Hiển thị các bài đăng có nhãn khó thở. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khó thở. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Chứng sa sút trí tuệ ở người già

Dù do nguyên nhân nào thì người mắc bệnh này cũng sẽ trải qua sự suy giảm không thay đổi được cả về chức năng và trí tuệ, kéo dài từ 2 đến 10 năm. Cuối cùng, bệnh nhân trở thành người lệ thuộc hoàn toàn và thường tử vong do các bệnh nhiễm trùng.

Sa sút trí tuệ là sự suy giảm chức năng trí tuệ và những lĩnh vực khác về nhận thức, dẫn đến giảm khả năng hoạt động sống hàng ngày. Đây là một trong những rối loạn ảnh hưởng trầm trọng nhất đến người cao tuổi. Đặc trưng của bệnh là sự suy giảm nhận thức xảy ra trong tình trạng ý thức vẫn bình thường. Đó không phải là loại rối loạn nhận thức có thể hồi phục như mê sảng hay trầm cảm.

Tần suất mắc bệnh sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi. Ở tuổi sau 60, tỷ lệ này tăng gấp đôi mỗi 5 năm. Ở tuổi 60-64, chỉ có 1% bị sa sút trí tuệ, nhưng đến tuổi trên 85 thì tỷ lệ này là 30-50%.

Cần phân biệt sa sút trí tuệ và quên lành tính do tuổi. Quên lành tính do tuổi là tình trạng giảm trí nhớ do tuổi cao, là kết quả của tiến trình hoạt động thần kinh chậm dần do tuổi tác. Khởi đầu của quên lành tính là tình trạng khó nhớ thông tin mới và chậm nhớ lại thông tin cũ do suy giảm khả năng tập trung và chú ý. Tuy nhiên, khi cho bệnh nhân thời gian và có biện pháp động viên thì việc sinh hoạt hằng ngày của họ vẫn bình thường

Biểu hiện thường gặp nhất của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là giảm trí nhớ gần. Bệnh nhân có thể quên điều mình vừa nói và lặp đi lặp lại câu này nhiều lần trong vài phút. Họ thường xuyên quên nơi để những vật dụng cá nhân. Tình trạng quên kéo dài và dẫn đến tâm lý hoang tưởng là bị mất trộm.

Trong giai đoạn sớm này, bệnh nhân cũng gặp khó khăn khi tìm từ diễn đạt ý mình muốn nói hoặc giải thích một điều gì đó. Họ thường phải nói vòng vo, chẳng hạn như không nhớ từ cà vạt nên phải mô tả nó là một vật quấn quanh cổ áo. Ngoài ra, bệnh nhân cũng có thể quên hay khó khăn trong việc sử dụng hoặc làm những công việc hằng ngày như lái xe, giữ tiền, nấu ăn…

Những biểu hiện khác của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là thay đổi cá tính, rối loạn cảm xúc và giảm sự phán đoán. Người bệnh có những hành động không giống như họ đã từng làm, chẳng hạn như một người keo kiệt đột nhiên tặng cho hội từ thiện vài chục triệu đồng. Những thay đổi tính khí khác như trầm cảm hay hoang tưởng cũng thường xảy ra. Cần lưu ý trong giai đoạn sớm này, hoạt động xã hội của người sa sút trí tuệ vẫn không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, họ thường có những thay đổi về tính khí như cáu gắt, tàn nhẫn, kích động…

Sự ổn định trí tuệ của bệnh nhân cũng khá mỏng manh. Trong những tình huống khó khăn hay bức xúc thì sự suy giảm trí tuệ có thể biểu lộ rõ rệt, chẳng hạn như khi phải đi một quãng đường xa để thăm con cháu thì họ có thể đi lạc hay mất định hướng, đi vòng vo.

Ở mức độ trung bình, bệnh nhân bị giảm khả năng thực hiện các công việc thường ngày như tắm rửa, mặc đồ, vệ sinh cá nhân. Họ không thể nhớ được thông tin mới, mất định hướng về không gian và thời gia, có thể quên những sự vật xung quanh mình như quên nhà vệ sinh, phòng ngủ ở đâu. Người bệnh cũng dễ bị ngã hoặc có tai biến do sự nhầm lẫn và giảm phán đoán. Những rối loạn hành vi có từ giai đoạn sớm vẫn kéo dài đến giai đoạn trung bình và nặng. Hoang tưởng và ảo giác xuất hiện ở khoảng 25% bệnh nhân. Ví dụ: Khi bệnh nhân mất khả năng nhận ra chính bản thân mình trong gương thì họ lại nghi ngờ là có người lạ vào nhà. Sự lệch lạc này có thể ngày càng nặng và kéo dài. Bệnh nhân cũng có những biểu hiện rối loạn hành vi và trở nên kích động.

Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân không thể thực hiện những sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại và lệ thuộc hoàn toàn vào người thân. Trí nhớ ngắn hạn, dài hạn bị mất hoàn toàn. Bệnh nhân không nhận biết được kể cả những người rất thân của mình, mất đi những khả năng vận động phản xạ khác như nuốt (nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng và sặc thức ăn). Kết hợp với tình trạng kém dinh dưỡng và ít vận động, nằm liệt giường, bệnh nhân có thể bị loét da.

Ở giai đoạn muộn của sa sút trí tuệ, bệnh nhân sẽ bị tăng tần suất các tai biến; chẳng hạn như biến chứng của việc mất nước, kém dinh dưỡng, viêm phổi hít, loét da. Sự lệ thuộc hoàn toàn vào người khác có khi đưa bệnh nhân đến tình huống phải vào nhà dưỡng lão. Nếu tiếp tục ở tại nhà, người chăm sóc và bệnh nhân phải được trang bị những thiết bị cần thiết khác.

Khi nghi ngờ người thân bị sa sút trí tuệ, bạn hãy đưa họ đến khám tại các phòng khám chuyên khoa tâm thần, thần kinh hoặc lão khoa.

Ngừa bệnh động mạch vành ở người cao tuổi

Càng có tuổi thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và chuyển hóa trong đó có bệnh động mạch vành (ĐMV) ngày càng tăng lên. Có đến 1/3 số bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bị tử vong trong vòng 24 giờ kể từ khi bị đau ngực và rất nhiều bệnh nhân còn sống sót có di chứng trầm trọng. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa sự phát triển bệnh ĐMV (phòng ngừa tiên phát) hoặc làm giảm nguy cơ bị NMCT cấp ở các bệnh nhân đã mắc bệnh ĐMV (phòng ngừa thứ phát) bằng cách làm thay đổi các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Phòng ngừa tiên phát bệnh ĐMV

Các nguy cơ chính gây bệnh ĐMV là hút thuốc lá, thừa cân, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐMV sớm (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), rối loạn lipid máu, đái tháo đường và tăng huyết áp. Các bác sĩ cần phát hiện và đánh giá tình hình kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh ĐMV cho tất cả các bệnh nhân theo định kỳ (3-5 năm). Nguy cơ mắc bệnh ĐMV nên được tính toán cho các bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ chính trở lên để đưa ra chiến lược phòng ngừa tiên phát phù hợp. Phòng ngừa bằng aspirin có thể gây ra các biến chứng chảy máu và chỉ nên sử dụng aspirin để phòng ngừa tiên phát ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Phòng ngừa thứ phát

Thay đổi lối sống: Trước khi ra viện, các bệnh nhân NMCT cấp cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần được hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên nitroglycerin dưới lưỡi, để đảm bảo chắc chắn là bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát. Các bệnh nhân có triệu chứng của NMCT cấp (đau thắt ngực có hoặc không lan ra tay, lưng, cổ, hàm, hay thượng vị; khó thở; mệt; vã mồ hôi; buồn nôn; choáng váng) nên được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu hơn là bởi người nhà hay bạn bè, vì các nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời các thủ thuật có thể cứu sống bệnh nhân (hồi sức tim phổi, sốc điện chuyển nhịp) khi cần thiết. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT cấp có thể giảm đi một cách có ý nghĩa nếu bệnh nhân và người nhà sớm nhận ra triệu chứng và gọi cho trung tâm cấp cứu, nhờ vậy bệnh nhân sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhân viên y tế sớm nhất.

Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 – 22,9 kg/m2. Nếu vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Bỏ hút thuốc lá: Ngừng hút thuốc lá là một yếu tố quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể làm giảm nguy cơ bị tái phát NMCT. Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch. Lợi ích của việc ngừng hút thuốc lá gần như đạt được tức thì. Ngay khi bệnh nhân ngừng hút thuốc, nguy cơ tái phát bệnh bắt đầu giảm xuống. Sau 5 năm cai thuốc lá, nguy cơ bị NMCT tái phát sẽ giảm đi một nửa so với trường hợp bệnh nhân tiếp tục hút thuốc.

Kiểm soát các bệnh có liên quan

Huyết áp: Cần kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp (THA). Các bệnh nhân THA nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Đường huyết: Kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Rối loạn lipid máu: Nên khuyên các bệnh nhân ăn chế độ có chứa ít cholesterol, ít chất béo bão hòa, nhiều chất xơ hòa tan được, nhiều rau và hoa quả. Các thuốc statin đã được chứng minh là biện pháp can thiệp bằng thuốc có hiệu quả nhất. Nồng độ lipid mục tiêu phụ thuộc vào nguy cơ cơ bản của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao nên điều trị rối loạn lipid máu tích cực để đạt nồng độ LDL-C mục tiêu dưới 70mg/dL.

Hormon liệu pháp: Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCT cấp như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố bệnh ĐMV. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCT cấp không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên dùng tiếp tục khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Hoạt động thể lực: Các bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Chống ôxy hóa: Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp để phòng ngừa thư phát các bệnh tim mạch.

PGS. TS. Nguyễn Quang Tuấn (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi

Viêm phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản – phổi tắc nghẽn không đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.

Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện  thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống…

Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính

Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 – 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể. Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ…). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế – huyết quản tăng đậm.

Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Điều cần biết trong sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi

Người cao tuổi không nên kê gối cao khi nằm ngủ. Để hạn chế thiếu máu não đột ngột, đang nằm, nếu muốn ngồi dậy thì không nên nhấc đầu một cách đột ngột mà phải xoay đầu và nghiêng người lại, chống tay dậy từ từ. Việc nằm đọc sách lâu cũng có hại cho mắt, gây mỏi người, mỏi tay, máu dồn xuống thấp và gây bệnh trĩ .

Buổi sáng ngủ dậy, nếu grain bị đau lưng, đau khớp gối, khớp các ngón tay, hãy vận động một lúc sẽ thấy dễ chịu. Tuy nhiên, cần đi khám để phòng thoái hóa khớp.

Các thuốc chống đau (Cortancyl, Indometacin, Alaxan…) thường có hại cho dạ dày; vì vậy, luyện tập là biện pháp điều trị chủ yếu. Hãy khởi động các khớp trước khi bỏ chân xuống giường, vuốt dọc cơ thắt lưng làm dịu cơn đau cột sống, bóp chặt đầu gối rồi mới cử động. Tốt nhất là dùng bao gối (của các cầu thủ đá bóng) khi đi lại, lên xuống thang gác nếu có hiện tượng thoái hóa đầu gối.

Khi ngủ dậy, nếu thấy cảm giác khác thường như tê nửa người, bại một bên chân hoặc tay, cần nằm nghỉ và mời bác sĩ đến khám, không cạo gió, không cố tập thể dục. Đây có thể là một tai biến mạch máu não, nhất là khi có tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

Nằm, ngồi và một số hoạt động khác

Nên tránh chỗ ngồi có gió lùa. Nếu ngồi quạt thì không để gió thổi thẳng vào gáy và đỉnh đầu. Nên dùng quạt harbour để thay đổi hướng gió, không để gió luôn thổi thẳng vào người. Khi mở cửa, chú ý đứng nép mình sau cánh cửa để gió không lùa thẳng vào mặt, dễ bị cảm. Khi ngồi ở nơi có gió mạnh (ban công, bên hồ) nên ngồi ở vị trí để gió thổi vào lưng.

Khi lên xuống cầu thang, nếu tức ngực, khó thở khác với bình thường, nên đi khám bệnh. Nếu nhói đau bên ngực trái và khó thở, cần chú ý đến chứng thiếu máu cơ tim.

Để giữ cột sống, không nên với tay lấy một vật gì quá tầm, không bê vật quá nặng. Khi mang xách, trọng lượng nên cân đối cả hai bên. Không cúi lom khom khi quét nhà, quét sân, kể cả lúc bê một vật gì đó. Giữ cho lưng thẳng trong mọi trường hợp có thể. Nên kê một gối êm, cao vừa phải vào đoạn cột sống thắt lưng khi nằm để chữa tật còng lưng.

Đối với người cao tuổi, hoạt động thể lực và trí lực rất cần thiết nhưng phải thực hiện đều đặn và thường xuyên, tránh tình trạng bữa đực, bữa cái. Não có hoạt động thì lượng máu lên nuôi não cũng nhiều hơn; nếu không, não dễ bị teo nhỏ. Tay chân không hoạt động, cơ bắp sẽ teo nhẽo, khớp đau, dẫn đến suy nhược, lười biếng, rút ngắn tuổi thọ.

Đại, tiểu tiện

Bình thường, mỗi ngày người cao tuổi có thể đại tiện 3 lần sau các bữa ăn hoặc 2-3 ngày mới đi một lần. Tổng lượng phân không quá 200 g nếu ăn ít chất xơ. Gọi là đi lỏng nếu đi đại tiện nhiều lần trong ngày và phân lỏng (thường là do rối loạn chức năng đại tràng).

Gọi là táo bón nếu 4 ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô từng lọn, có nhiều chất nhầy trắng bao bọc bên ngoài. Nếu 1-3 ngày đại tiện một lần, phân khô thì không thể gọi là táo bón. Phân khô là do ăn ít rau, uống ít nước nhưng chưa bù đủ nước cho lượng mồ hôi đã mất sau khi hoạt động thể lực. Người đi phân lỏng phải kiêng cá, mỡ, sữa, trứng trong nhiều năm; cần khám kỹ vì có thể đó là dấu hiệu viêm đại tràng mạn tính do tự ý dùng thuốc kháng sinh .

Cần tạo thói quen đi đại tiện hằng ngày, hoặc 1-2 ngày/lần. Nếu phân có máu tươi, cần khám bệnh sớm, yêu cầu thăm khám hậu môn để phát hiện ung thư phần thấp của trực tràng. Không rặn mạnh khi đại tiện để phòng xuất huyết ở một mạch máu đã bị tổn thương trước đó.

Có thể tạo phản xạ dễ đi đại tiện bằng cách tập thể dục, xoa day thành bụng từ phải sang trái, uống trước một cốc nước, một ly sữa hoặc một ly cà phê. Việc thay đổi tư thế ngồi lúc đi đại tiện (ngồi xổm, ngồi nghiêng sang bên trái, ngồi ngả ra đằng sau) cũng có thể làm cho cơ thít hậu môn dễ mở hơn. Đi đại tiện xong, không đứng dậy ngay một cách đột ngột mà nên cúi mình ra trước, từ từ ngồi dậy. Nếu thấy chóng mặt, nên vịn vào một chỗ nào đó, chờ hết chóng mặt hãy đứng lên. Đây là tình trạng thiếu máu lên não, thường chỉ thoáng qua; nếu kéo dài thì nằm nghỉ, tốt nhất là có bác sĩ theo dõi.

Người cao tuổi bình thường đi tiểu dễ dàng, không buốt, không rắt, không sót lại; tia nước tiểu thẳng, không bị ngắt quãng. Tình trạng grain tiểu tiện đêm có thể do mất ngủ, hoặc có một vài bệnh như viêm đường tiết niệu, bệnh tuyến tiền liệt…

Khi đi tiểu cũng phải vịn vào một chỗ nào đó. Nếu chóng mặt thì cúi đầu ra phía trước, chờ hết hãy đi vào. Khi đi tiểu, một lượng nhiệt sẽ bị thải ra theo nước tiểu, áp suất trong ổ bụng bị hạ thấp do mất sự chèn ép của bàng quang, lượng máu lên não thiếu. Điều này cũng gây chóng mặt và dễ bị ngã. Kinh nghiệm cho thấy, tai biến mạch máu não ở người cao tuổi dễ gặp về anathema đêm, lúc dậy đi tiểu. Do đó, nếu đang đắp chăn ấm, trước khi ngồi dậy, phải mở dần chăn ra để nhiệt độ cơ thể thích nghi với nhiệt độ bên ngoài, đồng thời phải nằm nghiêng một lúc rồi mới từ từ ngồi dậy. Nếu đi tiểu rắt, buốt grain có máu, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa. Về anathema đêm, tốt nhất là có bô tiểu để cạnh giường, tiện tầm tay với, không phải đi ra khỏi phòng.

BS Hà Văn Ngạc, Sức Khỏe Đời Sống

Chứng mất ngủ ở người cao tuổi

Các nghiên cứu khoa học đã xác nhận tình trạng mất ngủ ở người cao tuổi (NCT) liên quan rõ rệt với sự sụt giảm bài tiết một nội tiết tố của tuyến tùng có tên là melatonin – một chất có vai trò điều hòa nhịp thức – ngủ. Trong cơ thể người, melatonin được tiết ra từ lúc mới sinh, đến 15 tuổi, bắt đầu giảm đi và sau 45 tuổi bị cạn kiệt rất nhanh. Ngay cả khi đạt mức tối đa, lượng melatonin ở NCT cũng chỉ bằng một nửa so vớI người trẻ, đến 80 tuổi thì giảm đến mức tối thiểu.

Càng cao tuổi càng dễ mất ngủ

Điều dễ nhận thấy là trẻ càng nhỏ tuổi ngủ càng nhiều (trẻ mới sinh gần như ngủ suốt ngày, chỉ thức giấc khi đói hay tã ướt), thanh niên mỗi ngày ngủ 8-9 giờ, NCT ngủ ít hơn nhiều: chỉ 5-6 giờ hoặc 4-5 giờ, lại hay thức giấc nhất là các cụ ông. Nhưng, theo các nhà sinh lý học, vấn đế cốt lõi không phải ở số giờ ngủ mà ở chất lượng giấc ngủ: một giấc ngủ êm dịu, không mộng mị, chập chờn; thức dậy thấy thoải mái, dễ chịu, hào hứng bước vào một ngày mới. Điều này cũng có nghĩa là, không thể đòi hỏi NCT phải ngủ được nhiều như những người trẻ tuổi.

Điều tra dịch tễ học cho thấy, số đông NCT thường phàn nàn về giấc ngủ. Có cụ vào giấc ngủ rất khó nhưng rồi ngủ được. Có cụ vừa đặt lưng đã ngủ nhưng nửa đêm tỉnh giấc rồi mắt “chong chong” đến sáng. Nhưng phần lớn ngủ chập chờn, không say, giấc ngủ bị đứt quãng nhiều lần, khi thức dậy cảm thấy không thoải mái, uể oải. Các cụ bà hay bị mất ngủ hơn các cụ ông; trên 70 tuổi, tỷ lệ mất ngủ ở các cụ bà cao gấp đôi các cụ ông.

Mất ngủ có thể nhất thời xảy ra (gọi là mất ngủ cấp tính). Mất ngủ cấp tính chủ yếu do rối loạn thích nghi, có đặc điểm là mất ngủ ngắt quãng (có những lúc tỉnh giấc), ban ngày mệt mỏi, buồn ngủ và ngủ bù; nhưng khi stress được giải tỏa, giấc ngủ sẽ trở lại bình thường. Thời gian mất ngủ trung bình 1-2 tuần lễ tùy theo tuổi tác, cá tính và tính chất stress. Chẳng hạn: tiếng xe cộ qua lại, tiếng nhạc ầm ĩ, chói tai, mùi các con vật nuôi trong nhà… đều có thể là những stress.

Khi stress không được loại trừ hoặc xuất hiện các nhân tố làm cho nó tiếp tục tồn tại, mất ngủ vẫn tiếp diễn và kéo dài thậm chí thành mạn tính. Một số thói quen như giờ giấc đi ngủ thất thường, thường xuyên nằm trên giường xem ti-vi nhiều giờ liền, ăn uống tại phòng ngủ; uống rượu, hút thuốc lá, uống cà phê, trà đặc buổi tối hay lo lắng quá mức về tình trạng mất ngủ… có thể làm mất ngủ kéo dài. Gọi là mất ngủ mạn tính khi thờI gian mất ngủ kéo dài từ 3 tháng trở lên.

Những nguyên nhân gây ra mất ngủ

Mất ngủ có thể là một triệu chứng của một bệnh, hay do nhiều nguyên nhân gây ra. Mỗi nguyên nhân lại có những dấu hiệu mất ngủ đặc trưng, chẳng hạn:

- Mất ngủ do các sự cố (như phải thay đổi chỗ ở, ốm đau bệnh tật, mất việc làm, hôn nhân tan vỡ, đau buồn tang tóc…) thường rất khó vào giấc ngủ.

- Mất ngủ có trầm cảm: ngủ không yên hay thức giấc, dậy quá sớm trước giờ thường lệ, kèm theo suy nghĩ miên man, tâm trạng buồn chán, sụt cân.

- Mất ngủ do bệnh tim: khó thở khi nằm ở người bị suy tim, do khó thở kịch phát trong cơn tăng huyết áp, loạn nhịp tim làm thức dậy đột ngột giữa lúc đang ngủ.

- Mất ngủ do đau (đau khớp, đau vùng trước tim…): khó vào giấc ngủ, nhiều lần phải thức giấc.

- Mất ngủ do hội chứng ngừng thở khi ngủ (như bị viêm phế quản tắc nghẽn, hen suyễn…): ngủ đủ số giờ cần thiết nhưng khi thức dậy thấy không dễ chịu, người mệt mỏi; bị nhức đầu lúc mới thức dậy buổi sáng, khó tập trung chú ý, rối loạn trí nhớ; ban đêm ngáy như sấm, ra nhiều mồ hôi, trằn trọc, nhiều lần thức giấc.

Để được giấc ngủ ngon

Để được ngon giấc, các bậc cao niên cần quan tâm đến một số yêu cầu sau đây:

- Tránh mọi tác nhân kích thích: ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ không uống ruợu; sau 4 giờ chiều không hút thuốc lá (nếu bỏ thuốc lá, thuốc lào thì càng tốt), không uống cà phê; cũng không nên dùng các thức ăn, đồ uống có caffein trước khi đi ngủ.

- Tập luyện đều đặn, tốt nhất là tập vào cuối buổi chiều nhưng cần tránh tập các môn hoạt động thể lực mạnh sau 6 giờ chiều. Các bài tập như: đi bộ, xoa bóp, thư giãn rất tốt cho tuổi già và giấc ngủ.

- Bữa tối nên ăn nhẹ; không dùng sôcô- la, các thức ngọt; không uống nhiều nước; có thể tắm nước ấm hoặc lau ngườI bằng nước ấm trước khi đi ngủ.

- Phòng ngủ phải yên tĩnh, ánh sáng thích hợp, bảo đảm thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông; không có gió lùa nhất là về mùa rét.

- Chỉ lên giường khi đã sẵn sàng cho giấc ngủ. Vào giường ngủ, không nói chuyện, không đọc sách báo, không xem ti-vi, không nghe nhạc hay suy tính công việc làm ăn…

- Mỗi sáng nên thức dậy vào một giờ nhất định. Buổi trưa nên ngủ vào một giờ nhất định và chỉ nên ngủ 30-45 phút hoặc thư giãn chừng 30 phút.

Các biện pháp không dùng thuốc

Nếu bị mất ngủ, trước tiên nên áp dụng các biện pháp không dùng thuốc hay dùng dược thiện, tùy theo hoàn cảnh cụ thể:

- Gõ ngón trỏ (gõ mạnh vừa phảI bằng mô đốt ngón 3) lên đầu lông mày hai bên, mỗi bên 30-60 lần. Xong vuốt nhẹ lông mày 2 bên từ đầu đến đuôi lông mày.

- Gãi chân tóc từ trán ra sau gáy trong 2-3 phút bằng 10 đầu ngón tay hoặc bằng lược.

- Xoa nóng 2 bàn chân.

- Ngâm chân nước ấm 38-43oC trong 20 phút, mỗi ngày 2 lần, trong đó có một lần trước khi đi ngủ buổi tối.

- Gối đậu đen rang nóng (theo Nam dược thần hiệu của Thiền sư Tuệ Tĩnh): rang nóng đậu đen, rồi cho vào gối, gốI suốt đêm.

- Hoa chuối 30g rửa sạch, thái nhỏ; Tim lợn một quả, rửa sạch, bổ tư ; xào chín với hoa chuối, ăn cả cái lẫn nước.

- Hoa thiên lý xào với tim lợn hoặc nấu canh với thịt nạc, ăn hàng ngày.

- Tâm sen 2-4g/ngày, hãm với nước sôi, uống thay trà.

- Lá vông nem (chọn lá bánh tẻ) rửa sạch, luộc hoặc nấu canh ăn; cũng có thể hãm trà 2-4g/ngày hoặc dùng dướI dạng cao lỏng (2-4g/ngày), uống trước khi đi ngủ buổi tối.

- Lạc tiên: lấy ngọn non, rửa sạch, luộc chín; ăn vào buổi chiều hoặc vài giờ trước khi đi ngủ buổi tối.

- Nước ép quả cà chua pha với mật ong, uống buổi tối.

Nếu vẫn không cải thiện được giấc ngủ mới phải dùng thuốc. Theo khuyến cáo của các nhà lão khoa, các cụ chỉ nên dùng thuốc ngủ hay các thuốc an thần gây ngủ tân dược khi thật cần; và nên bắt đầu bằng một loại thuốc ngủ có nguồn gốc thảo dược như: mimosa, rotundin… sau mới dùng đến hóa dược như benzodiazepin, barbituric… và cũng chỉ nên sử dụng trong dăm bảy tối để tránh độc cho gan, thận và tránh lệ thuộc thuốc ngủ. Cũng nên kết hợp với thư giãn hoặc thở bụng (thở 4 thì: hít vào hết sức cho bụng phình lên tối đa ngừng vài giây thở ra hết tới khi bụng hóp lại hết cỡ thở ra)… tạo điều kiện đi vào giấc ngủ dễ dàng.

Theo: SKĐS

Rau ngót món ăn, bài thuốc cho người lớn tuổi

Rau ngót có nhiều poison amin, vitamin và chất khoáng vì vậy nó có tính bổ dưỡng cao. Người ta thường nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, giò sống trứng, tôm, cá đồng… bữa ăn gia đình, nhất là các cụ lớn tuổi, nên có thêm bát canh rau ngót.

Rau ngót grain bù ngót, bồ ngót, tên khoa học là Sauropus androgynus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Loại cây này được trồng rất phổ biến quanh nhà. Người dân vừa dùng làm món ăn vừa làm thuốc chữa trị một số bệnh. Hái lá tươi dùng ngay. Thường grain chọn những cây 2 tuổi trở lên để làm thuốc.

Rau ngót có nhiều poison amin cần thiết: trong 100g rau ngót có lysin, 0,13g metionin, 0,05g tryp-tophan, 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin, valin, leuxin và 0,17g izoleucin…

Rau ngót rất giàu đạm nên thường được khuyên dùng thay thế đạm động vật để hạn chế những rối loạn chuyển hóa canxi gây loãng xương và sỏi thận.

Đặc biệt với hàm lượng vitamin K dồi dào – chất giúp giảm nguy cơ gãy xương và papaverin – chất giúp giảm cơn đau phủ tạng, hạ huyết áp nên rau ngót rất tốt cho người lớn tuổi.

Thanh nhiệt: rau ngót được dùng để thanh nhiệt, hạ sốt, trị ho do phế nhiệt. Dùng lá rau ngót tươi dưới dạng nước ép lá hoặc nấu canh rau ngót.

Canh giải nhiệt mùa hè: rau ngót nấu canh với hến, vừa có vị ngọt đậm đà, vừa thanh nhiệt. Sự phối hợp này lạnh, nên cho thêm lát gừng hoặc nên kiêng với người hư hàn.

Trị cảm nhiệt gây ho suyễn: rau ngót vị mát, có tính thanh nhiệt, lại chứa chất ephedrin, rất tốt cho những người bị cúm gây ho suyễn.

Giảm thân trọng: rau này có khả năng sinh nhiệt thấp (100g chỉ có 36 calori), ít glucid và lipid nhưng nhiều protein; do đó, rất phù hợp với thực đơn người muốn giảm thân trọng như mập phì, bệnh tim mạch và tiểu đường. Nên nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, đậu hũ. . .

Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: người bệnh đái tháo đường chỉ được ăn ít cơm để glucoz-huyết không tăng nhiều sau bữa ăn. Rau ngót có inulin giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường chậm (đường và cơm là đường nhanh). Mặt khác, khả năng sinh nhiệt của inulin chỉ bằng 1/9 của chất béo.

Trị táo bón: rau ngót bổ âm, sinh tân dịch, nhiều chất xơ nên ngăn ngừa được táo bón. Phụ nữ sau sinh, nên dùng rau ngót để vừa bổ âm, sinh tân dịch, bù lại âm và tân dịch mất cùng máu khi sinh.

Tăng lượng sữa cho phụ nữ sau sinh: hiện nay, lá rau ngót chiết xuất đã được sử dụng như là một thành phần củng cố trong các thực phẩm chức năng dành cho bà mẹ cho criminal bú. Thưởng thức rau ngót có thể giúp bà mẹ tăng lượng sữa, điều này là do bắt nguồn từ những tác động nội tiết của các hợp chất hóa học sterols có tính chất estrogen.

Tăng lượng vitamin A: rau ngót là một nguồn vitamin A tương đối cao, giúp cơ thể để ngăn ngừa các bệnh về mắt, tăng trưởng tế bào, hệ miễn dịch, sinh sản, và duy trì làn da khỏe mạnh.

Cung cấp can xi: lá rau ngót có một mức canxi rất tốt. Đây là một trong những khoáng chất quan trọng nhất cần thiết cho cơ thể.

Đánh thức khả năng tình dục: lá rau ngót rất giàu các hợp chất có thể tăng chất lượng và số lượng tinh trùng, bao gồm cả khơi dậy tiềm năng và khả năng tình dục.

Trị sót nhau thai: rau ngót 20 – 30g, rửa sạch, giã nhuyễn, cho vào một ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy khoảng 100ml; chia làm 2 phần để uống (mỗi lần cách nhau 10 phút). Sau chừng 30 phút, nhau sẽ ra và sản phụ hết đau bụng.

Cũng có thể dùng rau ngót giã nhuyễn rồi đắp vào giữa lòng bàn chân, nhưng cần lưu ý là khi nhau đã hết thì cần bỏ miếng băng thuốc ra ngay.

Rễ rau ngót có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp, dùng 20 – 40g rễ tươi rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống trong ngày.

Trị chảy máu cam: giã rau ngót thêm nước, ít đường để uống, bã còn lại gói vào vải đặt lên mũi.

Trị tưa lưỡi ở trẻ nhỏ: lá rau ngót 20g, rửa sạch, giã nhỏ, cho vào một ít nước lọc đã được đun sôi, để nguội dần (cho đến khi còn hơi ấm thì dùng), vắt lấy nước, dùng bông gòn hoặc vải mỏng để thoa nước này lên lưỡi, lợi, miệng của trẻ bệnh.

Trị tưa lưỡi ở người lớn: rau ngót 20g, xay với 300ml nước, lọc bỏ bã, mỗi ngày uống 3 lần vào sáng, trưa và tối. Kinh nghiệm cho thấy uống trong 3 ngày có chuyển biến tốt.

Trị đau mắt đỏ (viêm kết mạc): lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.

Trị hóc xương: lấy rau ngót tươi rửa sạch, để ráo nước, giã nhuyễn, chắt lấy nước cốt ngậm khoảng 15 phút rồi nuốt dần dần sẽ có kết quả.

Trị đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: rau ngót 30g, bầu đất 30g, nấu với 1 cật heo thành canh cho trẻ ăn.

Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh, mà còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn.

Giải rượu: giã lá rau ngót lấy nước uống.

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, lá rau ngót cũng có một số nhược điểm. Ngoài việc hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, glucocorticoid -kết quả của quá trình trao đổi chất của lá rau ngót, có thể gây cản trở cho quá trình hấp thụ canxi và phốt pho, cả canxi và phốt pho có trong lá rau ngót cũng như trong thực phẩm khác được ăn kèm với rau ngót.

Tại Đài Loan, có báo cáo cho thấy nhiều người ăn nước ép lá rau ngót (150g) trong 2 tuần đến 7 tháng đã xảy ra tác dụng phụ như có triệu chứng khó ngủ, ăn uống kém đi và khó thở. Tuy nhiên, những triệu chứng này biến mất sau một ngày ngừng tiêu thụ nước ép lá rau ngót.

Theo tờ Sriana, quá trình đun sôi cũng có thể làm giảm những tác động tiêu cực của lá rau ngót.

Phòng ngừa bệnh quên ở người cao tuổi

Nhiều loại mất trí nhớ thường là biểu hiện của các rối loạn thần kinh như alzheimer, tai biến mạch máu não, tâm thần, trầm cảm, stress, suy nhược thần kinh. Tuy nhiên, nhiều người lớn tuổi khỏe mạnh vẫn phàn nàn hay quên trong sinh hoạt hàng ngày.

Biểu hiện sớm của chứng quên là khó khăn trong sử dụng tiền hàng ngày, sử dụng phương tiện giao thông, kỹ năng mua sắm, trong việc làm theo lời hướng dẫn và tìm đường trong thành phố. Nhân cách người bệnh cũng thay đổi, biểu hiện ở sự ngơ ngác, thờ ơ với người khác, luôn than phiền quên, không nhớ.

Hai biểu hiện rối loạn trí nhớ thường gặp

Chứng loạn trí nhớ về không gian hay nơi chốn: bệnh nhân khó nhận biết nơi mình đang ở và những nơi khác mà họ đã được biết trước đó. Chứng loạn trí nhớ này là rối loạn kỳ lạ, trong đó bệnh nhân luôn tin rằng họ đang ở một nơi khác với nơi họ thật sự đang ở, dù cho có đối mặt với các bằng chứng không thể chối cãi như cầu thang, bàn ghế, giường nệm.

Chứng quên toàn bộ thoáng qua: là một rối loạn có tính chất chu kỳ của hệ thần kinh trung ương trong đó sự mất thình lình trí nhớ, đặc biệt là trí nhớ để tường thuật hay nói về những sự kiện mới xảy ra mà không kèm triệu chứng thần kinh. Người mắc chứng quên này thường có những biểu hiện như: hay hỏi lặp đi lặp lại một câu hỏi. Chứng quên thông thường gặp trong các nguyên nhân là quên theo tuổi gắn liền với mất dần tính khôi hài trong giao tiếp, tốc độ suy nghĩ chậm dần, tuy nhiên nhân cách ít biến đổi, cách phát âm không thay đổi. Ở chứng quên này, người bệnh thường quên sự việc mới xảy ra, nhưng lại nhớ rất lâu các sự việc đã xảy ra trong quá khứ. Quên do các nguyên nhân tâm thần thường kết hợp với các rối loạn thần kinh thực vật, mất ngủ, thiếu năng lực trong công việc, ăn không ngon, lo âu. Quên là triệu chứng sớm của suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ, đây là căn bệnh tiến triển chậm trong nhiều năm.

Phòng ngừa thế nào?

Trong nhiều cố gắng, y học đã khẳng định quên giai đoạn sớm có thể chữa được và ít ra cũng làm quá trình bệnh chậm lại, hoặc tạo cho người bệnh có cuộc sống tốt hơn. Vấn đề đặt ra là khi các bạn có biểu hiện quên thì nên đi khám bệnh để được xác định mức độ quên, tìm các yếu tố nguy cơ và kịp điều trị sớm. Hiện nay có rất nhiều thuốc điều trị đặc hiệu cho chứng quên do bệnh sa sút trí tuệ, quên sau tai biến mạch máu não, quên thông thường ở người lớn tuổi, quên do các bệnh trầm cảm, stress, Alzheimer… Alzheimer là bệnh đứng hàng đầu (chiếm 50-60%) trong các căn nguyên gây bệnh mất trí nhớ hiện nay. Một số thuốc có tác dụng duy trì trí nhớ và khả năng nhận thức dùng trong điều trị bệnh Alzheimer là các thuốc bổ thần kinh, các thuốc tăng cường chuyển hóa tuần hoàn não.

Tuy nhiên, chữa bệnh Alzheimer cần chú trọng đến vấn đề chăm sóc, cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người già (giải quyết các yếu tố cô đơn tuổi già, mâu thuẫn giữa các thế hệ, rối loạn chức năng các giác quan, vấn đề nhà ở, thu nhập…). Ngoài ra, cần giáo dục để thay đổi nhận thức và thái độ của mọi người trong cộng đồng về các rối loạn tâm thần ở người già. Cần đào tạo các kỹ năng, kiến thức, phương pháp theo dõi, quản lý săn sóc người già bị rối loạn tâm thần trong bệnh viện, nhất là tại gia đình và cộng đồng… và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người già.

Bệnh hô hấp ở người già mùa rét

Người cao tuổi (NCT), mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm trong đó sức đề kháng cũng giảm đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm).

Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của NCT càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa nhất là vào mùa lạnh. Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải trong mùa lạnh thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất.

Một số bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh NCT hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát, dễ gây nên viêm xoang, gây nhức đầu. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. NCT vào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở NCT do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng. Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng.

Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm. Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở NCT như tăng huyết áp, đái tháo đượng, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở NCT.

Phòng bệnh hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi như thế nào?

Cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì NCT nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà lúc sáng sớm khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế). Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, NCT cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

Theo: SK&ĐS