Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm phổi. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn viêm phổi. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi

Viêm phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản – phổi tắc nghẽn không đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.

Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện  thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống…

Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính

Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 – 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể. Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ…). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế – huyết quản tăng đậm.

Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Bệnh sa sút trí tuệ ở người già

Theo nghiên cứu mang tên Mối nguy hiểm của môi trường đối với sức khỏe người cao tuổi, do các chuyên gia ở Trung tâm Khoa học và Môi trường Boston Mỹ thực hiện mới đây cho thấy, do kinh tế phát triển, nạn ô nhiễm môi trường tăng cao mà tỉ lệ người mắc bệnh suy giảm trí nhớ ngày càng nhiều, nhất là bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn. 1. Yếu tố di truyền

Theo nghiên cứu nói trên thì di truyền có vai trò nhất định làm tăng bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn nhưng không đáng kể, mà yếu tố chính gây suy giảm thần kinh là phơi ra môi trường ô nhiễm, các độc tố này ảnh hưởng đến não, hệ thống thần kinh criminal người, thậm chí cả những đứa trẻ vẫn còn nằm trong bụng mẹ đã bị ảnh hưởng và tạo ra nhiều căn bệnh mạn tính nan y khác như tiểu đường, béo phì, tim mạch và hội chứng trao đổi chất.

2. Mức độ nguy hiểm của ô nhiễm môi trường

Những nguyên nhân gây bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn do môi trường gây ra phải kể đến các loại hóa chất sau :

- Chì: Nếu phơi ra môi trường ô nhiễm chì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh suy giảm trí nhớ và nhận thức. Cụ thể, những người cao tuổi nếu sống nhiều trong môi trường ô nhiễm chì thì mức suy giảm nhận thức già hơn tới 15 năm so với nhóm không tiếp xúc với hợp chất này và rủi ro mắc bệnh sa sút trí tuệ là rất lớn.

- Ô nhiễm không khí: Đây là tác nhân gây bệnh rất tiềm ẩn đối với não, phổi, tim, mũi và mạch máu. Bằng chứng, những người dân sống ở các thành phố có không khí ô nhiễm cao thường mắc các loại bệnh nói trên khi còn rất trẻ và viêm nhiễm chính là nguyên nhân làm cho trí nhớ suy giảm khi về già.

Thuốc trừ sâu: Theo nghiên cứu do Hiệp hội An-giê-mơ của Mỹ thực hiện, nếu tiếp xúc với thuốc trừ sâu lâu dài kể cả hàm lượng thấp cũng rất dễ mắc các loại bệnh mạn tính, suy giảm trí nhớ, sự nhận thức và chú ý của criminal người. Một nghiên cứu khác do các chuyên gia người Pháp thực hiện mới đây cũng cho thấy những người mắc bệnh nghề nghiệp, tiếp xúc nhiều hóa chất này không chỉ làm tăng bệnh An-giê-mơ, Pa-kin-sơn mà còn mắc cả các loại bệnh nan y như tiểu đường và hội chứng trao đổi chất (MS)

- Các yếu tố về ăn uống: Ăn uống cân bằng khoa học có tác dụng rất tích cực đến sức khỏe criminal người, trong đó có sức khỏe của não, nhưng ngược lại nếu ăn uống thiếu khoa học sẽ để lại những hậu quả xấu. Ví dụ, những ai lạm dụng quá nhiều mỡ bão hòa, mỡ trans-fat (mỡ dùng đi dùng lại) có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh sa sút trí tuệ cao 2-3 lần so với nhóm người không ăn mỡ này. Kết luận trên được dựa vào nghiên cứu ở loài chuột, theo đó những criminal chuột được nuôi theo thực đơn mỡ bão hòa thì trí nhớ kém hơn vào cuối đời so với nhóm chuột ăn nhiều mỡ chưa bão hòa tổng hợp. Ngoài ra các nhà khoa học còn phát hiện, nếu dùng sữa đậu nành cho trẻ hoặc dùng loại mỡ có hàm lượng sắt cao cũng là nguyên nhân gia tăng bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn lúc cuối đời. Trong khi đó khẩu phần có hàm lượng các mỡ Ô-mê-ga cao lại giảm được nguy cơ mắc bệnh An-giê-mơ tới 70%. Thực đơn tăng cường trí não tốt phải kể đến cách ăn uống của người dân Địa Trung Hải, chú trọng rau xanh, hoa quả, ngũ cốc nguyên chất, cá, lạc, dầu ô liu. Thực phẩm này còn có tác dụng giảm các bệnh nan y khác như tiểu đường, tim mạch và hội chứng trao đổi chất.

- Lười vận động: Theo nhiều nghiên cứu thì lười vận động không chỉ làm gia tăng bệnh não, mà còn mắc nhiều bệnh khác. Riêng ở nhóm người trung cao tuổi nếu duy trì cuộc sống hoạt động, luyện tập thể thao ít nhất 2 lần/tuần có thể giảm được tới 50% nguy cơ mắc bệnh An-giê-mơ và Pa-kin-sơn vào cuối đời.

- Stress: Được xem là những nguyên nhân rất tiềm ẩn làm tăng bệnh viêm nhiễm và quá trình ôxi hóa của cơ thể. đây là những dấu hiệu anathema đầu gia tăng bệnh thoái hóa hệ thần kinh và các bệnh tim mạch, tiểu đường, hội chứng trao đổi chất, rối loạn lipit, béo phì và ung thư.

3. Một số giải pháp tăng cường sức khỏe não, thần kinh

Do chưa tìm ra nguyên nhân chính xác nên hiệu quả điều trị chưa cao, bởi vậy việc phòng bệnh đóng một vai trò quan trọng, nhất là trong bối cảnh ô nhiễm môi trường đang trở nên bức xúc và tỉ lệ lão hóa dân số đang tăng nhanh như hiện nay.

- Ăn uống cân bằng, khoa học: ăn uống thông minh, đủ chất và tránh những thực phẩm không có lợi, chứa nhiều mỡ xấu, đường và muối.

- Tăng cường luyện tập thể thao, duy trì cuộc sống hoạt động, hạn chế cuộc sống tĩnh tại.

- Áp dụng các bài tập cho não thông qua các hoạt động hàng ngày. Ví dụ như đọc sách báo, chơi cờ, giao tiếp bạn bè, tham gia các hoạt động xã hội, các hoạt động phường hội, câu lạc bộ vv…

- Hạn chế tiếp xúc môi trường độc hại, nhất là độc hại không khí, hóa chất grain độc hại nguồn nước.

- Hạn chế, tránh xa các đồ gây nghiện, rượu, bia, thuốc lá.

- Duy trì cuộc sống vui vẻ, lạc quan, yêu đời, bỏ xa ý nghĩ hận thù, cay cú grain cực đoan. Sống khỏe, tích cực để làm gương cho criminal cháu, có lợi cho cả gia đình, cộng đồng và làm cho cuộc đời thêm ý nghĩa.

Theo Nguoicaotuoi

Tăng tuổi thọ nhờ chải đầu

Chải đầu không chỉ là việc làm đẹp thường ngày dành riêng cho phụ nữ mà nó còn là “bài thuốc” giúp tăng tuổi thọ hiệu quả.

Nhiều người vẫn cho rằng chải đầu là việc của phụ nữ, là một trong những “nghi thức” sau khi ngủ dậy…Tuy nhiên các bác sĩ mới chỉ ra rằng bất kể là nam grain nữ thì việc chải đầu vào buổi sáng sẽ có tác dụng rất tốt tới các dây thần kinh, góp phần kích thích quá trình lưu thông máu lên não và giúp tăng cường tuổi thọ.

Trong cuốn “thuyết sức khỏe” có nói “xuân tháng ba, mỗi ngày chải đầu một hai lần, tuổi thọ tự khắc tăng”. Có thể mọi người sẽ cho rằng chải đầu và tuổi thọ có quan hệ với nhau là điều hết sức kỳ quặc. Tuy nhiên từ xưa đến negative có rất nhiều nhà dinh dưỡng nổi tiếng đã chứng minh được khả năng chăm sóc sức khỏe hiệu quả mà đơn giản nhờ chải đầu. Đặc biệt với những ai grain mất ngủ thì nên chải đầu sau đó xoa bóp nhẹ nhàng trước khi đi ngủ sẽ giúp bạn dễ dàng “xâm nhập” giấc nồng.

Nếu thường xuyên chải đầu sẽ không chỉ giúp thúc đẩy máu lưu thông, giảm rụng tóc, phòng cao huyết áp mà còn giúp ổn định huyết áp, giảm chóng mặt. Tuy nhiên cũng cần chú ý các bạn là nên chọn loại lược răng thưa, không sắc nhọn để tránh ảnh hưởng đến da đầu. Đồng thời động tác chải tóc cũng rất quan trọng, bạn nên chia tóc thành từng lớp để chải, khi chải nên nhẹ tay để tránh làm tổn thương gây rụng tóc. Trong trường hợp không có lược bạn có thể dung tay luồn vào tóc và vuốt nhẹ cũng đem lại hiệu quả tốt.

Khi tuổi càng cao số lần chải đầu nên tăng dần lên. Bên cạnh đó khoảng thời gian khi mới thức dậy và trước khi đi ngủ mà chải đầu sẽ đem lại hiệu quả tốt nhất, nó giống như một bài thuốc dưỡng sinh hữu hiệu mà nhẹ nhàng giúp bạn kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức khỏe.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Người già dễ biến chứng răng miệng

Bệnh về răng miệng thường rất dễ xẩy ra đối với người cao tuổi. Ngoài những nguyên do suy giảm sức đề kháng, sự lão hoá răng miệng, thì cách thức vệ sinh răng miệng và chế độ ăn uống chưa hợp lý cũng làm cho người cao tuổi dễ mắc bệnh này.

Bệnh về răng miệng nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể gây nên viêm lợi, viêm chân răng dẫn đến mất răng và ảnh hưởng tới sức khoẻ của người cao tuổi.

Bác Nguyễn Thị Huy ở Ngọc Hà, Hà Nội bị biến chứng sâu răng gần chục năm, nhưng vì không mấy quan tâm đến việc điều trị, để bệnh tiến triển lâu ngày nên bác thường xuyên phải chịu những cơn đau nhức răng hành hạ. Chỉ đến khi không thể chịu được nữa, bác mới đến viện. Khi đó, bác chỉ còn một cách duy nhất chữa trị là nhổ răng. 13 lần bác đến viện, mỗi lần bác đều phải nhổ 1 chiếc răng. Các bác sĩ phải chỉ định nhổ răng cho bác vì đã bị biến chứng và gây viêm nhiễm các tổ chức vùng quanh răng, thậm chí còn ảnh hưởng tới cả những chiếc còn lại.

Hàm răng giúp người cao tuổi ăn uống được bình thường nhằm cung cấp, duy trì năng lượng cho cơ thể được khoẻ mạnh. Song, ở người cao tuổi, do thời gian cùng quá trình lão hoá, hàm răng bị hao mòn và suy yếu làm giảm sức ăn nhai, ảnh hưởng tới sức khoẻ. Ngược lại, khi cơ thể thiếu dinh dưỡng thì sẽ tác động trở lại cho sức khoẻ răng miệng.

Hầu hết các bệnh về răng miệng ở giai đoạn đầu thường tiến triển âm thầm và không đau nên rất khó phát hiện. Đến khi sâu, viêm nặng, lỗ sâu sẽ lan đến tuỷ răng, nơi có nhiều dây thần kinh và mạch máu, nó sẽ gây ra những cơn đau nhức. Đến giai đoạn này, các phương án chọn lựa cho điều trị sẽ bị hạn chế và không có khả năng hồi phục như ban đầu.

Để có hàm răng khoẻ mạnh khi về già việc chăm sóc răng miệng cần được chú ý ngay khi còn trẻ. Riêng đối với người cao tuổi, để duy trì sức khoẻ răng miệng, bên cạnh việc tạo thói quen chăm sóc răng miệng đúng cách hàng ngày, theo các bác sỹ việc khám răng định kỳ từ 3 đến 6 tháng một lần tại các cơ sở y tế chuyên khoa cần được thực hiện đều đặn.

Bệnh hô hấp ở người già mùa rét

Người cao tuổi (NCT), mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm trong đó sức đề kháng cũng giảm đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm).

Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của NCT càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa nhất là vào mùa lạnh. Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải trong mùa lạnh thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất.

Một số bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh NCT hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát, dễ gây nên viêm xoang, gây nhức đầu. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. NCT vào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở NCT do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng. Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng.

Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm. Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở NCT như tăng huyết áp, đái tháo đượng, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở NCT.

Phòng bệnh hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi như thế nào?

Cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì NCT nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà lúc sáng sớm khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế). Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, NCT cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

Theo: SK&ĐS