Hiển thị các bài đăng có nhãn thai kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thai kỳ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Chế độ dinh dưỡng của mẹ giúp bé thông minh

Chế độ ăn uống của mẹ thời kỳ bầu bí liên quan mật thiết đến sự phát triển não bộ của bé. Bởi vậy mẹ nhất định phải nắm bắt thời cơ này mà bồi bổ cho hợp lý. Tám nguyên tắc dinh dưỡng sau đây sẽ giúp mẹ bé.

Chú trọng thực phẩm chính, trạm năng lượng phát triển não bộ cho bé

Đường Glucose là chất dinh dưỡng duy nhất cung cấp năng lượng cho não mà hợp chất carbohydrate chính là nguồn cung cấp đường glucose chủ yếu. Bởi vậy những thực phẩm giàu carboydrate như gạo, bột mì, ngô hay các loại đậu, khoai tây, trái cây nên chiếm tỉ lệ khoảng 60% (thậm chí có thể nhiều hơn) trong bữa ăn của người mẹ. Mẹ cũng nên hạn chế nạp những thực phẩm có chứa hàm lượng đường đơn giản cao như đường mía, đường đỏ.

Bổ sung protein, vật chất nền móng để phát triển não bộ của bé.

Cần phải có 35% protein để duy trì và phát triển chức năng của bộ não, tăng cường khả năng tư duy, phân tích và lý giải của não. Nhưng bổ sung protein cần phải được tiến hành dưới tiền đề năng lượng và hợp chất carbohydrate cũng được cung cấp đầy đủ. Nếu nhiệt lượng chưa được bổ sung đầy đủ mà đã bổ sung hàm lượng lớn protein thì protein không những không dự trữ và chuyển cho bào thai mà ngược lại sẽ bị đốt cháy để cung cấp năng lượng cho mẹ. Hơn thế nữa, hàm lượng lớn axit uric sản sinh trong quá trình phân giải protein sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho thận.

Vậy nên tiền đề của việc ăn ngon chính là ăn no, đặc biệt đối với thai phụ ở thai kỳ thứ hai, bởi việc mang thai cộng với gánh nặng công việc sẽ khiến năng lượng của người mẹ bị tiêu hao nhiều hơn. Một bà mẹ 55-60kg, làm công việc lao động tương đối nhẹ nhàng một ngày ngoài 6 lạng tinh bột cần phải bổ sung 500ml sữa, 1 quả trứng, 3 lạng thịt nạc (thịt gia súc, gia cầm hay tôm cá) và lượng hoa quả rau xanh phù hợp. Đặc biệt nên cố gắng đảm bảo lượng thực phẩm động vật vì hàm lượng protein trong động vật cao hơn nhiều so với thực vật.

Chú trọng đến axit béo – vũ khí bí mật giúp bé thông minh

Chất béo chiếm khoảng 50-60% trọng lượng não bé. Những loại chất béo có chất lượng cao đặc biệt là axit béo tổng hợp không no (polyunsaturated fatty acid) và chất béo lecithin có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển tế bào não và hình thành myelin (chất béo bao bọc xung quanh dây thần kinh). Dầu bắp, dầu oliu, dầu mè, dầu đậu nành, dầu thực vật và các loại cá biển nước sâu, tôm đều là những thực phẩm có nguồn axit béo rất tốt.

Tăng cường vitamin B, axit folic – giải pháp ngừa khuyết tật ống thần kinh

Vitamin nhóm B có tác dụng duy trì chức năng bình thường của hệ thần kinh, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Phụ nữ trước khi mang thai khoảng một tháng và trong suốt thời gian đầu của thai kỳ mỗi ngày nên bổ sung 400mg axit folic để ngăn chặn khuyết tật ở ống thần kinh. Ngũ cốc, gan, thịt, đậu và rau sẫm màu chính là nguồn vitamin nhóm B rất phong phú.

Bổ sung DHA và Cholin – thúc đẩy sự phát triển của tế bào não của thai nhi

DHA là một loại axit béo tổng hợp không no tồn tại trong thiên nhiên rất cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh, nó có liên quan trực tiếp đến sự phát triển tế bào thần kinh ở não thai nhi và võng mạc. Phụ nữ mang thai mặc dù có thể bổ sung DHA thông qua axit linolenic có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật chuyển hóa thành DHA, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có khoảng 3% axit linolenic loại này chuyển hóa thành DHA, do đó bổ sung DHA thông qua thực phẩm có nguồn gốc từ động vật vẫn là sự lựa chọn thích hợp cho thai phụ.

Trong mỡ của tôm, cá biển (đặc biệt là cá nước sâu như cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá chích, cá chình, tôm sú…) có chứa hàm lượng lớn DHA, do đó mỗi tuần bạn hãy ăn 3-4 lần tôm cá để cung cấp DHA cho thai nhi.

Hàm lượng DHA của động vật trên cạn tương đối nhỏ, do đó nếu không ăn được cá tôm bạn có thể lựa chọn các sản phẩm có chứa DHA (từ sữa, trứng, đậu tương…) để hỗ trợ cho việc hấp thụ DHA.

Cholin là dưỡng chất thiết yếu của cơ thể, có vai trò tăng cường trí nhớ nhưng lượng Cholin tích lũy trong cơ thể khó có thể thỏa mãn nhu cầu khi mang thai, do đó bổ sung lượng cholin thích hợp từ các thực phẩm như tim gan động vật, trứng, thịt, sữa, đậu lạc, khoai tây sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các tế bào não của thai nhi.

Không quên kẽm. Thiếu kẽm, não bé kém phát triển

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể, nó có vai trò tác động chọn lọc lên quá trình phân giải axit nucleic và protein – những thành phần quan trọng nhất của sự sống. Kẽm có độ tập trung cao trong não đặc biệt ở thùy hải mã, ở vỏ não. Nếu thiếu kẽm có thể dẫn đến rối loạn thần kinh và cơ thể phát sinh bệnh tâm phần phân liệt. Để bổ sung lượng kẽm thích hợp cho thai nhi, mẹ cần phải ăn các loại thực phẩm có hàm lượng kẽm cao như thịt, gan, trứng, sữa, cá tôm, rau củ quả có màu vàng hoặc màu xanh đậm.

Đừng bỏ qua iốt – nguyên liệu cần thiết cho phát triển não và hệ thần kinh

Iốt tập trung chủ yếu ở tuyến giáp để tổng hợp hoócmôn giáp trạng, nó cũng là nguyên liệu thiết yếu phát triển não và hệ thống thần kinh ở thai nhi. Thông thường muối ăn có chứa iốt, nhưng mẹ cần biết cách sử dụng muối cho đúng: dù chiên xào hay nấu cũng nên bỏ muối sau khi đã nấu kỹ hoặc trước khi bắc nồi ra để tránh mất iốt trong quá trình nấu nướng lâu. Ngoài ra, rong biển, cá biển cũng rất giàu iốt.

Cảnh giác với thực phẩm có chứa kim loại nặng. Không ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá có kích thước lớn

Ăn cá tất nhiên rất có lợi, nhưng không nên ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá lớn vì trong cơ thể chúng có chứa thủy ngân. Chất này sẽ đi qua nhau thai để vào bào thai và tích lũy trong cơ thể bé lâu dần có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ bé và rất có thể sẽ khiến trí lực của bé chậm phát triển.

Cuối cùng xin nhắc các bà mẹ rằng vitamin và các nguyên tố vi lượng như canxi, phốt pho, natri, kali, iốt, sắt, kẽm, mangan đều là những dưỡng chất không thể thiếu cho hoạt động của não bé. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ giúp não bé phát triển thông minh vượt trội.

Theo – Mẹ & Bé

Khi nào bạn nên ngừng cho con bú?

Một khi con bạn đã bắt đầu không mấy hứng thú với việc bú mẹ, bạn có thể tự hỏi khi nào bạn nên ngừng cho con bú. Lợi ích của nuôi con bằng sữa mẹ rất nhiều, nhưng điều gì sẽ xảy ra khi bé đã có kế hoạch khác? Cho dù đang đấu tranh với việc cho bé ngừng bú hay chỉ là muốn hiểu hơn thời điểm nên đưa ra quyết định này, bạn nên tham khảo bài viết sau.

Thế nào là tự cai sữa mẹ ?

Khi bé yêu của bạn bắt đầu khám phá thế giới xung quanh, nhu cầu của bé bắt đầu thay đổi. Thông thường ngoài một tuổi, khi nhà thám hiểm tí hon có thể uống bằng cốc và ăn thức ăn đặc, bé sẽ dần dần giảm hứng thú với sữa mẹ và coi đây là một quá trình tự cai sữa.

Con đã sẵn sàng để thôi sữa mẹ ?

Học viện nhi khoa Hoa Kỳ khuyến cáo nên cho con bú ít nhất trong năm đầu tiên của bé. Tiến sĩ Charles Shubin, giám đốc khoa nhi, Trung tâm y tế Mercy ở Baltimore cho biết: “Nguyên tắc cơ bản là trẻ sơ sinh cần sữa mẹ, hoặc một dạng thức tương đương, trong khi sữa là thành phần chính của chế độ ăn uống của bé. Đến một tuổi, hầu hết trẻ sơ sinh đã chuyển sang một chế độ ăn uống chủ yếu dưới dạng thức ăn thể rắn, và sữa trở thành một loại nước giải khát”.

Tuy nhiên, khi bé có kế hoạch khác, không phải tất cả các bà mẹ và em bé đều duy trì thời gian bú mẹ cho đến khi bé tròn 1 tuổi. “Nếu một em bé tự bỏ bú mẹ trước khi một năm tuổi, và được ăn thực phẩm là chủ yếu thì không có vấn đề gì về thức uống. Trước 10 hoặc 11 tháng, mặc dù, hầu hết trẻ sơ sinh vẫn còn nhận được một lượng đáng kể các chất dinh dưỡng của từ sữa mẹ, do đó, một em bé tự cai sữa trong độ tuổi sẽ được bổ sung theo đúng công thức ấy”, Tiến sĩ Shubin tư vấn.

Những dấu hiệu nhầm lẫn của việc tự cai sữa

Ngày nay, dường như có vẻ người lớn ít quan tâm đến việc ngưng nghỉ từ lối sống năng động của mình đến việc cho con bú? Lang thang xung quanh hơn hay tạm dừng để nhồi nhét? Đừng vô tình vứt bỏ đi cái quý giá.

Từ 6 đến 12 tháng tuổi, bé có thể trở nên bị phân tâm bởi thế giới xung quanh. Mặc dù bé không để ý nhiều đến ti mẹ và mải chơi nhưng không nhất thiết có nghĩa là bé sẵn sàng từ bỏ sữa mẹ hoàn toàn. Nếu bé tự cai sữa trước 12 tháng, bạn có thể muốn gắn bó với bé, sự thờ ơ với sữa mẹ trong ngày hôm nay có thể hoàn toàn khác vào ngày mai.

Theo sát sự dẫn dắt của bé

Tuy nhiên, sẵn sàng hay không, một ngày nào đó bé yêu sẽ bắt đầu tự thôi sữa mẹ. Tập trung vào sự tăng trưởng tích cực của em bé có thể giúp bạn đưa ra quyết định dễ hơn.

Trong một số trường hợp, bản năng có một cách để cho bé yêu của bạn biết rằng đã đến lúc thôi sữa mẹ.

Nếu bạn nhận ra dấu hiệu tự cai sữa và đang gặp khó khăn để đưa ra quyết định trong thời gian này, hãy tìm kiếm sự hỗ trợ tinh thần từ các bà mẹ khác hoặc tham gia một diễn đàn trực tuyến cho các bà mẹ đã trải qua giai đoạn cuối cùng của thời gian nuôi con bằng sữa mẹ. Sau đó bạn hãy an ủi mình đã làm đúng có thể là vài tháng hoặc vài năm, bạn nuôi dưỡng con mình theo một cách mang lại cho con nhiều lợi ích nhất!

Theo – aFamily

Thai nghén và những bệnh gan thường gặp

Khám thai định kỳ để phát hiện những bất thường

Thai nghén là tình trạng sinh lý tự nhiên, song việc mang thai và sinh con không phải bao giờ cũng thuận buồm xuôi gió. Các cơ quan nội tạng của người mẹ đặc biệt là tim, gan, phổi, thận… phải đảm nhiệm thêm trọng trách vì thai nhi đang phát triển thông qua cơ thể của người mẹ.

Bệnh ứ mật tại gan
Đó là tình trạng mật bị ứ lại trong gan, ngấm vào máu rồi ngấm vào da, gây ra triệu chứng ngứa và vàng da. Tỉ lệ căn bệnh này khoảng dưới 1%. Nó có thể thay đổi từ nhẹ đến nặng và thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 2 hoặc thứ 3.
Ngứa da thường gặp nhất ở lòng bàn tay, bàn chân. Một số người có thể bị ngứa toàn thân. Triệu chứng ngứa tiến triển càng lúc càng nhiều làm bệnh nhân mất ngủ và ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày. Vàng da xảy ra khoảng 10 – 20% số người bị căn bệnh này. Nguyên nhân của bệnh chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền, tăng nhạy cảm với estrogen. Bệnh thường gặp hơn ở người sinh đôi hoặc đa thai do tăng nội tiết tố. Khoảng 50% số bệnh nhân bị ứ mật thai kỳ có tiền căn gia đình.

Tiên lượng cho mẹ tốt. Triệu chứng tự biến mất khoảng 2 ngày sau sinh. Tuy vậy, khoảng 60 – 70% số bệnh nhân sẽ bị lại bệnh này khi mang thai lần tới và nguy cơ bị ngứa da khi dùng thuốc ngừa thai. Song bệnh này lại có thể ảnh hưởng tới thai nhi. Khoảng 60% số bà mẹ bị căn bệnh này có nguy cơ sinh non trước 37 tuần. Trẻ sinh non có nguy cơ trên sức khỏe tổng quát suốt thời kì sơ sinh và sau đó. Một số trẻ chết lúc mới sinh. Bệnh này cũng làm tăng nguy cơ thai chết lưu với tỉ lệ nhỏ (1 – 2%), suy thai. Do vậy, cần theo dõi thai nhi cẩn thận với siêu âm và đo tim thai. Nếu bất thường có thể cần đề nghị sinh sớm để giảm nguy cơ thai chết lưu. Có thể chọc ối tuần thứ 36 để xem phổi thai nhi có phát triển đầy đủ không; nếu phổi thai nhi bình thường có thể tự thở, có thể kết thúc thai kì vào tuần thứ 36 đến tuần thứ 38 để phòng ngừa thai chết lưu. Vitamin K nên sử dụng vì nguy cơ xuất huyết sau sinh tăng. Cholestyramine và ursodeoxycholic acid làm giảm triệu chứng ngứa da và điều chỉnh một số rối loạn chức năng gan.

Hội chứng HELLP
HELLP là từ viết tắt của hemolysis (tán huyết), elevated liver enzymes (tăng men gan) và low platelet (giảm tiểu cầu). Hội chứng xảy ra ở 10% số bệnh nhân mang thai bị tiền sản giật nặng. Ở người bị tiền sản giật nặng, khi thấy tiểu cầu giảm <100.000/mm3 nên xem phết máu ngoại biên và xét nghiệm. Triệu chứng của hội chứng HELLP thường xảy ra vào thai kỳ thứ 3, mặc dù hội chứng có thể bắt đầu sớm hơn. Triệu chứng cũng có thể xuất hiện trong 48 giờ đầu sau sinh. Các triệu chứng của bệnh bao gồm: đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu. Nếu không điều trị kịp thời, hội chứng HELLP có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho cả mẹ lẫn thai nhi. Trên người mẹ, bệnh có thể gây hư hại gan nghiêm trọng, hiếm hơn có thể gây vỡ gan, suy thận, rối loạn đông máu, đột quỵ và tử vong. Khi người mẹ bị những biến chứng nghiêm trọng, thai nhi sẽ nguy hiểm tính mạng. Hội chứng HELLP làm tăng nguy cơ nhau bong non trước khi sinh, đe dọa tính mạng mẹ và thai nhi cũng như tăng nguy cơ sinh non.

Điều trị bệnh bằng cách kiểm soát huyết áp, truyền tiểu cầu nếu tiểu cầu < 20.000mm3 hoặc 40.000mm3 kèm theo rối loạn cầm máu. Chấm dứt thai kì ngay để phòng ngừa những biến chứng nặng. Nếu thai kì dưới 34 tuần, có thể trì hoãn khoảng 48 giờ để điều trị người mẹ bằng corticoides. Thuốc này giúp đẩy nhanh quá trình trưởng thành của phổi thai nhi và phòng ngừa biến chứng sinh non. Một số đề nghị dùng corticoides liều cao để cải thiện triệu chứng của người mẹ. Sau khi sinh, những bất thường về gan và huyết học sẽ mất đi sau vài ngày. Bệnh nhân bị hội chứng HELLP có nguy cơ <5% bị lại hội chứng này trong những lần mang thai khác, nhưng những người này lại bị tăng những nguy cơ khác như: tiền sản giật, nhau bong non và sinh non.

Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai
Gan nhiễm mỡ cấp trên người mang thai là một bệnh lí hiếm gặp và xảy ra vào 3 tháng cuối thai kì. Nguyên nhân chưa được hiểu rõ, có thể do yếu tố di truyền thiếu các enzyme cần thiết cho việc chuyển hóa chất mỡ của thành phần ty thể trong tế bào gan. Vì vậy, chất mỡ bị đọng lại với một số lượng nhiều bất thường bên trong tế bào gan dẫn đến gan bị viêm và thoái hóa mỡ. Khi một số lượng lớn tế bào gan bị hoại tử ồ ạt sẽ dẫn đến suy giảm chức năng gan. Triệu chứng thường bắt đầu xảy ra vào thai kì thứ 3 và tương tự như triệu chứng của hội chứng HELLP. Đau thượng vị hoặc hạ sườn phải, buồn nôn hoặc nôn ói, mệt mỏi, nhức đầu, vàng da. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh nhân có thể bị hôn mê, suy thận, rối loạn đông máu và tử vong. Do sau khi sinh bệnh hồi phục tự nhiên nên thai nhi cần được sinh ra càng sớm càng tốt để tránh những biến chứng nghiêm trọng. Săn sóc hậu sản bao gồm theo dõi tình trạng đông máu, đường huyết, suy thận, rối loạn chức năng gan. Những người mẹ mang yếu tố gen liên quan đến việc thiếu khả năng oxid hóa chất mỡ có nguy cơ gan bị nhiễm mỡ trở lại trong những lần mang thai khác.

ThS.BS. ĐINH DẠ LÝ HƯƠNG (SK&ĐS)

Viêm bàng quang cấp ở phụ nữ mãn kinh

Phụ nữ ở giai đoạn mãn kinh dễ mắc những bệnh lý mãn tính và bệnh viêm nhiễm, trong đó có viêm bàng quang cấp. Đây là bệnh lý thường gặp do vi khuẩn đi ngược dòng từ niệu đạo vào bàng quang gây bệnh.

Nguyên nhân

Phụ nữ khi đi tiểu, dòng nước tiểu xoáy dọc theo thành niệu đạo có thể làm những vi khuẩn ẩn náu quanh lỗ ngoài niệu đạo, sau đó đi ngược vào niệu đạo. Sau khi đi tiểu, niệu đạo khép từ trước ra sau, đẩy những giọt nước tiểu quanh lỗ ngoài niệu đạo đi vào trong bàng quang.

Uống nhiều nước trong ngày sẽ ngừa viêm bàng quang cấp

Ở phụ nữ trong giai đoạn sinh đẻ, dưới sự hỗ trợ nội tiết tố nữ, niêm mạc âm đạo, niêm mạc niệu đạo và niêm mạc bàng quang cùng với các hệ thống tuyến như tuyến skene, tuyến bartholine tiết ra những chất nhờn làm bôi trơn các thành ống và có tác dụng kháng khuẩn giúp cho bộ phận sinh dục ngoài luôn luôn được cân bằng nên vi khuẩn không có khả năng gây bệnh; đồng thời đi tiểu hết bãi không còn tồn dư nước tiểu và nước tiểu.

Phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh do nội tiết tố nữ giảm thấp nên vai trò của chất này không còn bao nhiêu kiến cho thành ống của đường tiết niệu cũng như đường sinh dục trở nên khô và teo. Đồng thời, các tế bào tuyến của biểu mô thành ống cũng không còn tiết nhiều chất nhờn nữa. Đây chính là yếu tố mà vi khuẩn có cơ hội phát triển gây bệnh.

Bệnh viêm bàng quang cấp còn có thể do các nguyên nhân khác như vi khuẩn được đưa vào bàng quang qua các thủ thuật như đặt sonde tiểu, soi bàng quang, vi khuẩn theo đường máu từ thận xuống bàng quang.

Các dấu hiệu nhận biết

Người bệnh đái buốt như cảm giác bị bỏng mỗi khi đi tiểu, kèm theo đau sau xương mu. Đái rắt, nhiều khi mỗi lần đi tiểu, chỉ ra vài giọt nước tiểu hoặc rất ít nước tiểu. Đái nhiều lần, đái đêm nhiều lần và có thể đái ra máu cuối bãi. Nước tiểu thường đục, mùi khó ngủi và đôi khi có máu. Các dấu hiệu toàn thân ít xảy ra, chỉ khi có dấu hiệu nặng, cảm giác ớn lạnh, sốt và đau nhiều vùng sau xương mu khi ấn vào.

Xét nghiệm huyết đồ: bạch cầu tăng, tập trung bạch cầu đa nhân trung tính tăng.

Làm xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu, có thể xuất hiện nhiều hồng cầu, bạch cầu, vi khuẩn. Khi cấy nước tiểu có thể xác định vi khuẩn gây bệnh.

Siêu âm ở những bệnh nhân viêm bàng quang cấp: thấy thành bàng quang dày, bờ thành không đều, có thể có cặn lắng trong bàng quang.

Chẩn đoán phân biệt

Viêm bàng quang do lao: bệnh lý thường hay tái phát, triệu chứng hay gặp đái ra mủ, cấy nước tiểu không tìm ra vi khuẩn, ngược lại có thể thấy trực khuẩn lao. Điều trị thuốc kháng sinh thông thường, không đáp ứng.

Viêm bàng quang kẽ: đây là thể bệnh bàng quang còn chưa rõ ràng về nguyên nhân và cơ chế. Triệu chứng cơn đau bàng quang ngắt quãng, rối loạn đi tiểu. Soi bàng quang có thể thấy niêm mạc thành bàng quang loét và xơ hóa. Điều trị chống viêm nhiễm, giảm đau, kháng viêm. Nhưng kết quả tạm thời.

Ung thư bàng quang: bệnh lý này ít gặp chỉ gặp trong trường hợp ung thư cổ tử cung di căn bàng quang. Người bệnh đau vùng tiểu khung, đái ra máu toàn bãi và các triệu chứng của bệnh ung thư cổ tử cung.

Điều trị

Sử dụng thuốc kháng sinh qua đường tiết niệu chủ yếu là thuốc dùng đường uống như: amoxicillin, augmentin, ciprofloxacin… Dùng thuốc kháng sinh trung bình 7 – 10 ngày. Kết hợp với thuốc chống co thắt như Spasmaverin, Spasless, Spasfon.

Cần ăn nhiều rau, trái cây, tránh dùng các chất khích thích như trà, cà phê, rượu. Uống nhiều nước trong ngày.

Vệ sinh vùng âm hộ sạch sẽ, bằng nước vệ sinh phụ khoa như dung dịch lactacyd FH, dung dịch gynofar. Mỗi lần đi tiểu cần lau bằng khăn giấy vệ sinh, tránh dùng vòi hoa sen rửa trực tiếp vào âm hộ, điều này giúp cho vi khuẩn ẩn náu ở lỗ ngoài niệu đạo có cơ hội vào trong niệu đạo rồi lên bàng quang theo dòng nước rửa.

Trường hợp nếu điều trị thuốc kháng sinh 10 ngày không kết quả, có thể cấy nước tiểu và làm kháng sinh đồ và điều trị thuốc theo kháng sinh đồ.

BS.CKII. TUÊ THÀNH

Có cần thiết phải kiêng quan hệ khi vợ mang thai?

Theo quan niệm cũ, để bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi, các ông chồng phải “ăn nhạt” trong suốt thời gian người vợ có thai, thậm chí, việc kiêng cữ vẫn tiếp tục cho đến khi em bé trong 3 tháng.

Điều đó đã dẫn đến những chuyện dở khóc dở cười, thậm chí gây bệnh cả thể chất và tinh thần cho những cặp vợ chồng trẻ sung sức. Ngày nay, sau nhiều nghiên cứu, khoa học đã chứng minh, việc quan hệ tình dục khi mang thai không ảnh hưởng đến sức khoẻ của bà mẹ và em bé. Em bé được bảo vệ rất kín trong túi ối, cổ tử cung được đóng kín bằng chất nhầy đặc (gọi là nút cổ tử cung), nên các tác động của quá trình yêu đương của bố mẹ không thể gây hại cho thai nhi. Không những không có hại, mà trạng thái cực khoái của người mẹ còn có tác dụng ru thai nhi vì nó làm giải phóng một loại hormon kích thích co bóp dạ con. Trong nhiều trường hợp, “chuyện ấy” còn giúp tinh thần người mẹ phấn chấn hơn, việc sinh nở cũng dễ dàng hơn.

Việc vẫn tiếp tục quan hệ tình dục khi có thai không phản khoa học, nhưng các cặp vợ chồng cần lưu ý để bảo đảm an toàn cho sức khoẻ tinh thần cũng như thể chất của cả mẹ và thai nhi: Những phụ nữ đã sảy thai vài lần, nhau thai bám thấp, có vấn đề bất thường cổ tử cung… nên tránh sinh hoạt tình dục trong những tháng đầu mang thai. Có tiền sử sảy thai, đẻ non ở lần có thai trước nên cẩn thận khi quan hệ tình dục trong giai đoạn 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối vì sẽ kích thích làm tử cung co bóp đẩy thai ra ngoài. Trường hợp nhau tiền đạo không nên quan hệ tình dục ở 3 tháng cuối thai kỳ vì dễ bị chảy máu. Nếu thấy đau bụng hoặc ra huyết sau khi quan hệ thì phải dừng chuyện ấy lại ít nhất 2 tuần sau đó và đi tư vấn bác sĩ. Thai phụ mắc bệnh tăng huyết áp, mang thai đôi, người chồng có bệnh lây qua đường tình dục, gần đến ngày sinh… nếu muốn quan hệ vợ chồng cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Với các trường hợp mẹ bị suy dinh dưỡng nặng, tăng cân ít, da xanh, thai bị suy dinh dưỡng cần cân nhắc khi quan hệ tình dục. Do tinh trùng có chứa hormon prostaglandin kích thích sự co bóp nên muốn thực sự an toàn, khi sinh hoạt vợ chồng nên dùng bao cao su.

Có một điều các bà bầu cần đặc biệt chú ý đến việc theo dõi xem sau quan hệ tình dục cơ thể có những phản ứng đặc biệt không. Nếu có bất thường như đau bụng, ra huyết… phải đến khám bác sĩ sản khoa để được theo dõi và điều trị kịp thời.

BS. Phương Thu