát suốt thời kì sơ sinh và sau đó. Một số trẻ chết lúc mới sinh. Bệnh này cũng làm tăng nguy cơ thai chết lưu với tỉ lệ nhỏ (1 – 2%), suy thai. Do vậy, cần theo dõi thai nhi cẩn thận với siêu âm và đo tim thai. Nếu bất thường có thể cần đề nghị sinh sớm để giảm nguy cơ thai chết lưu. Có thể chọc ối tuần thứ 36 để xem phổi thai nhi có phát triển đầy đủ không; nếu phổi thai nhi bình thường có thể tự thở, có thể kết thúc thai kì vào tuần thứ 36 đến tuần thứ 38 để phòng ngừa thai chết lưu. Vitamin K nên sử dụng vì nguy cơ xuất huyết sau sinh tăng. Cholestyramine và ursodeoxycholic acid làm giảm triệu chứng ngứa da và điều chỉnh một số rối loạn chức năng gan.
Hội chứng HELLP
HELLP là từ viết tắt của hemolysis (tán huyết), elevated liver enzymes (tăng men gan) và low platelet (giảm tiểu cầu). Hội chứng xảy ra ở 10% số bệnh nhân mang thai bị tiền sản giật nặng. Ở người bị tiền sản giật nặng, khi thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3 nên xem phết máu ngoại biên và xét nghiệm. Triệu chứng của hội chứng HELLP thường xảy ra vào thai kỳ thứ 3, mặc dù hội chứng có thể bắt đầu sớm hơn. Triệu chứng cũng có thể xuất hiện trong 48 giờ đầu sau sinh. Các triệu chứng của bệnh bao gồm: đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu. Nếu không điều trị kịp thời, hội chứng HELLP có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho cả mẹ lẫn thai nhi. Trên người mẹ, bệnh có thể gây hư hại gan nghiêm trọng, hiếm hơn có thể gây vỡ gan, suy thận, rối loạn đông máu, đột quỵ và tử vong. Khi người mẹ bị những biến chứng nghiêm trọng, thai nhi sẽ nguy hiểm tính mạng. Hội chứng HELLP làm tăng nguy cơ nhau bong non trước khi sinh, đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi cũng như tăng nguy cơ sinh non.
Điều trị bệnh bằng cách kiểm soát huyết áp, truyền tiểu cầu nếu tiểu cầu < 20.000mm3 hoặc 40.000mm3 kèm theo rối loạn cầm máu. Chấm dứt thai kì ngay để phòng ngừa những biến chứng nặng. Nếu thai kì dưới 34 tuần, có thể trì hoãn khoảng 48 giờ để điều trị người mẹ bằng corticoides. Thuốc này giúp đẩy nhanh quá trình trưởng thành của phổi thai nhi và phòng ngừa biến chứng sinh non. Một số đề nghị dùng corticoides liều cao để cải thiện triệu chứng của người mẹ. Sau khi sinh, những bất thường về gan và huyết học sẽ mất đi sau vài ngày. Bệnh nhân bị hội chứng HELLP có nguy cơ <5% bị lại hội chứng này trong những lần mang thai khác, nhưng những người này lại bị tăng những nguy cơ khác như: tiền sản giật, nhau bong non và sinh non.
Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai
Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai là một bệnh lí hiếm gặp và xảy ra vào 3 tháng cuối thai kì. Nguyên nhân chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền thiếu các enzyme cần thiết cho việc chuyển hóa chất mỡ của thành phần ty thể trong tế bào gan. Vì vậy, chất mỡ bị đọng lại với một số lượng nhiều bất thường bên trong tế bào gan dẫn đến gan bị viêm và thoái hóa mỡ. Khi một số lượng lớn tế bào gan bị hoại tử ồ ạt sẽ dẫn đến suy giảm chức năng gan. Triệu chứng thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 3 và tương tự như triệu chứng của hội chứng HELLP. Đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu, vàng da. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê, suy thận, rối loạn đông máu và tử vong. Do sau khi sinh bệnh hồi phục tự nhiên nên thai nhi cần được sinh ra càng sớm càng tốt để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Săn sóc hậu sản bao gồm theo dõi tình trạng đông máu, đường huyết, suy thận, rối loạn chức năng gan. Những người mẹ mang yếu tố gen liên quan đến việc thiếu khả năng oxid hóa chất mỡ có nguy cơ gan bị nhiễm mỡ trở lại trong những lần mang thai khác.