Hiển thị các bài đăng có nhãn Tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tim mạch. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Tai nạn ở người già

Các yếu tố làm người già dễ bị tai nạn là xương loãng, dễ gãy, chân yếu, mắt kém và các bệnh ly tuổi già.

Nguyên nhân

1. Tai nạn do môi trường: Người già có thể bị té ở ngoài đường hoặc trong nhà do đường sá trơn trợt vì nước đọng, vỉa hè không bằng phẳng. Trong nhà những chỗ có thể bị tai nạn là cầu thang, các bậc tam cấp… ánh sáng thiếu cũng góp phần gây tai nạn, nhất là ở sàn nước, nhà vệ sinh. Té ngã cũng có thể xảy ra trong lúc với tay hoặc trèo lên ghế để lấy đồ đạc trên cao…

2. Tai nạn do bệnh ly : ở người già các bệnh ly sau đây dễ dẫn đến tai nạn:

+ Chóng mặt là chứng thường thấy ở người già. Chóng mặt có thể đơn thuần hoặc do sử dụng thuốc hạ huyết áp quá liều hoặc huyết áp tụt quá nhanh do tác dụng của thuốc điều trị. Khi bị té do chóng mặt hoặc có kèm theo bất tỉnh thoáng qua, hoặc cơn đột quỵ do thiếu máu cơ tim phải đi khám bệnh để tìm nguyên nhân bệnh ly .

+ Tác dụng phụ của thuốc ngủ, các bệnh tim mạch, các bệnh về khớp xương, bệnh Parkinson làm run tay chân là những nguy cơ rình rập người già.

Phòng tránh

+ Tập thể dục để duy trì sức mạnh của hai chân, nhờ đó giữ được thăng bằng và tự tin khi đi lại. Người có cân nặng vừa phải, gọn gàng, ít có nguy cơ té ngã hơn người nặng nề.

+ Trong nhà có thể gắn thêm những vật dụng phù hợp với sinh hoạt của người già: Ðặt các tấm lót bằng nhựa nhám hoặc thảm ở vùng trơn trợt như sàn tắm, nhà vệ sinh. Gắn thêm các tay vịn ở nhà tắm, ở lối đi có độ cao thấp như cầu thang, thềm nhà, bậc tam cấp…

+ Bố trí đủ đèn sáng, các công tắc điện, điện thoại sao cho các cụ dễ với tới khi muốn sử dụng. Ðặc biệt những người thường ở nhà một mình nên gắn thêm điện thoại, chuông báo ở nơi thấp để khi bị té có thể liên lạc với người thân hoặc hàng xóm.

+ Loại bỏ chướng ngại vật nơi thường đi lại. Nếu cảm thấy đôi chân không vững hoặc chóng mặt nên đi tiểu đêm tại chỗ bằng bô và không được leo trèo trên ghế để làm lụng, lấy đồ vật.

+ Lúc chỉ có một mình, khi té phải nằm im khoảng 30 phút để cho hết đau, khỏe lại rồi mới tìm cách ngồi dậy, đứng lên vì các cố gắng của cơ bắp có thể làm gãy xương vốn đã bị xốp.

BS Trần Trinh Thuần

Muối ăn và sức khỏe người cao tuổi

Người cao tuổi (NCT) thận yếu, các cơ quan như: hệ tiêu hóa, thận, tim… mang tính biến hóa suy thoái thấy rõ, sức đề kháng yếu, suy giảm chức năng… nên không thích hợp ăn mặn. Bởi lẽ, trong cơ thể nhiều muối thì cần lượng nước tương ứng để điều tiết, nước bài tiết không thông, tích tụ vào cơ bắp, làm cho cơ thể giữ nước thì hình thành thủy thũng.

NCT ăn muối quá nhiều càng dễ tạo thành cao huyết áp, ảnh hưởng chức năng tim, thận. Bởi vì, muối làm cho động mạch nhỏ co thắt, huyết áp tăng cao, cũng như thúc đẩy tăng nhanh quá trình xơ hóa của các động mạch tại thận, gây ra tăng huyết áp, tổn hại chức năng thận.

Bên cạnh đó, NCT cũng nên ít ăn cà muối, dưa muối, bởi đó là những thức ăn chứa nhiều muối, hơn nữa hàm lượng vitamin cực thấp, vì thế không thích hợp cho NCT ăn thường xuyên. Ăn muối nhiều sẽ gây ra rất nhiều bệnh, chẳng hạn như: bệnh tim, não, cao huyết áp, bệnh thận và xơ gan…

Cũng cần lưu ý, NCT do vị giác “lão hóa”, nhạy cảm với vị mặn kém, phản ứng kém với món ăn mặn, do vậy, cần đặc biệt quan tâm hơn, không nên chỉ khi miệng nếm thấy mặn mới cho là mặn, nhiều khi không cảm thấy mặn,  thì lượng natri đã quá nhiều rồi.

Theo bee.net

Ngừa bệnh động mạch vành ở người cao tuổi

Càng có tuổi thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và chuyển hóa trong đó có bệnh động mạch vành (ĐMV) ngày càng tăng lên. Có đến 1/3 số bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bị tử vong trong vòng 24 giờ kể từ khi bị đau ngực và rất nhiều bệnh nhân còn sống sót có di chứng trầm trọng. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa sự phát triển bệnh ĐMV (phòng ngừa tiên phát) hoặc làm giảm nguy cơ bị NMCT cấp ở các bệnh nhân đã mắc bệnh ĐMV (phòng ngừa thứ phát) bằng cách làm thay đổi các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Phòng ngừa tiên phát bệnh ĐMV

Các nguy cơ chính gây bệnh ĐMV là hút thuốc lá, thừa cân, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐMV sớm (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), rối loạn lipid máu, đái tháo đường và tăng huyết áp. Các bác sĩ cần phát hiện và đánh giá tình hình kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh ĐMV cho tất cả các bệnh nhân theo định kỳ (3-5 năm). Nguy cơ mắc bệnh ĐMV nên được tính toán cho các bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ chính trở lên để đưa ra chiến lược phòng ngừa tiên phát phù hợp. Phòng ngừa bằng aspirin có thể gây ra các biến chứng chảy máu và chỉ nên sử dụng aspirin để phòng ngừa tiên phát ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Phòng ngừa thứ phát

Thay đổi lối sống: Trước khi ra viện, các bệnh nhân NMCT cấp cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần được hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên nitroglycerin dưới lưỡi, để đảm bảo chắc chắn là bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát. Các bệnh nhân có triệu chứng của NMCT cấp (đau thắt ngực có hoặc không lan ra tay, lưng, cổ, hàm, hay thượng vị; khó thở; mệt; vã mồ hôi; buồn nôn; choáng váng) nên được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu hơn là bởi người nhà hay bạn bè, vì các nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời các thủ thuật có thể cứu sống bệnh nhân (hồi sức tim phổi, sốc điện chuyển nhịp) khi cần thiết. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT cấp có thể giảm đi một cách có ý nghĩa nếu bệnh nhân và người nhà sớm nhận ra triệu chứng và gọi cho trung tâm cấp cứu, nhờ vậy bệnh nhân sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhân viên y tế sớm nhất.

Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 – 22,9 kg/m2. Nếu vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Bỏ hút thuốc lá: Ngừng hút thuốc lá là một yếu tố quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể làm giảm nguy cơ bị tái phát NMCT. Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch. Lợi ích của việc ngừng hút thuốc lá gần như đạt được tức thì. Ngay khi bệnh nhân ngừng hút thuốc, nguy cơ tái phát bệnh bắt đầu giảm xuống. Sau 5 năm cai thuốc lá, nguy cơ bị NMCT tái phát sẽ giảm đi một nửa so với trường hợp bệnh nhân tiếp tục hút thuốc.

Kiểm soát các bệnh có liên quan

Huyết áp: Cần kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp (THA). Các bệnh nhân THA nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Đường huyết: Kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Rối loạn lipid máu: Nên khuyên các bệnh nhân ăn chế độ có chứa ít cholesterol, ít chất béo bão hòa, nhiều chất xơ hòa tan được, nhiều rau và hoa quả. Các thuốc statin đã được chứng minh là biện pháp can thiệp bằng thuốc có hiệu quả nhất. Nồng độ lipid mục tiêu phụ thuộc vào nguy cơ cơ bản của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao nên điều trị rối loạn lipid máu tích cực để đạt nồng độ LDL-C mục tiêu dưới 70mg/dL.

Hormon liệu pháp: Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCT cấp như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố bệnh ĐMV. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCT cấp không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên dùng tiếp tục khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Hoạt động thể lực: Các bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Chống ôxy hóa: Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp để phòng ngừa thư phát các bệnh tim mạch.

PGS. TS. Nguyễn Quang Tuấn (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Bất thường đường huyết ở người cao tuổi

Đối với người cao tuổi (NCT), những bất thường xảy ra ở bất kỳ một cơ quan nào cũng là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Tăng hay giảm đường huyết (ĐH) là một trong những bệnh lý cần đặc biệt chú ý. Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả, nhất là NCT có những hướng xử trí cần thiết nếu rơi vào tình trạng này.

Đường huyết bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4-6,6 mmol/l. Khi ĐH nằm ngoài ngưỡng bình thường này được xem là tăng hay hạ. Về già, hệ thống điều hòa ĐH kém nhạy bén, do vậy dễ dẫn đến triệu chứng tăng hoặc hạ ĐH. Những biểu hiện bất thường này có thể gây ra những hậu quả xấu cho NCT.

Tăng Đường Huyết xảy ra khi nào?
Tình trạng tăng ĐH ở NCT (ngoại trừ người có bệnh đái tháo đường) trong hầu hết trường hợp là tạm thời (khi vận động, khi ở trạng thái tâm lý quá phấn khích: cáu giận, hoảng sợ, bực tức, lo phiền…). Với NCT, chỉ cần nhớ rằng nếu tình trạng trên kéo dài và xảy ra thường xuyên, có thể làm tiết nhiều adrenalin, gan cạn kiệt glucid – đe dọa chuyển sang hạ ĐH. Thêm nữa, những trạng thái tâm lý trên còn ảnh hưởng xấu tới tim mạch, huyết áp. Hình thức tập luyện khí công và thiền tỏ ra có tác dụng tốt.
Trường hợp tăng ĐH kéo dài gặp trong bệnh đái tháo đường. Ở NCT, bệnh này không do thiếu insulin mà do các tế bào sử dụng kém hiệu quả chất này, do vậy nói chung những năm đầu tiên chưa cần chữa bằng insulin (như với người trẻ). Hiện đã có rất nhiều loại thuốc chữa, dùng lâu dài, nhưng chọn loại nào thích hợp thì cần được thầy thuốc hướng dẫn và bệnh nhân tự theo dõi. Phát hiện sớm bệnh đái tháo đường ở NCT không dễ, vì ĐH tăng thường không gây ra triệu chứng mà bệnh được phát hiện do tình cờ.
Do vậy, ở tuổi trên 60 rất nên đo ĐH định kỳ. Không nên đo trong nước tiểu (vì có đường trong nước tiểu là bệnh đã tiến triển một thời gian dài). Đái tháo đường ở NCT thường đi liền với các bệnh khác như: xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, do vậy những yếu tố này cần được kiểm soát chặt chẽ, NCT cần có một chế độ ăn uống và tập luyện sau khi đã đi thăm khám và có ý kiến của bác sĩ.

Xử trí đúng khi bị hạ Đường huyết
Hạ ĐH do đột ngột tăng lượng sử dụng, trong khi kho dự trữ đường ở gan không còn dồi dào, hoặc không huy động kịp. Nói chung, gan NCT giảm khả năng dự trữ glucid, nhất là khi xa bữa ăn (một số cụ già cần ăn nhiều bữa).
Khi tiếp cận môi trường lạnh (do đột ngột ra lạnh mà không mặc đủ ấm, hoặc do ở lâu ngoài trời lạnh), người trẻ dễ thích nghi, còn NCT rất dễ hạ ĐH. Nếu NCT dùng sức đột ngột mà thiếu sự khởi động cho cơ thể kịp thích nghi, cũng dẫn đến hạ ĐH. Ví dụ, đột ngột thực hiện một loạt động tác thể dục tương đối mạnh, hoặc tập khi bụng đói…

Khi có cơn nóng giận kéo dài, không tự kiềm chế được…
Hạ ĐH do gan giảm dự trữ. Ở NCT, ngay sau khi ăn, tổng lượng đường ở gan vẫn thấp. Tình trạng này càng rõ nếu mắc các bệnh gan mạn tính (xơ gan, suy gan), đáng chú ý là gan của người nghiện rượu… Nhiều người nghiện từ thời trẻ, dần dần có thói quen uống mà quên ăn. Một dấu hiệu nói lên tình trạng hạ ĐH ban đêm là ngủ mê mệt, trong giấc mơ thấy mình ăn rất nhiều và ngon lành. Một nguy cơ là dự trữ protein của cơ thể có thể cạn kiệt dần, do biến thành glucose để chống hạ ĐH. Hậu quả là suy dinh dưỡng (khó phục hồi).

Hạ ĐH do sử dụng quá mức các biện pháp chữa bệnh đái tháo đường.
Có thể do người bệnh sử dụng một chế độ ăn quá nghèo glucid với mục đích tích cực chữa bệnh, phòng biến chứng. Nên nhớ rằng, dù mắc bệnh đái tháo đường, bệnh nhân vẫn cần một khẩu phần glucid đủ mức cần thiết, chủ yếu là loại glucid nguyên hạt. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường bị hạ ĐH thường do sử dụng quá mức các thuốc hạ ĐH (hy vọng kiềm chế bệnh tốt hơn), mà không theo chỉ dẫn của thấy thuốc và không tự theo dõi định kỳ mức ĐH.
Tế bào não duy nhất chỉ sử dụng glucose làm thức ăn, mà không sử dụng mỡ, protein như mọi tế bào khác. Do vậy, nếu ĐH hạ đột ngột xuống dưới 4mmol/l sẽ có ngay các triệu chứng thần kinh: run rẩy, mắt hoa, xây xẩm; nếu giảm tới 3mmol/l sẽ có bủn rủn, choáng váng, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, mạch yếu… Nếu còn hạ tiếp sẽ co cứng hàm, lú lẫn, mất hẳn trương lực các cơ (ngã vật), hôn mê. Cùng một mức độ giảm ĐH, NCT thường có bệnh cảnh nặng hơn, khó cứu chữa hơn (so với người trẻ). Nếu hạ ĐH từ từ, thoạt tiên thấy đói cồn cào, bộ máy tiêu hóa co bóp mạnh. Sau đó cũng là run rẩy, mắt hoa, vã mồ hôi lạnh, tứ chi bủn rủn; do diễn biến kéo dài nên cơ thể trẻ đủ thời gian để kịp điều chỉnh (huy động protein); trái lại, NCT sự huy động này tỏ ra chậm chạp và kém hiệu lực, do vậy hậu quả thường nặng nề: có thể hôn mê, có thể thiểu lực kéo dài, có thể suy cạn kho protein khó hồi phục.
Trong tình trạng này, NCT cần ăn ngay các loại glucid dễ hấp thu: kẹo, bánh ngọt, khẩn cấp hơn có thể dùng nước đường (không dùng đường hóa học), nước quả cây, sữa… Trường hợp khẩn cấp phải truyền glucose vào máu.

GS. Nguyễn Ngọc Lanh (SKNCT/8-2011)

Sữa nào tốt nhất cho người già?

Khi nói đến sữa, đa phần mọi người chỉ quan tâm đến chọn sữa cho trẻ em. Những thắc mắc liên quan đến uống sữa làm sao cho khoẻ cũng chỉ nhằm đến trẻ sơ sinh hay đang tuổi ăn, tuổi lớn mà ít khi lưu tâm đến người già. Với những ảnh hưởng bệnh tật ở tuổi cao, người già cũng rất cần uống sữa để bồi bổ và nếu sử dụng không hợp lý sẽ gặp những hậu quả nguy hiểm cho sức khoẻ.

Sữa là sản phẩm rất giàu canxi, giàu đạm quý (đầy đủ các axit amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối) và chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B… nên đây là thực phẩm bổ dưỡng cần thiết cho tất cả mọi người, kể cả người cao tuổi.

Không uống sữa thay bữa ăn chính

Người cao tuổi cần nhận đủ canxi hàng ngày để phòng tránh loãng xương. Mặc dù canxi có trong nhiều thực phẩm khác nhau (cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ, rau xanh, đậu hủ…), nhưng người cao tuổi thường ăn ít hơn lúc trẻ nên lượng canxi đưa vào cơ thể từ chế độ ăn hàng ngày sẽ không đủ, trong khi đó nguy cơ loãng xương của họ lại cao. Canxi từ sữa rất dễ hấp thu nên người cao tuổi cần uống sữa thường xuyên mỗi ngày (khoảng 1 – 2 ly) để bổ sung canxi cho cơ thể, giúp phòng tránh loãng xương.

Tuy sữa là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ có thể bổ sung như là bữa phụ chứ không thể thay thế cho bữa chính hàng ngày được vì sẽ mất cân đối do sữa không có đủ những dưỡng chất khác mà cơ thể cần như chất sắt, kẽm, chất xơ, một số vitamin… Nếu chỉ uống sữa mà không ăn bữa chính sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể. Trong trường hợp ăn kém hoặc đau ốm, cần chia nhỏ bữa ăn (ăn ít và nhiều lần), sử dụng thêm các loại thực phẩm cao năng lượng, kết hợp tăng số bữa phụ (uống sữa hoặc các thức ăn phụ bổ dưỡng và dễ tiêu hoá khác).

Tuỳ tuổi, tuỳ bệnh mà chọn sữa

Thông thường sữa cho trẻ em và người bình thường là dạng sữa nguyên kem, chất béo của sữa là chất béo no nguồn gốc động vật nên sẽ chứa nhiều cholesterol không thích hợp đối với người già nếu uống thường xuyên mỗi ngày. Tuy nhiên đối với người gầy, không có bệnh mãn tính không lây như rối loạn lipid máu, cao huyết áp, đái tháo đường… và chế độ ăn rất ít thực phẩm nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol (thịt heo, thịt bò, mỡ…) thì uống loại sữa này vẫn được.

Việc chọn loại sữa nào còn phải tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng người. Đối với những người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường thì nên chọn loại sữa không béo, không đường. Lượng sữa uống mỗi ngày sẽ phải cân đối với các thực phẩm khác để bảo đảm đường huyết ổn định. Người chỉ bị viêm khớp thì có thể vẫn uống được sữa hơi béo, hơi ngọt nếu thích. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với người thừa cân, béo phì nếu dùng sữa béo, ngọt sẽ làm tăng cân nhanh chóng và sẽ tăng sức chịu đựng đối với các khớp chịu sức nặng cơ thể như khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân nên sẽ khó điều trị khỏi tình trạng viêm và đau khớp.

Uống sữa đúng cách để tránh tai hoạ

Sữa là thực phẩm giàu canxi ở dạng dễ hấp thu. Chỉ khi nào lượng canxi đưa vào cơ thể quá dư thừa thì mới bị đào thải qua đường thận gây sạn thận. Trường hợp này ít gặp trong chế độ ăn thông thường mà do dùng thuốc canxi liều cao, kéo dài. Do vậy, khi sử dụng nhiều thực phẩm giàu canxi hoặc uống thuốc canxi phòng loãng xương thì cần chú ý uống nhiều nước để phòng sạn thận.

Một số người khi uống sữa hay bị đau bụng, tiêu chảy… thường là do cơ thể thiếu men lactase để hấp thu loại đường lactose có trong sữa. Trong trường hợp đó, nên giảm lượng sữa trong mỗi lần uống (có thể dưới 100ml/lần) và tăng dần lên khi thích ứng. Nếu vẫn không tiêu hoá được thì có thể chuyển sang dùng sản phẩm khác của sữa như yaourt, sữa chua, phô mai… hoặc có thể dùng sữa đậu nành.

TS.BS Trần Thị Minh Hạnh
Trưởng phòng dinh dưỡng cộng đồng,
trung tâm dinh dưỡng TP.HCM

Nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Người già cũng cần khám sức khỏe định kỳ


[123Suckhoe] – Theo kết quả một nghiên cứu vừa được bệnh viện Nội tiết Trung ương công bố, hiện có khoảng 5 triệu người Việt Nam mắc bệnh tiểu đường, chiếm khoảng 6% dân số.

Nghiên cứu cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ bệnh tiểu đường chỉ đứng thứ 10 thế giới và là nước có bệnh tiểu đường phát triển nhanh nhất mà đa số bắt gặp ở người trung niên và cao tuổi. Đây là criminal số đáng báo động về tình trạng sức khỏe của người trung niên và cao tuổi Việt Nam.Tuy nhiên lại rất ít người ý thức được rằng ở độ tuổi này cần phải đặc biệt quan tâm đến khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện ra bệnh

Chủ quan với khám sức khỏe định kỳ

Chủ quan, tiếc tiền không dám đi khám bệnh vì sợ phát hiện ra bệnh là tâm lý chung của người cao tuổi. Tuy nhiên chính tâm lý ấy càng làm cho căn bệnh trở nên trầm trọng hơn đối với những người già có bệnh mà không đi chữa trị. Trường hợp của ông Thành 65 tuổi ( Lương Yên- Hà Nội) là một ví dụ. Thời gian trước ông grain bị đau đầu kèm theo hoa mắt nhưng với suy nghĩ đơn giản người già bị như vậy là bình thường nên cả ông và gia đình chủ quan không đi khám sức khỏe. Chỉ đến khi ông có dấu hiệu đau đầu dữ dội, kèm theo nôn mửa, mất khả năng thăng bằng, gia đình đưa ông đến bệnh viện Bạch Mai mới biết ông bị tai biến mạch máu não. Bây giờ ông đã qua cơn nguy kịch nhưng theo Bác sĩ điều trị thì sau này thì ông rất khó có thể đi lại được nữa.

Trường hợp chị Hoa 46 tuổi( Vĩnh Phúc ) cũng tương tự . Chị được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến xa, di căn thận trái. Ổ bệnh không còn nằm khu trú, nên những can thiệp bằng xạ trị và phẫu trị đều vô nghĩa. Trước đó, chị chỉ nghe nói về ung thư cổ tử cung chứ cũng không tìm hiểu rõ, không đi khám phụ khoa . “Sau khi mãn kinh 7-8 tháng,tôi thấy ra huyết, dù ít nhưng dai dẳng nên mới đi khám. Ai ngờ bị ung thư vì biểu hiện chỉ là ngồi lâu thấy thốn thốn ở bụng dưới..”, người phụ nữ buồn rầu kể lại. Khi chị nhập viện, có khái niệm về tình trạng của mình thì đã quá muộn.

3 Bệnh tuổi già có thể lường trước

Để tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra, những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi cần đi khám sức khỏe định để theo dõi tình trạng sức khỏe xem có bất thường gì xảy ra không. Đây là độ tuổi cần được đặc biệt quan tâm và chăm sóc về sức khỏe. Bởi ở độ tuổi này sức đề kháng và khả năng hấp thu dinh dưỡng đã giảm nhiều, các chức năng của cơ thể cũng không còn hoạt động tốt như trước. Do đó người ở độ tuổi này rất dễ mắc bệnh mà thường gặp là: mỡ máu, tiểu đường, tim mạch, loãng xương …nguy hiểm hơn là các bệnh ác tính như ung thư tử cung, ung thư dạ dày…..,

Các chuyên gia về sức khỏe khuyên rằng với những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi nên khám sức khỏe tổng quát định kỳ thường xuyên ít nhất là 6 tháng 1 lần cho dù có bệnh grain không. Việc làm này không chỉ là để theo dõi tình hình sức khỏe hiện tại mà còn sớm phát hiện bệnh từ đó có phương pháp điều trị kịp thời giúp người bệnh vừa tiết kiệm chi phí vừa phòng chống bệnh tốt hơn .Đối với những trường hợp có bệnh, đang điều trị và theo dõi thì cần đi khám định kỳ theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để có hướng điều trị và xử lý kịp thời khi bệnh có chiều hướng xấu.

Người già và sức khỏe răng miệng


[123Suckhoe] – Đánh răng ngày hai lần với kem đánh răng có fluor, xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa hàng ngày, khám định kỳ ở các phòng khám răng hàm mặt để được kiểm tra và làm sạch răng. Đó là việc cần thiết thông thường để giữ sức khỏe răng miệng đối với người cao tuổi.

Tất nhiên là nếu giữ răng kỹ, vệ sinh răng miệng tốt, bạn sẽ giữ răng được lâu hơn. Tuy nhiên với người cao tuổi, cho dù đánh răng và xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa kỹ lưỡng, bạn vẫn có thể nhận thấy miệng mình trở nên khô hơn, nướu như bị teo tụt xuống.

Răng bạn dù được chăm sóc tốt vẫn có thể bị hơi vàng đi, giòn và dễ vỡ. Nhiều người cao tuổi có thể giữ răng được đến hết đời. Tuy nhiên, vì nước miếng trở nên ít đi khó rửa bớt vi khuẩn, răng và nướu trở nên dễ bị sâu và nhiễm trùng. Nếu không giữ được răng, nên dùng răng giả thay thế để có thể ăn uống đầy đủ.

Nhiều người bị chứng khô miệng (xerostomia), có thể dẫn đến sâu răng, nhiễm trùng… Khô miệng cũng có thể làm cho bạn khó nói chuyện, khó nuốt, khó ăn… Ung thư miệng cũng có thể xảy ra ở người cao tuổi, vì vậy nên định kỳ kiểm tra ở nha sĩ để có thể phát hiện sớm.

Sâu răng, làm mủ chân răng rất thường gặp ở người lớn tuổi. Sự nhạy cảm còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn. Với tuổi tác, nướu răng teo lại làm lộ ra phần chân răng không có group răng bảo vệ. Những vùng răng này có thể rất nhạy cảm, dễ bị đau khi bạn ăn uống thức ăn thức uống quá nóng grain quá lạnh, hoặc quá chua grain quá ngọt.

Nếu gặp tình trạng này thường xuyên, bạn có thể tìm dùng loại kem đánh răng “anti-sensitivity toothpaste” hoặc xin nha sĩ thuốc bôi. Nếu vẫn không hết, bạn phải tìm đến nha sĩ vì tình trạng này có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn – một lỗ sâu grain một vết rạn nứt gì đó ở răng.

Các bệnh thường gặp ở tuổi già như tiểu đường, tim mạch, ung thư… cũng có ảnh hưởng đến răng miệng. Vì vậy bạn cần cho các nha sĩ biết những bệnh bạn đang mắc phải để họ có thể chỉ dẫn bạn chính xác hơn.

Người lớn tuổi thường cần đến răng giả. Trong trường hợp này, bạn cần chăm sóc chúng thật đặc biệt. Nên theo đúng các hướng dẫn của thầy thuốc. Người mang răng giả lâu dài cần được kiểm tra hàng năm.

Các bệnh về nướu thường có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt nghiêm trọng ở tuổi trên 40. Có một số nguyên nhân có thể làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn như: dinh dưỡng kém, bị các bệnh như tiểu đường, tim mạch và ung thư. Những yếu tố như hút thuốc, stress, một số loại thuốc… cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng của nướu. Các tổn thương nướu có thể chữa được, vì vậy bạn cần quan tâm phát hiện sớm. Tốt nhất là nên giữ vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng.

Tăng cường sức khỏe cho người già

Các thực phẩm dinh dưỡng cho người cao tuổi

[123Suckhoe] – Tuổi già đoạn cuối của cuộc đời, người già grain có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật. Làm thế nào để người già sống vui, sống khỏe mỗi ngày?

Khi về già, chức năng hoạt động của hệ tiêu hóa kém hiệu quả, cường độ trao đổi chất trong cơ thể người cao tuổi cũng diễn ra chậm. Tuổi già grain thường xuyên mắc các bệnh như cao huyết áp, loãng xương, tai biến mạch máu não.

Vì thế, việc bổ sung một chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nếu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hợp lý cũng là bí quyết sống vui – sống khỏe cho người cao tuổi.

Với những thay đổi của cơ thể trước thời gian người già cần có những điều chỉnh về chế độ ăn uống để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng. Theo các chuyên gia bác sĩ khuyên rằng điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đầy đủ lượng vitamin và khoáng chất cần thiết. Người cao tuổi, nhất là những người bị bệnh tim mạch không nên ăn quá nhiều chất béo như thịt, trứng, bơ…mà cần ăn nhiều các loại củ quả và đặc biệt là rau xanh để đảm bảo sức khỏe và tránh béo phì và nguy cơ đột qụy.

Cùng với đó, sữa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng không những giúp cung cấp lượng canxi cần thiết, giàu đạm quý để nuôi hệ xương chắc khỏe mà còn bổ sung các vi dưỡng chất bị thiếu hụt một cách an toàn. Đây là một thức uống không thể thiếu cho người cao tuổi.

Bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý. Người già không nên ngồi nhiều một chỗ như thế không tốt cho sức khỏe. Mà thay vào đó là nên thường xuyên vận động nhẹ, hoặc tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh dành cho người cao tuổi giúp thư giãn gân cốt, cho xương chắc khỏe, và giúp cho máu lưu thông tuần hoàn.

Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh hơn

Ông Phạm Việt 73 tuổi (G3- Thành Công- Ba Đình- Hà Nội) chia sẻ, ông bị mắc căn biến mạch máu não cách đây gần 2 năm đi lại rất khó khăn nhưng nhờ thói quen đi bộ nên bây giờ đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn hơn. ông cũng cho biết mỗi một ngày bỏ ra một tiếng cho việc đi bộ vào cả buổi sáng và buổi chiều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn và đặc biệt là tư tưởng thoải mái hơn rất nhiều.

Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải kết hợp đúng cách và bản thân mỗi người già phải tự biết tạo lập cho mình một thói quen tốt, lành mạnh và tích cực để mỗi ngày khi về với tuổi già là một ngày sống vui, sống khỏe và sống có ích.

Bệnh sa sút trí tuệ ở người già

Theo nghiên cứu mang tên Mối nguy hiểm của môi trường đối với sức khỏe người cao tuổi, do các chuyên gia ở Trung tâm Khoa học và Môi trường Boston Mỹ thực hiện mới đây cho thấy, do kinh tế phát triển, nạn ô nhiễm môi trường tăng cao mà tỉ lệ người mắc bệnh suy giảm trí nhớ ngày càng nhiều, nhất là bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn. 1. Yếu tố di truyền

Theo nghiên cứu nói trên thì di truyền có vai trò nhất định làm tăng bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn nhưng không đáng kể, mà yếu tố chính gây suy giảm thần kinh là phơi ra môi trường ô nhiễm, các độc tố này ảnh hưởng đến não, hệ thống thần kinh criminal người, thậm chí cả những đứa trẻ vẫn còn nằm trong bụng mẹ đã bị ảnh hưởng và tạo ra nhiều căn bệnh mạn tính nan y khác như tiểu đường, béo phì, tim mạch và hội chứng trao đổi chất.

2. Mức độ nguy hiểm của ô nhiễm môi trường

Những nguyên nhân gây bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn do môi trường gây ra phải kể đến các loại hóa chất sau :

- Chì: Nếu phơi ra môi trường ô nhiễm chì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh suy giảm trí nhớ và nhận thức. Cụ thể, những người cao tuổi nếu sống nhiều trong môi trường ô nhiễm chì thì mức suy giảm nhận thức già hơn tới 15 năm so với nhóm không tiếp xúc với hợp chất này và rủi ro mắc bệnh sa sút trí tuệ là rất lớn.

- Ô nhiễm không khí: Đây là tác nhân gây bệnh rất tiềm ẩn đối với não, phổi, tim, mũi và mạch máu. Bằng chứng, những người dân sống ở các thành phố có không khí ô nhiễm cao thường mắc các loại bệnh nói trên khi còn rất trẻ và viêm nhiễm chính là nguyên nhân làm cho trí nhớ suy giảm khi về già.

Thuốc trừ sâu: Theo nghiên cứu do Hiệp hội An-giê-mơ của Mỹ thực hiện, nếu tiếp xúc với thuốc trừ sâu lâu dài kể cả hàm lượng thấp cũng rất dễ mắc các loại bệnh mạn tính, suy giảm trí nhớ, sự nhận thức và chú ý của criminal người. Một nghiên cứu khác do các chuyên gia người Pháp thực hiện mới đây cũng cho thấy những người mắc bệnh nghề nghiệp, tiếp xúc nhiều hóa chất này không chỉ làm tăng bệnh An-giê-mơ, Pa-kin-sơn mà còn mắc cả các loại bệnh nan y như tiểu đường và hội chứng trao đổi chất (MS)

- Các yếu tố về ăn uống: Ăn uống cân bằng khoa học có tác dụng rất tích cực đến sức khỏe criminal người, trong đó có sức khỏe của não, nhưng ngược lại nếu ăn uống thiếu khoa học sẽ để lại những hậu quả xấu. Ví dụ, những ai lạm dụng quá nhiều mỡ bão hòa, mỡ trans-fat (mỡ dùng đi dùng lại) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh sa sút trí tuệ cao 2-3 lần so với nhóm người không ăn mỡ này. Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu ở loài chuột, theo đó những criminal chuột được nuôi theo thực đơn mỡ bão hòa thì trí nhớ kém hơn vào cuối đời so với nhóm chuột ăn nhiều mỡ chưa bão hòa tổng hợp. Ngoài ra các nhà khoa học còn phát hiện, nếu dùng sữa đậu nành cho trẻ hoặc dùng loại mỡ có hàm lượng sắt cao cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn lúc cuối đời. Trong khi đó khẩu phần có hàm lượng các mỡ Ô-mê-ga cao lại giảm được nguy cơ mắc bệnh An-giê-mơ tới 70%. Thực đơn tăng cường trí não tốt phải kể đến cách ăn uống của người dân Địa Trung Hải, chú trọng rau xanh, hoa quả, ngũ cốc nguyên chất, cá, lạc, dầu ô liu. Thực phẩm này còn có tác dụng giảm các bệnh nan y khác như tiểu đường, tim mạch và hội chứng trao đổi chất.

- Lười vận động: Theo nhiều nghiên cứu thì lười vận động không chỉ làm gia tăng bệnh não, mà còn mắc nhiều bệnh khác. Riêng ở nhóm người trung cao tuổi nếu duy trì cuộc sống hoạt động, luyện tập thể thao ít nhất 2 lần/tuần có thể giảm được tới 50% nguy cơ mắc bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn vào cuối đời.

- Stress: Được xem là những nguyên nhân rất tiềm ẩn làm tăng bệnh viêm nhiễm và quá trình ôxi hóa của cơ thể. đây là những dấu hiệu anathema đầu gia tăng bệnh thoái hóa hệ thần kinh và các bệnh tim mạch, tiểu đường, hội chứng trao đổi chất, rối loạn lipit, béo phì và ung thư.

3. Một số giải pháp tăng cường sức khỏe não, thần kinh

Do chưa tìm ra nguyên nhân chính xác nên hiệu quả điều trị chưa cao, bởi vậy việc phòng bệnh đóng một vai trò quan trọng, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang trở nên bức xúc và tỉ lệ lão hóa dân số đang tăng nhanh như hiện nay.

- Ăn uống cân bằng, khoa học: ăn uống thông minh, đủ chất và tránh những thực phẩm không có lợi, chứa nhiều mỡ xấu, đường và muối.

- Tăng cường luyện tập thể thao, duy trì cuộc sống hoạt động, hạn chế cuộc sống tĩnh tại.

- Áp dụng các bài tập cho não thông qua các hoạt động hàng ngày. Ví dụ như đọc sách báo, chơi cờ, giao tiếp bạn bè, tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động phường hội, câu lạc bộ vv…

- Hạn chế tiếp xúc môi trường độc hại, nhất là độc hại không khí, hóa chất grain độc hại nguồn nước.

- Hạn chế, tránh xa các đồ gây nghiện, rượu, bia, thuốc lá.

- Duy trì cuộc sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, bỏ xa ý nghĩ hận thù, cay cú grain cực đoan. Sống khỏe, tích cực để làm gương cho criminal cháu, có lợi cho cả gia đình, cộng đồng và làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa.

Theo Nguoicaotuoi

Uống sữa thế nào tốt nhất cho người già?

Với những ảnh hưởng bệnh tật ở tuổi cao, người già cũng rất cần uống sữa để bồi bổ và nếu sử dụng không hợp lý sẽ gặp những hậu quả nguy hiểm cho sức khoẻ.

Sữa là sản phẩm rất giàu canxi, giàu đạm quý (đầy đủ các axit amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối) và chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B… nên đây là thực phẩm bổ dưỡng cần thiết cho tất cả mọi người, kể cả người cao tuổi.

Không uống sữa thay bữa ăn chính

Người cao tuổi cần nhận đủ canxi hàng ngày để phòng tránh loãng xương. Mặc dù canxi có trong nhiều thực phẩm khác nhau (cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ, rau xanh, đậu hủ…), nhưng người cao tuổi thường ăn ít hơn lúc trẻ nên lượng canxi đưa vào cơ thể từ chế độ ăn hàng ngày sẽ không đủ, trong khi đó nguy cơ loãng xương của họ lại cao. Canxi từ sữa rất dễ hấp thu nên người cao tuổi cần uống sữa thường xuyên mỗi ngày (khoảng 1 – 2 ly) để bổ sung canxi cho cơ thể, giúp phòng tránh loãng xương.

Tuy sữa là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ có thể bổ sung như là bữa phụ chứ không thể thay thế cho bữa chính hàng ngày được vì sẽ mất cân đối do sữa không có đủ những dưỡng chất khác mà cơ thể cần như chất sắt, kẽm, chất xơ, một số vitamin… Nếu chỉ uống sữa mà không ăn bữa chính sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể. Trong trường hợp ăn kém hoặc đau ốm, cần chia nhỏ bữa ăn (ăn ít và nhiều lần), sử dụng thêm các loại thực phẩm cao năng lượng, kết hợp tăng số bữa phụ (uống sữa hoặc các thức ăn phụ bổ dưỡng và dễ tiêu hoá khác).

Tuỳ tuổi, tuỳ bệnh mà chọn sữa

Thông thường sữa cho trẻ em và người bình thường là dạng sữa nguyên kem, chất béo của sữa là chất béo no nguồn gốc động vật nên sẽ chứa nhiều cholesterol không thích hợp đối với người già nếu uống thường xuyên mỗi ngày. Tuy nhiên đối với người gầy, không có bệnh mãn tính không lây như rối loạn lipid máu, cao huyết áp, đái tháo đường… và chế độ ăn rất ít thực phẩm nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol (thịt heo, thịt bò, mỡ…) thì uống loại sữa này vẫn được.

Việc chọn loại sữa nào còn phải tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng người. Đối với những người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường thì nên chọn loại sữa không béo, không đường. Lượng sữa uống mỗi ngày sẽ phải cân đối với các thực phẩm khác để bảo đảm đường huyết ổn định. Người chỉ bị viêm khớp thì có thể vẫn uống được sữa hơi béo, hơi ngọt nếu thích. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với người thừa cân, béo phì nếu dùng sữa béo, ngọt sẽ làm tăng cân nhanh chóng và sẽ tăng sức chịu đựng đối với các khớp chịu sức nặng cơ thể như khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân nên sẽ khó điều trị khỏi tình trạng viêm và đau khớp.

Uống sữa đúng cách để tránh tai hoạ

Sữa là thực phẩm giàu canxi ở dạng dễ hấp thu. Chỉ khi nào lượng canxi đưa vào cơ thể quá dư thừa thì mới bị đào thải qua đường thận gây sạn thận. Trường hợp này ít gặp trong chế độ ăn thông thường mà do dùng thuốc canxi liều cao, kéo dài. Do vậy, khi sử dụng nhiều thực phẩm giàu canxi hoặc uống thuốc canxi phòng loãng xương thì cần chú ý uống nhiều nước để phòng sạn thận.

Một số người khi uống sữa grain bị đau bụng, tiêu chảy… thường là do cơ thể thiếu group lactase để hấp thu loại đường lactose có trong sữa. Trong trường hợp đó, nên giảm lượng sữa trong mỗi lần uống (có thể dưới 100ml/lần) và tăng dần lên khi thích ứng. Nếu vẫn không tiêu hoá được thì có thể chuyển sang dùng sản phẩm khác của sữa như yaourt, sữa chua, phô mai… hoặc có thể dùng sữa đậu nành.

TS.BS Trần Thị Minh Hạnh

Người cao tuổi nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.


Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết poison dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ poison đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều poison dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Theo SKDS

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh grain gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất grain gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh outpost tim… Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.

Những ai có nguy cơ bị TBMMN?

TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp – hở outpost tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, outpost tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị highlight nặng grain thường xuyên.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm strain hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao grain những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ grain bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất grain gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi… phù hợp với sức khỏe.

Nguyên nhân gây đột quỵ ở người cao tuổi và cách xử trí

Đột quỵ grain còn gọi là tai biến mạch máu não dễ xảy ra ở người cao tuổi (NCT). Đặc biệt, mùa hè NCT có thể bị đột quỵ nhất là với những người có sẵn về bệnh tim mạch, cao huyết áp.

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong cao sau bệnh về tim mạch và ung thư. Tại Mỹ, hàng năm có tới 60 vạn người mắc bệnh đột quỵ và tử vong khoảng 16 vạn người.

Nguyên nhân xảy ra đột quỵ

Đột quỵ là hiện tượng ngừng trệ đột ngột dòng máu cung cấp cho não gây nên tổn thương cấp tính vùng não thiếu máu. Sự ngưng trệ đột ngột máu cung cấp cho não (hoặc thiếu hoặc mất hẳn) tức là ngưng trệ cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho vùng não thiếu máu đó, dẫn đến tế bào não bị hoại tử chỉ sau một thời gian ngắn.

Sự thiếu máu nuôi dưỡng một vùng não có thể do bị chèn ép bởi cục máu đông (do tổn thương tim) hoặc do vỡ mạch mãu não gây xuất huyết não (tăng huyết áp kịch phát, xơ vữa động mạch).

Xuất huyết não có thể ồ ạt grain từ từ, tùy thuộc vào vị trí và mức độ mạch máu bị vỡ. Ngoài ra cũng có thể gặp đột quỵ do rối loạn đông máu hoặc ở người bệnh đang dùng thuốc điều trị chống đông máu.

Theo thống kê, có khoảng 22% dân số mắc bệnh tăng huyết áp. Tuy vậy, nhiều người không quan tâm đến bệnh này hoặc do chủ quan cho rằng bệnh tăng huyết áp là bệnh của người già, ai cũng có thể bị, hoặc không có điều kiện để tìm hiểu về căn bệnh mà người ta gọi là “bệnh giết người thầm lặng”. Mùa nắng nóng kéo dài khiến cho NCT đang mắc bệnh tăng huyết áp rất khó kiểm soát, do đặc điểm sinh lý của NCT là mọi chức năng sinh lý đã thuyên giảm, trong đó có chức năng điều tiết của hệ thần kinh trung ương. Đó là chưa kể đến NCT còn mắc một số bệnh mạn tính về tim mạch, tiểu đường, béo phì, bệnh rối loạn chuyển hóa… Mùa hè cũng làm cho chế độ sinh hoạt, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi của NCT thay đổi. Mùa hè đột quỵ dễ xảy ra ở NCT đặc biệt là ở những người có sẵn các bệnh về tim mạch (tiền sử có nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành), tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu (tăng cholesterol, triglyceride), đái tháo đường.

Dấu hiệu đột quỵ

Khi NCT đột ngột đau đầu dữ dội, choáng váng, mất tri giác hoặc hôn mê, gọi hỏi không biết gì (trường hợp nặng do xuất huyết não nhiều hoặc bị chèn ép làm tắc nghẽn mạch máu nuôi dưỡng một vùng não), đó là những dấu hiệu báo trước của đột quỵ. Những dấu hiệu nữa là đột ngột tê tay, chân cùng bên hoặc tay chân khó cử động; nói khó, ngọng, phát âm không rõ; một bên mắt nhắm không kín, nhìn đôi, nhìn mờ, nhoè; miệng méo; nhân trung lệch; có thể rối loạn tiểu tiện (tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu). Ngoài ra, có thể gặp một số dấu hiệu khác kèm theo như mất thăng bằng, buồn nôn hoặc nôn. Các triệu chứng này có thể tăng dần lên làm cho bệnh cảnh càng trầm trọng. Nguy cơ tử vong ở những người đột quỵ không phát hiện sớm và không xử trí kịp thời có thể chiếm tỷ lệ rất cao (90%) và một tỷ lệ thấp nếu qua khỏi phải chịu di chứng nặng nề hoặc liệt, mọi sinh hoạt không tự chủ, không nói được, lú lẫn… Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp các triệu chứng chỉ xảy ra trong vòng vài ba phút rồi trở lại bình thường. Trong trường hợp này được gọi là cơn thiếu máu não thoáng qua.

Làm gì khi bị đột quỵ?

Chỉ cần có một trong các dấu hiệu cảnh báo là bị đột quỵ là phải hết sức khẩn trương gọi xe cấp cứu ngay, không được chần chừ, cũng không chờ đợi xem còn dấu hiệu nào xuất hiện nữa grain không. Cấp cứu càng sớm càng tốt bởi vì nếu xử trí trước 2 giờ, tối thiểu trước 6 giờ, khả năng cứu sống người bệnh rất cao và ít để lại di chứng, nếu muộn hơn nguy cơ diễn biến phức tạp luôn luôn có thể xảy ra. Trong khi chờ đợi xe cấp cứu đến nên cho người bệnh nằm yên, nghiêng đầu sang một bên ngay cả khi có triệu chứng co giật. Để tránh người bệnh cắn lưỡi cho một chiếc đũa hoặc cán thìa có quấn vải vào giữa 2 hàm răng.

Phòng bệnh đột quỵ ở NCT là phải phòng từ xa có nghĩa là cần được khám sức khỏe định kỳ theo lời dặn của bác sĩ. Khi có bệnh về tim mạch cần điều trị theo chỉ định của bác sĩ, không nên tự ngưng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Khi có bệnh tăng huyết áp hoặc rối loạn mỡ máu hoặc bị đái tháo đường cần kiểm tra huyết áp, mỡ máu và đường máu theo lời dặn của bác sĩ khám bệnh. Tuyệt đối không tự mua thuốc hoặc dùng đơn thuốc của bệnh nhân khác mua thuốc cho mình.

Mùa hè, NCT nên uống đủ lượng nước cần thiết và không phải chờ đợi khi có biểu hiện khát mới uống. Nếu nghiện thuốc lá, thuốc lào thì cần hạn chế và tốt nhất là bỏ hẳn. Những người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường không nên uống bia, rượu. Nên tăng cường uống nước cam, chanh và quả tươi.

Mùa hè cũng cần vận động cơ thể một cách hợp lý. NCT nên tập các bài tập nhẹ nhàng hợp với sức khỏe của mình, không nên tập khi mặt trời lên cao, nhiệt độ ngoài trời đã tăng. Mỗi lần ra nắng cần đội nón, mũ rộng vành. Nên mặc quần áo mỏng, thoáng mát.

NCT nên ăn nhiều rau, ăn đủ chất. Những NCT có bệnh cần ăn uống theo chỉ dẫn của bác sĩ nhưng không nên kiêng khem quá mức vì có thể đưa đến suy dinh dưỡng.

Rau ngót món ăn, bài thuốc cho người lớn tuổi

Rau ngót có nhiều poison amin, vitamin và chất khoáng vì vậy nó có tính bổ dưỡng cao. Người ta thường nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, giò sống trứng, tôm, cá đồng… bữa ăn gia đình, nhất là các cụ lớn tuổi, nên có thêm bát canh rau ngót.

Rau ngót grain bù ngót, bồ ngót, tên khoa học là Sauropus androgynus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Loại cây này được trồng rất phổ biến quanh nhà. Người dân vừa dùng làm món ăn vừa làm thuốc chữa trị một số bệnh. Hái lá tươi dùng ngay. Thường grain chọn những cây 2 tuổi trở lên để làm thuốc.

Rau ngót có nhiều poison amin cần thiết: trong 100g rau ngót có lysin, 0,13g metionin, 0,05g tryp-tophan, 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin, valin, leuxin và 0,17g izoleucin…

Rau ngót rất giàu đạm nên thường được khuyên dùng thay thế đạm động vật để hạn chế những rối loạn chuyển hóa canxi gây loãng xương và sỏi thận.

Đặc biệt với hàm lượng vitamin K dồi dào – chất giúp giảm nguy cơ gãy xương và papaverin – chất giúp giảm cơn đau phủ tạng, hạ huyết áp nên rau ngót rất tốt cho người lớn tuổi.

Thanh nhiệt: rau ngót được dùng để thanh nhiệt, hạ sốt, trị ho do phế nhiệt. Dùng lá rau ngót tươi dưới dạng nước ép lá hoặc nấu canh rau ngót.

Canh giải nhiệt mùa hè: rau ngót nấu canh với hến, vừa có vị ngọt đậm đà, vừa thanh nhiệt. Sự phối hợp này lạnh, nên cho thêm lát gừng hoặc nên kiêng với người hư hàn.

Trị cảm nhiệt gây ho suyễn: rau ngót vị mát, có tính thanh nhiệt, lại chứa chất ephedrin, rất tốt cho những người bị cúm gây ho suyễn.

Giảm thân trọng: rau này có khả năng sinh nhiệt thấp (100g chỉ có 36 calori), ít glucid và lipid nhưng nhiều protein; do đó, rất phù hợp với thực đơn người muốn giảm thân trọng như mập phì, bệnh tim mạch và tiểu đường. Nên nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, đậu hũ. . .

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: người bệnh đái tháo đường chỉ được ăn ít cơm để glucoz-huyết không tăng nhiều sau bữa ăn. Rau ngót có inulin giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường chậm (đường và cơm là đường nhanh). Mặt khác, khả năng sinh nhiệt của inulin chỉ bằng 1/9 của chất béo.

Trị táo bón: rau ngót bổ âm, sinh tân dịch, nhiều chất xơ nên ngăn ngừa được táo bón. Phụ nữ sau sinh, nên dùng rau ngót để vừa bổ âm, sinh tân dịch, bù lại âm và tân dịch mất cùng máu khi sinh.

Tăng lượng sữa cho phụ nữ sau sinh: hiện nay, lá rau ngót chiết xuất đã được sử dụng như là một thành phần củng cố trong các thực phẩm chức năng dành cho bà mẹ cho criminal bú. Thưởng thức rau ngót có thể giúp bà mẹ tăng lượng sữa, điều này là do bắt nguồn từ những tác động nội tiết của các hợp chất hóa học sterols có tính chất estrogen.

Tăng lượng vitamin A: rau ngót là một nguồn vitamin A tương đối cao, giúp cơ thể để ngăn ngừa các bệnh về mắt, tăng trưởng tế bào, hệ miễn dịch, sinh sản, và duy trì làn da khỏe mạnh.

Cung cấp can xi: lá rau ngót có một mức canxi rất tốt. Đây là một trong những khoáng chất quan trọng nhất cần thiết cho cơ thể.

Đánh thức khả năng tình dục: lá rau ngót rất giàu các hợp chất có thể tăng chất lượng và số lượng tinh trùng, bao gồm cả khơi dậy tiềm năng và khả năng tình dục.

Trị sót nhau thai: rau ngót 20 – 30g, rửa sạch, giã nhuyễn, cho vào một ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy khoảng 100ml; chia làm 2 phần để uống (mỗi lần cách nhau 10 phút). Sau chừng 30 phút, nhau sẽ ra và sản phụ hết đau bụng.

Cũng có thể dùng rau ngót giã nhuyễn rồi đắp vào giữa lòng bàn chân, nhưng cần lưu ý là khi nhau đã hết thì cần bỏ miếng băng thuốc ra ngay.

Rễ rau ngót có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp, dùng 20 – 40g rễ tươi rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống trong ngày.

Trị chảy máu cam: giã rau ngót thêm nước, ít đường để uống, bã còn lại gói vào vải đặt lên mũi.

Trị tưa lưỡi ở trẻ nhỏ: lá rau ngót 20g, rửa sạch, giã nhỏ, cho vào một ít nước lọc đã được đun sôi, để nguội dần (cho đến khi còn hơi ấm thì dùng), vắt lấy nước, dùng bông gòn hoặc vải mỏng để thoa nước này lên lưỡi, lợi, miệng của trẻ bệnh.

Trị tưa lưỡi ở người lớn: rau ngót 20g, xay với 300ml nước, lọc bỏ bã, mỗi ngày uống 3 lần vào sáng, trưa và tối. Kinh nghiệm cho thấy uống trong 3 ngày có chuyển biến tốt.

Trị đau mắt đỏ (viêm kết mạc): lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Trị hóc xương: lấy rau ngót tươi rửa sạch, để ráo nước, giã nhuyễn, chắt lấy nước cốt ngậm khoảng 15 phút rồi nuốt dần dần sẽ có kết quả.

Trị đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: rau ngót 30g, bầu đất 30g, nấu với 1 cật heo thành canh cho trẻ ăn.

Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh, mà còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn.

Giải rượu: giã lá rau ngót lấy nước uống.

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, lá rau ngót cũng có một số nhược điểm. Ngoài việc hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, glucocorticoid -kết quả của quá trình trao đổi chất của lá rau ngót, có thể gây cản trở cho quá trình hấp thụ canxi và phốt pho, cả canxi và phốt pho có trong lá rau ngót cũng như trong thực phẩm khác được ăn kèm với rau ngót.

Tại Đài Loan, có báo cáo cho thấy nhiều người ăn nước ép lá rau ngót (150g) trong 2 tuần đến 7 tháng đã xảy ra tác dụng phụ như có triệu chứng khó ngủ, ăn uống kém đi và khó thở. Tuy nhiên, những triệu chứng này biến mất sau một ngày ngừng tiêu thụ nước ép lá rau ngót.

Theo tờ Sriana, quá trình đun sôi cũng có thể làm giảm những tác động tiêu cực của lá rau ngót.

Vận động thể chất giúp về già minh mẫn

“Duy trì vận động mỗi ngày bảo vệ chức năng nhận thức ở người cao tuổi” là kết luận được rút ra từ hai nghiên cứu gần đây nhất ở Mỹ và Pháp.

Ở nghiên cứu đầu tiên, các nhà nghiên cứu thuộc Viện nghiên cứu Sunnybrook (Toronto, Mỹ) đã theo dõi 197 người già với độ tuổi trung bình 75. Mục đích của việc theo dõi là để làm sáng tỏ mối liên kết giữa vận động thể chất (được xác định bằng cách đo năng lượng tiêu hao) với khả năng nhận thức (qua bài kiểm tra trí nhớ có tên gọi Mini Mental State Examination). Kết quả chỉ ra rằng những người cao tuổi tích cực vận động nhất giảm được 90% nguy cơ giảm sút trí lực so với những người vận động ít nhất.

Ở nghiên cứu thứ hai, các nhà nghiên cứu của Quỹ MGEN vì Sức khỏe cộng đồng, trụ sở tại Paris, đã theo dõi 2.809 phụ nữ với độ tuổi trung bình ít nhất 65. Điều đặc biệt là những người tham gia hoặc mắc bệnh tim mạch hoặc có ít nhất 3 yếu tố nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Vì vậy, những đối tượng tham gia trong nghiên cứu thứ hai này có rất nhiều nguy cơ bị giảm sút trí lực. Kết quả thu được cho thấy, những người vận động thể chất nhiều nhất (năng lượng tiêu hao tương đương với 30 phút đi bộ/ngày) là những người có nguy cơ giảm sút trí lực thấp nhất.

Chăm sóc người già theo y học hiện đại

Người cao tuổi (NCT) thường ốm đau do nhiều bệnh, cần uống nhiều thuốc. Thế giới đã đúc kết kinh nghiệm chăm sóc bồi dưỡng và sử dụng thuốc cho các cụ. Bài báo này tóm tắt kinh nghiệm tốt ở nước ngoài để nghiên cứu áp dụng.

Thực hiện chế độ dinh dưỡng theo kiểu Địa Trung Hải

Ai cũng biết nhân dân các nước vùng Địa Trung Hải sống lâu và khỏe mạnh hơn so với các nước khác ở châu Âu.

Theo công trình nghiên cứu của các nước châu Âu trên 2.339 người khỏe mạnh, có tuổi thọ từ 70-90 (theo dõi trong 10 năm), thì những người ăn theo chế độ Địa Trung Hải (thức ăn có tỷ lệ acid béo có 1 liên kết đôi, ăn nhiều hoa quả, rau, ngũ cốc nguyên hạt, nhiều cá, ít thịt), không hút thuốc lá (hoặc đã thôi không hút thuốc lá được 15 năm trở lên), không uống nhiều rượu, vẫn tập thể dục (nhẹ nhàng như đi bộ mỗi ngày 1/2 giờ), có tỷ lệ tử vong về nhiều bệnh (tim mạch, động mạch vành, ung thư) thấp hơn 50%, so với những người không theo cách sống này.

Các tác giả còn phân tích kỹ hơn từng yếu tố làm giảm tỷ lệ tử vong:

- Chế độ dinh dưỡng kiểu Địa Trung Hải làm giảm 23%.

- Không uống nhiều rượu làm giảm 22%.

- Tập thể dục làm giảm 37%.

- Không hút thuốc lá làm giảm 35%.

- Tuân theo tất cả các chế độ trên, tỷ lệ tử vong có thể giảm tới 65%.

Công trình nghiên cứu ở Ý còn cho biết: chế độ dinh dưỡng kiểu Địa Trung Hải làm giảm hội chứng chuyển hóa (gồm các yếu tố béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…) và nguy cơ về tim mạch liên quan đến hội chứng này.

Trên nhóm 90 bệnh nhân cao tuổi có hội chứng chuyển hóa và 90 bệnh nhân đối chứng có cùng hội chứng đó, các nhà khoa học Ý theo dõi nhóm I dùng chế độ Địa Trung Hải, còn nhóm II dùng khẩu phần bình thường, chỉ tránh các thói quen có hại. Sau 2 năm kết quả như sau:

- Nhóm I còn 40 người có hội chứng chuyển hóa.

- Nhóm II vẫn còn tới 78 người có hội chứng này.

Tránh dùng các thuốc không thích hợp cho NCT

Thông thường thuốc đều có 2 mặt:

- Mặt tích cực là phòng, chữa được bệnh.

- Các phản ứng phụ có hại cho bệnh nhân (nhất là NCT, trẻ em và phụ nữ có thai).

Năm 1991, BS. Beers ở Hoa Kỳ có nghiên cứu hàng chục ngàn hồ sơ của bệnh nhân được chữa theo chương trình Medicare (có bảo hiểm sức khỏe do chính phủ liên bang tài trợ; NCT nằm trong các Viện điều dưỡng thường có nhiều bệnh, dùng nhiều thuốc nên tai biến cũng nhiều). BS. Beers đưa ra một danh sách thuốc coi như không thích hợp cho NCT, danh sách này dựa trên 3 cơ chế:

Thuốc có tính đối kháng cholin mạnh

Như amitriptylin, diphenhydramin để chống trầm cảm, an thần… ta biết là trí nhớ và khả năng nhận biết của con người là do chất dẫn truyền acetyl cholin trong não điều khiển. NCT thường có trí nhớ suy yếu hay bị bệnh sa sút trí tuệ (như bệnh Alzheimer), nên cần uống thuốc kháng men cholinesteraza trong não để tăng mức acetylcholin. Nếu NCT uống thuốc đối kháng tiết cholin mạnh, các cụ sẽ lại suy giảm khả năng nhận biết và trí nhớ.

Thuốc có thời gian bán thải dài

Như chodiazepoxid là thuốc an thần, gây ngủ, những thuốc này sẽ chuyển hóa qua pha I là oxy hóa thành desmetyl, diazepam có thời gian bán thải 60-80 giờ, sau chuyển hóa lần nữa thành oxazepam với thời gian bán thải 8 giờ, cuối cùng liên hợp với acid glycorunic thành chất hòa tan được thải qua thận. NCT thường bị suy yếu gan thận nên tránh dùng những thuốc chuyển hóa bằng cách oxy hóa, vì khi phản ứng chuyển hóa yếu đi, chất chuyển hóa còn hoạt chất sẽ tăng cao, làm bệnh nhân có tuổi không còn sáng suốt đi làm việc.

Thuốc không chuyển hóa bằng pha oxy hóa

Nhưng vẫn có thời gian bán thải dài (như thuốc clopropamid chữa bệnh đái tháo đường).

Danh sách này được BS. Beers điều chỉnh thêm năm 1997, đến năm 2002 được 1 Hội đồng duyệt lại và cho đăng trên báo Y học Jama của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, chia thành từng nhóm cụ thể để hướng dẫn điều trị cho NCT ở các trung tâm điều dưỡng. Trung tâm nào vi phạm hướng dẫn trên có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động và Medicare không thanh toán chi phí theo bảo hiểm y tế.

Điều trị các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi

Sự già hóa của hệ thần kinh có thể đến sớm và trở thành các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi. Những yếu tố nguy cơ già hóa bệnh lý đã hình thành phát triển ngay từ giai đoạn tuổi chuyển tiếp và là những “buến chứng” của các chứng bệnh nội khoa.

Biểu hiện các chứng bệnh thần kinh

Các chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi khá phức tạp, đa dạng, thường có các biểu hiện:

Chứng đau nhức: thường là nhức đầu, nhức nửa đầu, nhức nửa mặt, đau thần kinh hông. Thường phối hợp với các chứng đau mình mẩy, đau chân, đau bả vai.

Chứng run, co giật: thường run chân tay, đi đứng run rẩy, loạng choạng hoặc nói run run. Có thể có cơn co giật kiểu động kinh. Có cơn động kinh và rối loạn tâm thần, rối loạn điều hòa các cử động…

Rối loạn nuốt, phát âm: có thể có hiện tượng nghẹn đặc, sặc lỏng và đi đứng khó khăn.

Rối loạn trí nhớ: người bệnh cảm thấy quên nhiều và lẫn hoặc có hiện tượng nhớ nhầm, ngộ nhận…

Một số bệnh hay gặp

Tai biến mạch máu não: thường gặp là tắc mạch, lấp mạch gây nhồi máu não, thiếu máu não cục bộ… Các trường hợp chảy máu não, chảy máu màng não, viêm màng não, thường là viêm màng não mủ, viêm màng não do lao.

Bệnh Parkinson…

Chẩn đoán

Cần có kế hoạch theo dõi cho lứa tuổi “bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”, phát hiện kịp thời những chứng bệnh thần kinh thường gặp. Những biểu hiện như chứng đau nhức ở thần kinh (đau đầu, đau nửa mặt, đau kiểu thắt lưng hông…), chứng co giật, run chân tay, chóng mỏi ở hai chân đặc biệt là chứng cứng cơ khi cử động… chứng quên lẫn, nhớ nhầm, ám ảnh, lo sợ. Khi có những triệu chứng kể trên thì nên kết hợp các phương pháp thăm dò chức năng không nguy hại cho người cao tuổi để chẩn đoán như siêu âm tim mạch, siêu âm xuyên não, ghi điện não, chụp cắt lớp vi tính và các test thần kinh tâm lý.

Điều trị

Do đặc điểm cơ thể người cao tuổi (tuổi già, sức yếu…) nên điều trị các chứng bệnh thần kinh phải toàn diện: toàn diện cho tính chất đa bệnh lý, toàn diện giữa thuốc với nuôi dưỡng cơ thể, nâng cao thể trạng, kết hợp dùng thuốc và các phương pháp phục hồi chức năng.

Sử dụng thuốc điều trị

Cơ thể người cao tuổi hấp thụ, chuyển hóa và thải trừ kém nên phải thận trọng khi sử dụng thuốc. Cần cho thêm các thuốc nâng cao thể trạng, các loại vitamin nhất là vitamin nhóm B. Nên kết hợp thuốc Đông y với những ưu việt dành cho người cao tuổi.

Phục hồi chức năng thần kinh

Phục hồi chức năng thần kinh là một phương pháp điều trị tích cực, tổng hợp, toàn diện nhất là vận dụng các phương pháp dưỡng sinh, thiền, khí công, luyện khí… Phục hồi chức năng vận động, tâm lý chú ý tới khí công, xoa bóp, bấm nắn, tất cả đều tĩnh tâm và thường phối hợp với thời khắc trong ngày… Tác động tâm lý giữ phần quan trọng trong công tác điều trị chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi. Điều đó giúp người bệnh tự xác định, chịu khó tập luyện, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý. Sự quan tâm của cộng đồng, cơ quan, gia đình, bạn bè, góp phần quan trọng cho việc điều trị có hiệu quả. Luôn luôn quan tâm tới chế độ ăn uống và nghỉ ngơi cho người bệnh cao tuổi.

Phòng bệnh

Cần phải có kế hoạch theo dõi phát hiện những thay đổi về tim mạch, huyết áp, hô hấp, tiết niệu (phù…) những thay đổi về giác quan (ví dụ mắt nhìn có ruồi bay, mờ mắt, nghe o o trong tai, nghe kém, ăn thì nghẹn, uống nước thì sặc…) hoặc những rối loạn tâm lý…

Chăm sóc răng ở người cao tuổi

Đánh răng ngày hai lần với kem đánh răng có fluor, xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa hàng ngày, khám định kỳ ở các phòng khám răng hàm mặt để được kiểm tra và làm sạch răng. Đó là việc cần thiết thông thường để giữ sức khỏe răng miệng đối với người cao tuổi.

Tất nhiên là nếu giữ răng kỹ, vệ sinh răng miệng tốt, bạn sẽ giữ răng được lâu hơn. Tuy nhiên với người cao tuổi, cho dù đánh răng và xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa kỹ lưỡng, bạn vẫn có thể nhận thấy miệng mình trở nên khô hơn, nướu như bị teo tụt xuống.

Răng bạn dù được chăm sóc tốt vẫn có thể bị hơi vàng đi, giòn và dễ vỡ. Nhiều người cao tuổi có thể giữ răng được đến hết đời. Tuy nhiên, vì nước miếng trở nên ít đi khó rửa bớt vi khuẩn, răng và nướu trở nên dễ bị sâu và nhiễm trùng. Nếu không giữ được răng, nên dùng răng giả thay thế để có thể ăn uống đầy đủ.

Nhiều người bị chứng khô miệng (xerostomia), có thể dẫn đến sâu răng, nhiễm trùng… Khô miệng cũng có thể làm cho bạn khó nói chuyện, khó nuốt, khó ăn… Ung thư miệng cũng có thể xảy ra ở người cao tuổi, vì vậy nên định kỳ kiểm tra ở nha sĩ để có thể phát hiện sớm.

Sâu răng, làm mủ chân răng rất thường gặp ở người lớn tuổi. Sự nhạy cảm còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn. Với tuổi tác, nướu răng teo lại làm lộ ra phần chân răng không có men răng bảo vệ. Những vùng răng này có thể rất nhạy cảm, dễ bị đau khi bạn ăn uống thức ăn thức uống quá nóng hay quá lạnh, hoặc quá chua hay quá ngọt.

Nếu gặp tình trạng này thường xuyên, bạn có thể tìm dùng loại kem đánh răng “anti-sensitivity toothpaste” hoặc xin nha sĩ thuốc bôi. Nếu vẫn không hết, bạn phải tìm đến nha sĩ vì tình trạng này có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn – một lỗ sâu hay một vết rạn nứt gì đó ở răng.

Các bệnh thường gặp ở tuổi già như tiểu đường, tim mạch, ung thư… cũng có ảnh hưởng đến răng miệng. Vì vậy bạn cần cho các nha sĩ biết những bệnh bạn đang mắc phải để họ có thể chỉ dẫn bạn chính xác hơn.

Người lớn tuổi thường cần đến răng giả. Trong trường hợp này, bạn cần chăm sóc chúng thật đặc biệt. Nên theo đúng các hướng dẫn của thầy thuốc. Người mang răng giả lâu dài cần được kiểm tra hàng năm.

Các bệnh về nướu thường có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt nghiêm trọng ở tuổi trên 40. Có một số nguyên nhân có thể làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn như: dinh dưỡng kém, bị các bệnh như tiểu đường, tim mạch và ung thư. Những yếu tố như hút thuốc, stress, một số loại thuốc… cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng của nướu. Các tổn thương nướu có thể chữa được, vì vậy bạn cần quan tâm phát hiện sớm. Tốt nhất là nên giữ vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng.