Hiển thị các bài đăng có nhãn huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn huyết áp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi

Do hệ miễn dịch suy yếu nên khả năng gặp tác dụng phụ của người cao tuổi khi dùng thuốc thường cao hơn và mức độ trầm trọng hơn. Những tác dụng không mong muốn đó nhiều khi có biểu hiện lâm sàng dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn do bệnh gây ra.

Có nhiều nguyên nhân làm tăng tỷ lệ tai biến do thuốc ở người cao tuổi. Trước hết, người già hay đau ốm nên thường dùng nhiều thuốc hơn so với người trẻ. Sự lo lắng về sức khỏe khiến họ dễ tự ý dùng thêm thuốc, ngay cả khi chưa có bệnh với mục đích “dự phòng”. Người cao tuổi cũng hay nhầm lẫn trong sử dụng thuốc, đặc biệt về liều lượng và số lần.

Các bệnh mạn tính ở họ đòi hỏi sử dụng thuốc có tác dụng mạnh, khoảng cách an toàn hẹp. Mặt khác, ở tuổi già, quá trình dược động học của thuốc cũng thay đổi (tức ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, bài tiết để tạo nên tác dụng). Vì thế, họ dễ gặp những phản ứng bất ngờ và không có lợi của thuốc.

Khi có tác dụng phụ của thuốc, người cao tuổi thường gặp các biểu hiện như:

Buồn ngủ: Nói chung, các thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương đều gây ngủ gà ngủ gật. Không chỉ thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepin mà cả thuốc chống dị ứng cũng có thể gây buồn ngủ (thuốc trị cảm, sổ mũi thường chứa chất này. Các thuốc chống trầm cảm, trị tăng huyết áp, đái tháo đường dạng uống… cũng vậy.

Rối loạn giấc ngủ: Thuốc giãn phế quản trị hen suyễn gây khó ngủ, thuốc lợi tiểu gây mất ngủ do tiểu tiện đêm, thuốc trị tăng huyết áp gây ác mộng; thuốc corticoid dùng lâu ngày có thể gây chứng ngừng thở khi ngủ. Thậm chí thuốc an thần loại benzodiazepin được dùng để trị khó ngủ cũng có thể gây tác dụng phụ là không ngủ được sâu.

Rối loạn nhận thức: Thuốc hướng thần, chống co giật, co thắt, trị tăng huyết áp, suy tim và một số thuốc kháng sinh gây lú lẫn, mất trí nhớ. Ở người cao tuổi, rối loạn này rất dễ nhầm lẫn với hiện tượng sa sút trí tuệ do lão suy.

Táo bón: Có khá nhiều thuốc gây táo bón ở mọi lứa tuổi như thuốc chống co thắt, an thần, chống trầm cảm…

Rối loạn tiểu tiện: Các thuốc chống trầm cảm, chống co thắt, dị ứng, an thần kinh, thuốc trị bệnh Parkinson… có thể hoặc gây khó tiểu hoặc tiểu tiện không kiểm soát (không nín tiểu theo ý muốn được).

Té ngã: Thuốc trị tăng huyết áp dễ khiến người cao tuổi bị hạ huyết áp tư thế đứng. Thuốc an thần nhóm benzodiazin, thuốc chống trầm cảm làm rối loạn thăng bằng, làm cho người cao tuổi dễ bị ngã. Người cao tuổi thường bị loãng xương (cả nam và nữ) nên sẽ rất nguy hiểm nếu bị ngã.

Rối loạn hoạt động tình dục: Nhiều loại thuốc ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của người cao tuổi. Đó là các thuốc thuốc chống trầm cảm, thuốc trị rối loạn tâm thần, an thần, tăng huyết áp… Chúng có thể làm giảm ham muốn, gây “bất lực” ở nam giới.

Để hạn chế các tác dụng phụ khi dùng thuốc, người cao tuổi cần lưu ý:

- Không tự ý sử dụng thuốc bừa bãi, tốt nhất là dùng thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ và hướng dẫn của dược sĩ.

- Khi đang dùng thuốc, nếu thấy có những rối loạn, những phản ứng bất thường, không nên tự ý bỏ hoặc thay thế thuốc khác mà nên trở lại bác sĩ đã kê đơn kể rõ sự việc để có hướng xử trí.

- Đối với các tác dụng phụ thuộc loại gây khó chịu, có thể áp dụng các biện pháp điều chỉnh sinh hoạt, ăn uống để khắc phục như: không làm việc đòi hỏi sự tỉnh táo nếu dùng thuốc gây buồn ngủ; ăn nhiều rau cải, uống nhiều nước nếu thuốc gây táo bón. Có thể tham khảo ý kiến với bác sĩ, dược sĩ về các biện pháp khắc phục này.

nguồn: SK&ĐS

Tai nạn ở người già

Các yếu tố làm người già dễ bị tai nạn là xương loãng, dễ gãy, chân yếu, mắt kém và các bệnh ly tuổi già.

Nguyên nhân

1. Tai nạn do môi trường: Người già có thể bị té ở ngoài đường hoặc trong nhà do đường sá trơn trợt vì nước đọng, vỉa hè không bằng phẳng. Trong nhà những chỗ có thể bị tai nạn là cầu thang, các bậc tam cấp… ánh sáng thiếu cũng góp phần gây tai nạn, nhất là ở sàn nước, nhà vệ sinh. Té ngã cũng có thể xảy ra trong lúc với tay hoặc trèo lên ghế để lấy đồ đạc trên cao…

2. Tai nạn do bệnh ly : ở người già các bệnh ly sau đây dễ dẫn đến tai nạn:

+ Chóng mặt là chứng thường thấy ở người già. Chóng mặt có thể đơn thuần hoặc do sử dụng thuốc hạ huyết áp quá liều hoặc huyết áp tụt quá nhanh do tác dụng của thuốc điều trị. Khi bị té do chóng mặt hoặc có kèm theo bất tỉnh thoáng qua, hoặc cơn đột quỵ do thiếu máu cơ tim phải đi khám bệnh để tìm nguyên nhân bệnh ly .

+ Tác dụng phụ của thuốc ngủ, các bệnh tim mạch, các bệnh về khớp xương, bệnh Parkinson làm run tay chân là những nguy cơ rình rập người già.

Phòng tránh

+ Tập thể dục để duy trì sức mạnh của hai chân, nhờ đó giữ được thăng bằng và tự tin khi đi lại. Người có cân nặng vừa phải, gọn gàng, ít có nguy cơ té ngã hơn người nặng nề.

+ Trong nhà có thể gắn thêm những vật dụng phù hợp với sinh hoạt của người già: Ðặt các tấm lót bằng nhựa nhám hoặc thảm ở vùng trơn trợt như sàn tắm, nhà vệ sinh. Gắn thêm các tay vịn ở nhà tắm, ở lối đi có độ cao thấp như cầu thang, thềm nhà, bậc tam cấp…

+ Bố trí đủ đèn sáng, các công tắc điện, điện thoại sao cho các cụ dễ với tới khi muốn sử dụng. Ðặc biệt những người thường ở nhà một mình nên gắn thêm điện thoại, chuông báo ở nơi thấp để khi bị té có thể liên lạc với người thân hoặc hàng xóm.

+ Loại bỏ chướng ngại vật nơi thường đi lại. Nếu cảm thấy đôi chân không vững hoặc chóng mặt nên đi tiểu đêm tại chỗ bằng bô và không được leo trèo trên ghế để làm lụng, lấy đồ vật.

+ Lúc chỉ có một mình, khi té phải nằm im khoảng 30 phút để cho hết đau, khỏe lại rồi mới tìm cách ngồi dậy, đứng lên vì các cố gắng của cơ bắp có thể làm gãy xương vốn đã bị xốp.

BS Trần Trinh Thuần

Muối ăn và sức khỏe người cao tuổi

Người cao tuổi (NCT) thận yếu, các cơ quan như: hệ tiêu hóa, thận, tim… mang tính biến hóa suy thoái thấy rõ, sức đề kháng yếu, suy giảm chức năng… nên không thích hợp ăn mặn. Bởi lẽ, trong cơ thể nhiều muối thì cần lượng nước tương ứng để điều tiết, nước bài tiết không thông, tích tụ vào cơ bắp, làm cho cơ thể giữ nước thì hình thành thủy thũng.

NCT ăn muối quá nhiều càng dễ tạo thành cao huyết áp, ảnh hưởng chức năng tim, thận. Bởi vì, muối làm cho động mạch nhỏ co thắt, huyết áp tăng cao, cũng như thúc đẩy tăng nhanh quá trình xơ hóa của các động mạch tại thận, gây ra tăng huyết áp, tổn hại chức năng thận.

Bên cạnh đó, NCT cũng nên ít ăn cà muối, dưa muối, bởi đó là những thức ăn chứa nhiều muối, hơn nữa hàm lượng vitamin cực thấp, vì thế không thích hợp cho NCT ăn thường xuyên. Ăn muối nhiều sẽ gây ra rất nhiều bệnh, chẳng hạn như: bệnh tim, não, cao huyết áp, bệnh thận và xơ gan…

Cũng cần lưu ý, NCT do vị giác “lão hóa”, nhạy cảm với vị mặn kém, phản ứng kém với món ăn mặn, do vậy, cần đặc biệt quan tâm hơn, không nên chỉ khi miệng nếm thấy mặn mới cho là mặn, nhiều khi không cảm thấy mặn,  thì lượng natri đã quá nhiều rồi.

Theo bee.net

Ngừa bệnh động mạch vành ở người cao tuổi

Càng có tuổi thì nguy cơ mắc các bệnh tim mạch và chuyển hóa trong đó có bệnh động mạch vành (ĐMV) ngày càng tăng lên. Có đến 1/3 số bệnh nhân nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp bị tử vong trong vòng 24 giờ kể từ khi bị đau ngực và rất nhiều bệnh nhân còn sống sót có di chứng trầm trọng. Tuy nhiên, có thể phòng ngừa sự phát triển bệnh ĐMV (phòng ngừa tiên phát) hoặc làm giảm nguy cơ bị NMCT cấp ở các bệnh nhân đã mắc bệnh ĐMV (phòng ngừa thứ phát) bằng cách làm thay đổi các yếu tố nguy cơ gây bệnh.

Phòng ngừa tiên phát bệnh ĐMV

Các nguy cơ chính gây bệnh ĐMV là hút thuốc lá, thừa cân, tiền sử gia đình có người mắc bệnh ĐMV sớm (nam giới dưới 55 tuổi, nữ giới dưới 65 tuổi), rối loạn lipid máu, đái tháo đường và tăng huyết áp. Các bác sĩ cần phát hiện và đánh giá tình hình kiểm soát các yếu tố nguy cơ chính của bệnh ĐMV cho tất cả các bệnh nhân theo định kỳ (3-5 năm). Nguy cơ mắc bệnh ĐMV nên được tính toán cho các bệnh nhân có từ 2 yếu tố nguy cơ chính trở lên để đưa ra chiến lược phòng ngừa tiên phát phù hợp. Phòng ngừa bằng aspirin có thể gây ra các biến chứng chảy máu và chỉ nên sử dụng aspirin để phòng ngừa tiên phát ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Phòng ngừa thứ phát

Thay đổi lối sống: Trước khi ra viện, các bệnh nhân NMCT cấp cần được giáo dục về sức khỏe, các hoạt động thể lực, thay đổi lối sống và việc dùng thuốc để phòng ngừa thứ phát các bệnh tim mạch. Bệnh nhân và gia đình cần được hướng dẫn trước khi ra viện về các triệu chứng thiếu máu cơ tim, gọi xe cấp cứu khi các triệu chứng thiếu máu cơ tim tái phát và không giảm đi hay trở nên trầm trọng hơn 5 phút sau khi ngậm 1 viên nitroglycerin dưới lưỡi, để đảm bảo chắc chắn là bệnh nhân sẽ được chẩn đoán và điều trị sớm khi bệnh tái phát. Các bệnh nhân có triệu chứng của NMCT cấp (đau thắt ngực có hoặc không lan ra tay, lưng, cổ, hàm, hay thượng vị; khó thở; mệt; vã mồ hôi; buồn nôn; choáng váng) nên được đưa đến bệnh viện bằng xe cấp cứu hơn là bởi người nhà hay bạn bè, vì các nhân viên y tế có thể can thiệp kịp thời các thủ thuật có thể cứu sống bệnh nhân (hồi sức tim phổi, sốc điện chuyển nhịp) khi cần thiết. Tỷ lệ tử vong của bệnh nhân NMCT cấp có thể giảm đi một cách có ý nghĩa nếu bệnh nhân và người nhà sớm nhận ra triệu chứng và gọi cho trung tâm cấp cứu, nhờ vậy bệnh nhân sẽ nhận được sự giúp đỡ của nhân viên y tế sớm nhất.

Kiểm soát trọng lượng cơ thể: Chỉ số khối lượng cơ thể trung bình là 18,5 – 22,9 kg/m2. Nếu vòng bụng trên 90cm ở nam giới và trên 80cm ở nữ giới có thể dẫn đến hội chứng chuyển hóa và cần phải giảm cân.

Bỏ hút thuốc lá: Ngừng hút thuốc lá là một yếu tố quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể làm giảm nguy cơ bị tái phát NMCT. Hút thuốc lá làm giảm nồng độ ôxy trong máu, làm tổn thương và suy yếu thành động mạch. Lợi ích của việc ngừng hút thuốc lá gần như đạt được tức thì. Ngay khi bệnh nhân ngừng hút thuốc, nguy cơ tái phát bệnh bắt đầu giảm xuống. Sau 5 năm cai thuốc lá, nguy cơ bị NMCT tái phát sẽ giảm đi một nửa so với trường hợp bệnh nhân tiếp tục hút thuốc.

Kiểm soát các bệnh có liên quan

Huyết áp: Cần kiểm soát huyết áp dưới 140/90mmHg (dưới 130/80mmHg ở bệnh nhân tiểu đường hay bệnh thận mạn tính) bằng thuốc và thay đổi lối sống. Thay đổi lối sống (giảm cân, thay đổi chế độ ăn, tăng hoạt động thể lực và ăn nhạt) nên thực hiện cho tất cả các bệnh nhân có huyết áp lớn hơn hoặc bằng 120/80mmHg. Không nên dùng thuốc chẹn kênh canxi nhóm dihydropyridin có tác dụng ngắn để điều trị tăng huyết áp (THA). Các bệnh nhân THA nên có một chế độ ăn ít muối và nhiều rau, hoa quả và các chế phẩm ít chất béo, cũng như có một chương trình tập thể dục đều đặn. Hầu hết các bệnh nhân cần hơn một thuốc để kiểm soát được trị số huyết áp và nên lựa chọn các thuốc đã được chứng minh là có làm cải thiện tiên lượng của bệnh nhân (thuốc lợi tiểu nhóm thiazid được lựa chọn đầu tiên, nên phối hợp với các thuốc chẹn bêta giao cảm, thuốc ức chế men chuyển, thuốc chẹn thụ thể AT1 angiotensin và thuốc chẹn kênh canxi có tác dụng kéo dài).

Đường huyết: Kiểm soát chặt đường huyết bằng insulin hay thuốc hạ đường huyết uống và chế độ ăn để đạt HbA1C < 7%, tốt nhất là HbA1C < 6,5%.

Rối loạn lipid máu: Nên khuyên các bệnh nhân ăn chế độ có chứa ít cholesterol, ít chất béo bão hòa, nhiều chất xơ hòa tan được, nhiều rau và hoa quả. Các thuốc statin đã được chứng minh là biện pháp can thiệp bằng thuốc có hiệu quả nhất. Nồng độ lipid mục tiêu phụ thuộc vào nguy cơ cơ bản của bệnh nhân. Đối với các bệnh nhân có nguy cơ cao nên điều trị rối loạn lipid máu tích cực để đạt nồng độ LDL-C mục tiêu dưới 70mg/dL.

Hormon liệu pháp: Hormon liệu pháp với estrogen phối hợp với progestin không nên sử dụng cho các bệnh nhân mới bị mãn kinh sau NMCT cấp như là một biện pháp phòng ngừa thứ phát các biến cố bệnh ĐMV. Các bệnh nhân mãn kinh đã sử dụng thuốc tại thời điểm bị NMCT cấp không nên tiếp tục dùng thuốc. Tuy nhiên, các bệnh nhân đã sử dụng thuốc 1-2 năm muốn tiếp tục sử dụng thuốc vì các chỉ định khác nên cân nhắc giữa nguy cơ và lợi ích mang lại từ việc sử dụng thuốc. Hormon liệu pháp không nên dùng tiếp tục khi bệnh nhân phải nằm dưỡng bệnh tại giường.

Hoạt động thể lực: Các bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp nên tập thể dục 30 phút mỗi ngày hay ít nhất 5 lần/tuần (đi bộ, đi xe đạp, hay các hoạt động thể lực khác), đồng thời tăng các hoạt động thông thường hằng ngày (làm vườn, làm công việc nội trợ).

Chống ôxy hóa: Các vitamin chống ôxy hóa như vitamin E, C không nên sử dụng cho bệnh nhân hồi phục sau NMCT cấp để phòng ngừa thư phát các bệnh tim mạch.

PGS. TS. Nguyễn Quang Tuấn (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Thể chất, tinh thần của người cao tuổi

Theo báo cáo kết quả tổng điều tra Dân số và nhà ở năm 2009, tỷ lệ người cao tuổi (NCT) ở Việt Nam hiện chiếm tỷ lệ 9% dân số và sẽ tăng nhanh tới khoảng16,8% vào năm 2029. Tuổi thọ khỏe mạnh của người Việt Nam hiện nay là 66 tuổi. Vấn đề già hóa dân số ở Việt Nam, nhiều chứng bệnh không lây như tim mạch, đái tháo đường… đang trở thành thách thức lớn đối với nền kinh tế – xã hội. Làm thế nào để giảm thiểu nguy cơ có hại cho sức khỏe, không ngừng nâng cao chất lượng sống NCT?

Những thách thức về sức khoẻ người cao tuổi

Người cao tuổi và bệnh tật có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Khi tuổi cao, sức chống đỡ và sự chịu đựng của con người trước các yếu tố và tác nhân bên ngoài cũng như bên trong kém đi rất nhiều. Đó chính là điều kiện thuận lợi để bệnh tật phát sinh và phát triển. Ở NCT, bệnh thường phát triển âm thầm khó phát hiện và thường mắc nhiều bệnh cùng một lúc, gây suy sụp sức khỏe rất nhanh chóng. Cùng với sự phát triển về kinh tế và mức sống tăng cao, lối sống hiện đại, ngoài những bệnh thường gặp nhất ở người cao tuổi thì ngày nay những căn bệnh như đái tháo đường, huyết áp, tim mạch… đang có xu hướng phát triển mạnh.

Một chuyên gia Lão khoa người Ba Lan đã nhận định, trong số những người trên 65 tuổi, thì có gần 33% bị suy giảm chức năng, mất khả năng lao động và ở độ tuổi 80 trở lên thì tỷ lệ này là 64%. Ông này cũng kết luận rằng, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên theo tuổi và trong độ tuổi 60 trở lên thì tỷ lệ mắc bệnh cao gấp 1,7 – 2 lần so với độ tuổi dưới 40.

Về sức khoẻ thể chất có nhiều thay đổi ở NCT

- Th eo thời gian, tế bào thần kinh bị hủy diệt dần mà không được thay thế, lượng máu nuôi dưỡng cho não giảm, sự suy nghĩ bắt đầu chậm chạp, rối loạn, nhầm lẫn.
- Th ủy tinh thể của mắt trở nên cứng đục, võng mạc kém nhạy cảm với ánh sáng, thị giác giảm khi nhìn sự vật ở gần hay trong bóng tối.
- Tai nghe nghễnh ngãng, khó bắt được các âm thanh có tần số cao và tiếng nói bình thường.
- Ăn uống mất ngon, thức ăn như đắng chát vì tế bào vị giác trên lưỡi ngày một ít đi, miệng khô vì hiệu năng sản xuất của tuyến nước bọt giảm tới mức đáng ngại.
- Khứu giác kém, mũi không phân biệt và tiếp nhận được mùi của hóa chất, thực phẩm.
- Nhịp tim chậm, lưu lượng máu qua tim giảm, cơ tim xơ cứng, dễ bị suy tim, gây ngất xỉu, khiến ta không cáng đáng được những công việc thường làm khi còn trẻ.
- Hơi thở ngắn, nhanh, lượng dưỡng khí trong máu giảm dẫn đến khó thở, dễ thấm mệt khi làm việc chân tay. – Gan teo, lượng máu lưu thông qua gan giảm, chức năng thanh lọc độc chất kém hữu hiệu.
- Th ận cũng nhỏ lại. Máu đi qua thận giảm, nước tiểu loãng, khả năng bài tiết kém, bàng quang co bóp yếu, gây chứng khó tiểu và tiểu tiện không tự chủ, tuyến tiền liệt xơ hoá, gây bí tiểu, đôi khi phải thông cho dễ chịu. – Lớp mỡ dưới da teo, tuyến mồ hôi và tuyến nhờn kém hoạt động, gây da khô, nhăn nheo, dễ bị tổn thương, ít chịu đựng được nhiệt độ lạnh giá.
- Hệ thống miễn dịch yếu, sự sản xuất kháng thể bị trì trệ, cơ thể dễ bị nhiễm khuẩn, bệnh tật sẽ trầm trọng hơn. – Đời sống tình dục cũng có nhiều thay đổi, suy giảm tuy nhiên khả năng này vẫn có thể tồn tại tới tuổi 80, 90.

Sự sa sút trí tuệ

Khả năng thích nghi với hoàn cảnh mới và giải quyết cấp bách các vấn đề, đều giảm đi với tuổi già. Cũng trong phạm vi tâm thần, nhiều người già có một số phản ứng tâm lý tiêu cực. Họ thường trầm mặc bi quan, hạ giá khả năng bản thân, ngại giao lưu, giảm quan hệ qua lại, hay than thân trách phận hoặc oán trách người khác. Với tuổi này, sức khoẻ con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Có những yếu tố ngoài tầm kiểm soát của mỗi cá nhân như chủng tộc, đặc tính di truyền, giới tính, hoặc nhiều yếu tố chủ quan có khả năng ảnh hưởng tới trí tuệ. Nhận xét chung là ở người cao tuổi, các bệnh mạn tính chiếm tỷ lệ cao, đòi hỏi phải quản lý lâu dài, phối hợp chặt chẽ giữa thầy thuốc-bệnh nhân-gia đình-cộng đồng. Việc phát hiện bệnh tật sớm, kịp thời là có ý nghĩa cho công tác điều trị cũng như thực hiện các biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Th ực tế cũng cho thấy phần lớn NCT chưa có thói quen đi kiểm tra sức khỏe thường kỳ, hệ quả là nhiều người không biết mình có bệnh hoặc nếu biết thì cũng không tuân thủ các biện pháp điều trị và phòng ngừa thích đáng.

Chăm sóc sức khoẻ NCT

Tuổi Vàng là thời gian mà mỗi người đã trải qua sau khi đã đóng góp nhiều công sức, trí tuệ cho xã hội cũng như cho gia đình con cháu. Tại nhiều quốc gia, tuổi đó được coi như từ 65 trở lên. Hiểu biết những thay đổi về thể chất, tâm thần của nhóm người này là rất cần thiết để ứng phó, thích nghi. Khám sức khoẻ tổng quát hàng năm, kiểm soát toàn bộ sức khoẻ của NCT. Đây cũng là dịp để thầy thuốc thực hiện một số xét nghiệm về máu để theo dõi lượng đường, cholesterol, hồng cầu, bạch cầu, thử nghiệm nước tiểu để đánh giá tình trạng chức năng của thận, bàng quang. Sau cùng là tư vấn, hướng dẫn phòng bệnh sử dụng thuốc men đúng lời chỉ dẫn, có chế độ dinh dưỡng hợp lý, luyện tập đều đặn, ngủ nghỉ đầy đủ để gìn giữ tuổi vàng.

Tích cực trong việc phòng chống lão hoá

Đã sống tới tuổi 65, thì sẽ có nhiều triển vọng là tuổi thọ sẽ đạt tới 80- 90. Giai đoạn tuổi già có thể là khoảng thời gian lâu hơn tuổi trung niên hay thiếu niên. Để an hưởng tuổi vàng, ta cần có một thái độ ứng xử tích cực, luôn đảm bảo một cuộc sống vui, khoẻ, sống có ích.

- Hãy trở thành cần thiết cho mọi người. Sằn sàng làm những việc lớn , nhỏ cho thân nhân. Làm cho người khác cảm thấy hạnh phúc là họ được chăm sóc, ưu ái.

- Giữ phần chủ động cuộc đời mình, luôn tỏ ra mình còn hữu dụng, còn khả năng, không cần phụ thuộc vào ai.

- Tiếp tục học hỏi.

- Đừng để mình bị cô đơn, lẻ loi. Trong sinh hoạt hàng ngày, hãy cố gắng gần gũi với mọi người, kiềm chế phẫn nộ, gạt bỏ tâm tư xấu, ngăn ngừa căng thẳng thần kinh, tránh tranh chấp mà nên nhượng bộ, tập luyện thể dục điều độ.

Ăn uống

Chế độ ăn uống với thực phẩm dinh dưỡng là mối quan tâm lớn của con người. Không có một công thức nấu ăn nào hoàn hảo cho tuổi thọ trường sinh. Nhưng những lời khuyên thực tế sẽ là: thực phẩm phải đa dạng, phẩm chất dinh dưỡng cao và cân bằng. Biết lựa thức ăn thích hợp, chia lượng thực phẩm trong ngày thành nhiều bữa nhỏ.

- Tránh thực phẩm có nhiều chất mỡ, nhất là mỡ động vật, mỡ bão hòa làm tăng cholesterol trong máu. Mỡ thực vật, không bão hòa, làm giảm cholesterol. Nên thay thịt bằng cá, rau, trái cây, uống sữa có ít chất béo.

- Ăn thực phẩm có nhiều chất carbohydrates như rau, trái cây, hạt ngũ cốc, vừa rẻ lại tốt lành và cũng có nhiều năng lượng. – Về chất đạm, protein là thành phần chính cấu tạo nên cơ thể. Chất này có nhiều nhất trong thịt động vật nhưng cũng có trong thảo mộc, nhất là các cây thuộc họ đậu (legumes): đậu Hà lan, đậu cô ve, đậu nành. Khoa học đã chứng minh là một khẩu phần có nhiều chất đạm động vật làm tăng hiểm họa gây bệnh tim mạch. Với tuổi cao, chúng ta nên theo một chế độ thực phẩm với thịt nạc, sữa ít chất béo, nhiều rau, trái cây.

- Nước và muối cũng cần được lưu ý. Trong cơ thể, tỷ lệ nước lên đến 60%, mỗi ngày thận lọc gần hai trăm lít máu và thải ra 1/100 dung dịch nước. Như vậy cơ thể đòi hỏi một số lượng nước tối thiểu để hoạt động, trung bình ta cần uống 1 lít rưỡi nước mỗi ngày, và uống thêm khi nào thấy cần.

- Gần đây, chất xơ (fi ber) trong rau và trái cây được nhắc tới nhiều vì nó có công dụng trong việc hạ thấp lượng cholesterol trong máu, tăng tốc độ di chuyển của thức ăn trong ruột, tránh được táo bón và viêm ruột. Chất xơ không có giá trị dinh dưỡng nhưng có tác dụng làm đầy dạ dày, mất cảm giác thèm ăn nên còn có tác dụng giúp ta giảm béo.

- Sinh tố và khoáng chất có tác dụng xúc tác trong việc chuyển hóa thức ăn và có nhiều trong các loại thực phẩm. Tuy nhiên, ở người cao tuổi, khẩu phần nhiều khi không được cân bằng và có thể thiếu một vài loại sinh tố nào đó. Cần bổ xung các chất chống oxy hoá mà 3 chất chính là sinh tố C, sinh tố E và Beta-caroten.

Vận động

Sự tập luyện giúp con người duy trì được một phần lớn sức bền bỉ đã có, dù rằng người ta đã vào tuổi lão suy. Không nên quá nhấn mạnh vào sự phải nghỉ ngơi, dưỡng sức. Tập luyện làm tăng sự nhịp nhàng của toàn thân, tim phổi tăng hiệu năng, giảm tăng huyết áp và cholesterol, khớp xương co duỗi trơn tru, cơ xương cứng cáp, trí óc sáng suốt, nhạy cảm hơn, tâm thần thoải mái, yêu đời và “chuyện ấy” cũng tốt hơn, tuổi thọ sẽ cao hơn. Hãy sắp đặt một chương trình tập luyện thích hợp với tuổi, sức khỏe, hoàn cảnh, điều kiện của mình. Dành cho sự vận động một khoảng thời gian ưu tiên và cố định trong ngày, coi sự vận động như một nhu cầu chứ không phải để giải trí. Hãy làm sao để sự tập luyện trở thành người bạn đồng hành của các cơ năng trong cơ thể. Hãy tự bảo vệ sức khỏe của mình cùng với nỗ lực của chính sách xã hội không ngừng nâng cao chất lượng sống.

BS. Vũ Thành

Chứng sa sút trí tuệ

Trí tuệ của con người là do bộ não quyết định. Bộ não của bạn là cơ quan chỉ nặng 1.5 kg. Nó chứa khoảng 30 tỉ tế bào thần kinh nhưng nó là cơ quan quan trọng nhất của cơ thể…

Não bộ tạo cho bạn trí nhớ ngắn hạn, dài hạn thông qua các giác quan: thị giác, vị giác, thính giác, khứu giác và xúc giác giúp cho bạn nhận biết được mọi hiện tượng, sự vật và môi trường sống xung quanh. Bạn sử dụng bộ não của mình để biểu đạt lời nói và giao tiếp, thực hiện những động tác phức tạp, điều khiển cử động của cơ thể, phân tích, phán đoán tình huống và duy trì các kỹ năng xã hội. Như vậy, não của con người chỉ đạo các hoạt động thần kinh cấp cao và sự thoái hóa của bộ não dẫn đến sự sa sút về trí tuệ là một tình trạng thường gặp ở người già.

Vậy sa sút trí tuệ là gì?

Đó là một hội chứng đặc trưng bởi: sự giảm sút về trí nhớ, sự suy giảm về khả năng tư duy như phán đoán, suy luận, sử dụng ngôn ngữ và những sự suy giảm này gây trở ngại cuộc sống hàng ngày. Tình trạng sa sút trí tuệ bệnh lý, hay gặp là bệnh Alzheimer. Bệnh có nhiều biểu hiện nặng nề khác so với sự suy giảm trí tuệ bình thường do quá trình lão hóa. Đây là một bệnh càng tăng lên khi người ta càng cao tuổi, đặc biệt là từ 70 tuổi trở lên và khoảng 50% những người từ 85 tuổi mắc bệnh này. Những người tăng huyết áp, mỡ máu cao, đái tháo đường, bệnh lý mạch vành nguy cơ bị bệnh cao.

Bệnh Alzheimer là một bệnh lý của não do quá trình chết ngày càng tăng lên của các tế bào thần kinh ở não. Nguyên nhân chết của các tế bào thần kinh là do sự tăng sản xuất hoặc tăng tích lũy trong não loại protein beta – amyloid. Quá trình chết của các tế bào thần kinh có tốc độ khác nhau ở những cá thể khác nhau. Tiến trình này có thể kéo dài từ 8 đến 20 năm, nên có trường hợp bệnh tiến triển nhanh, có trường hợp bệnh tiến triển chậm.

Biểu hiện của bệnh lý Alzheimer

Th ường gặp là: ở giai đoạn đầu thường hay quên những sự việc mới xảy ra, ví dụ quên không tắt đèn, không nhớ mình đã uống thuốc gì vào buổi sáng, thay đổi tính cách: vô cảm, thu rút các mối quan hệ xã hội. Ở giai đoạn tiến triển, người bệnh gặp phải những khó khăn trong giải quyết các vấn đề cần suy nghĩ có tính chất trừu tượng như suy nghĩ, tính toán, lập kế hoạch, tính hóa đơn, hiểu những gì mình đã đọc, tổ chức công việc thường ngày. Người bệnh có thể dễ kích động, tranh cãi vô cớ, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh. Ở giai đoạn nặng, người bệnh có thể mất định hướng, lẫn lộn, không nhớ ngày tháng, không nhớ nơi mình ở, không nhớ những nơi mình đã đi qua, không thể kiểm soát được việc vệ sinh cá nhân, không tự chăm sóc được bản thân.

Khi bạn thấy người thân của mình có 10 dấu hiệu sau thì cần phải cảnh giác với căn bệnh này: Hay quên; Khó khăn trong làm việc gia đình hàng ngày; Có vấn đề về diễn đạt ngôn ngữ; Mất định hướng không gian, thời gian; Giảm khả năng phán đoán; Khó khăn trong những suy nghĩ trừu tượng; Đặt những đồ vật trong nhà sai vị trí; Th ay đổi cảm xúc hoặc hành vi; Th ay đổi tính cách; Mất khả năng đưa ra giải pháp để giải quyết một vấn đề. Khi bệnh nặng thì người bệnh có thể có hoang tưởng, ảo giác, kích động do sự ảnh hưởng của các cơ quan thị giác, thính giác, khứu giác và vị giác.

Và điều trị

Việc điều trị bệnh Alzheimer đến nay kết quả còn chưa cao và cần được sự khám xét của bác sỹ chuyên khoa tâm thần người già. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể ngăn ngừa tiến triển của bệnh bằng các liệu pháp giáo dục, tập luyện cho người mắc bệnh ở giai đoạn sớm nhưng để đạt được hiệu quả tốt cần phải có sự hướng dẫn của các nhà chuyên khoa.

BS. Trịnh Thị Bích Huyền

Bất thường đường huyết ở người cao tuổi

Đối với người cao tuổi (NCT), những bất thường xảy ra ở bất kỳ một cơ quan nào cũng là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Tăng hay giảm đường huyết (ĐH) là một trong những bệnh lý cần đặc biệt chú ý. Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả, nhất là NCT có những hướng xử trí cần thiết nếu rơi vào tình trạng này.

Đường huyết bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4-6,6 mmol/l. Khi ĐH nằm ngoài ngưỡng bình thường này được xem là tăng hay hạ. Về già, hệ thống điều hòa ĐH kém nhạy bén, do vậy dễ dẫn đến triệu chứng tăng hoặc hạ ĐH. Những biểu hiện bất thường này có thể gây ra những hậu quả xấu cho NCT.

Tăng Đường Huyết xảy ra khi nào?
Tình trạng tăng ĐH ở NCT (ngoại trừ người có bệnh đái tháo đường) trong hầu hết trường hợp là tạm thời (khi vận động, khi ở trạng thái tâm lý quá phấn khích: cáu giận, hoảng sợ, bực tức, lo phiền…). Với NCT, chỉ cần nhớ rằng nếu tình trạng trên kéo dài và xảy ra thường xuyên, có thể làm tiết nhiều adrenalin, gan cạn kiệt glucid – đe dọa chuyển sang hạ ĐH. Thêm nữa, những trạng thái tâm lý trên còn ảnh hưởng xấu tới tim mạch, huyết áp. Hình thức tập luyện khí công và thiền tỏ ra có tác dụng tốt.
Trường hợp tăng ĐH kéo dài gặp trong bệnh đái tháo đường. Ở NCT, bệnh này không do thiếu insulin mà do các tế bào sử dụng kém hiệu quả chất này, do vậy nói chung những năm đầu tiên chưa cần chữa bằng insulin (như với người trẻ). Hiện đã có rất nhiều loại thuốc chữa, dùng lâu dài, nhưng chọn loại nào thích hợp thì cần được thầy thuốc hướng dẫn và bệnh nhân tự theo dõi. Phát hiện sớm bệnh đái tháo đường ở NCT không dễ, vì ĐH tăng thường không gây ra triệu chứng mà bệnh được phát hiện do tình cờ.
Do vậy, ở tuổi trên 60 rất nên đo ĐH định kỳ. Không nên đo trong nước tiểu (vì có đường trong nước tiểu là bệnh đã tiến triển một thời gian dài). Đái tháo đường ở NCT thường đi liền với các bệnh khác như: xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, do vậy những yếu tố này cần được kiểm soát chặt chẽ, NCT cần có một chế độ ăn uống và tập luyện sau khi đã đi thăm khám và có ý kiến của bác sĩ.

Xử trí đúng khi bị hạ Đường huyết
Hạ ĐH do đột ngột tăng lượng sử dụng, trong khi kho dự trữ đường ở gan không còn dồi dào, hoặc không huy động kịp. Nói chung, gan NCT giảm khả năng dự trữ glucid, nhất là khi xa bữa ăn (một số cụ già cần ăn nhiều bữa).
Khi tiếp cận môi trường lạnh (do đột ngột ra lạnh mà không mặc đủ ấm, hoặc do ở lâu ngoài trời lạnh), người trẻ dễ thích nghi, còn NCT rất dễ hạ ĐH. Nếu NCT dùng sức đột ngột mà thiếu sự khởi động cho cơ thể kịp thích nghi, cũng dẫn đến hạ ĐH. Ví dụ, đột ngột thực hiện một loạt động tác thể dục tương đối mạnh, hoặc tập khi bụng đói…

Khi có cơn nóng giận kéo dài, không tự kiềm chế được…
Hạ ĐH do gan giảm dự trữ. Ở NCT, ngay sau khi ăn, tổng lượng đường ở gan vẫn thấp. Tình trạng này càng rõ nếu mắc các bệnh gan mạn tính (xơ gan, suy gan), đáng chú ý là gan của người nghiện rượu… Nhiều người nghiện từ thời trẻ, dần dần có thói quen uống mà quên ăn. Một dấu hiệu nói lên tình trạng hạ ĐH ban đêm là ngủ mê mệt, trong giấc mơ thấy mình ăn rất nhiều và ngon lành. Một nguy cơ là dự trữ protein của cơ thể có thể cạn kiệt dần, do biến thành glucose để chống hạ ĐH. Hậu quả là suy dinh dưỡng (khó phục hồi).

Hạ ĐH do sử dụng quá mức các biện pháp chữa bệnh đái tháo đường.
Có thể do người bệnh sử dụng một chế độ ăn quá nghèo glucid với mục đích tích cực chữa bệnh, phòng biến chứng. Nên nhớ rằng, dù mắc bệnh đái tháo đường, bệnh nhân vẫn cần một khẩu phần glucid đủ mức cần thiết, chủ yếu là loại glucid nguyên hạt. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường bị hạ ĐH thường do sử dụng quá mức các thuốc hạ ĐH (hy vọng kiềm chế bệnh tốt hơn), mà không theo chỉ dẫn của thấy thuốc và không tự theo dõi định kỳ mức ĐH.
Tế bào não duy nhất chỉ sử dụng glucose làm thức ăn, mà không sử dụng mỡ, protein như mọi tế bào khác. Do vậy, nếu ĐH hạ đột ngột xuống dưới 4mmol/l sẽ có ngay các triệu chứng thần kinh: run rẩy, mắt hoa, xây xẩm; nếu giảm tới 3mmol/l sẽ có bủn rủn, choáng váng, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, mạch yếu… Nếu còn hạ tiếp sẽ co cứng hàm, lú lẫn, mất hẳn trương lực các cơ (ngã vật), hôn mê. Cùng một mức độ giảm ĐH, NCT thường có bệnh cảnh nặng hơn, khó cứu chữa hơn (so với người trẻ). Nếu hạ ĐH từ từ, thoạt tiên thấy đói cồn cào, bộ máy tiêu hóa co bóp mạnh. Sau đó cũng là run rẩy, mắt hoa, vã mồ hôi lạnh, tứ chi bủn rủn; do diễn biến kéo dài nên cơ thể trẻ đủ thời gian để kịp điều chỉnh (huy động protein); trái lại, NCT sự huy động này tỏ ra chậm chạp và kém hiệu lực, do vậy hậu quả thường nặng nề: có thể hôn mê, có thể thiểu lực kéo dài, có thể suy cạn kho protein khó hồi phục.
Trong tình trạng này, NCT cần ăn ngay các loại glucid dễ hấp thu: kẹo, bánh ngọt, khẩn cấp hơn có thể dùng nước đường (không dùng đường hóa học), nước quả cây, sữa… Trường hợp khẩn cấp phải truyền glucose vào máu.

GS. Nguyễn Ngọc Lanh (SKNCT/8-2011)

Sữa nào tốt nhất cho người già?

Khi nói đến sữa, đa phần mọi người chỉ quan tâm đến chọn sữa cho trẻ em. Những thắc mắc liên quan đến uống sữa làm sao cho khoẻ cũng chỉ nhằm đến trẻ sơ sinh hay đang tuổi ăn, tuổi lớn mà ít khi lưu tâm đến người già. Với những ảnh hưởng bệnh tật ở tuổi cao, người già cũng rất cần uống sữa để bồi bổ và nếu sử dụng không hợp lý sẽ gặp những hậu quả nguy hiểm cho sức khoẻ.

Sữa là sản phẩm rất giàu canxi, giàu đạm quý (đầy đủ các axit amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối) và chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B… nên đây là thực phẩm bổ dưỡng cần thiết cho tất cả mọi người, kể cả người cao tuổi.

Không uống sữa thay bữa ăn chính

Người cao tuổi cần nhận đủ canxi hàng ngày để phòng tránh loãng xương. Mặc dù canxi có trong nhiều thực phẩm khác nhau (cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ, rau xanh, đậu hủ…), nhưng người cao tuổi thường ăn ít hơn lúc trẻ nên lượng canxi đưa vào cơ thể từ chế độ ăn hàng ngày sẽ không đủ, trong khi đó nguy cơ loãng xương của họ lại cao. Canxi từ sữa rất dễ hấp thu nên người cao tuổi cần uống sữa thường xuyên mỗi ngày (khoảng 1 – 2 ly) để bổ sung canxi cho cơ thể, giúp phòng tránh loãng xương.

Tuy sữa là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ có thể bổ sung như là bữa phụ chứ không thể thay thế cho bữa chính hàng ngày được vì sẽ mất cân đối do sữa không có đủ những dưỡng chất khác mà cơ thể cần như chất sắt, kẽm, chất xơ, một số vitamin… Nếu chỉ uống sữa mà không ăn bữa chính sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể. Trong trường hợp ăn kém hoặc đau ốm, cần chia nhỏ bữa ăn (ăn ít và nhiều lần), sử dụng thêm các loại thực phẩm cao năng lượng, kết hợp tăng số bữa phụ (uống sữa hoặc các thức ăn phụ bổ dưỡng và dễ tiêu hoá khác).

Tuỳ tuổi, tuỳ bệnh mà chọn sữa

Thông thường sữa cho trẻ em và người bình thường là dạng sữa nguyên kem, chất béo của sữa là chất béo no nguồn gốc động vật nên sẽ chứa nhiều cholesterol không thích hợp đối với người già nếu uống thường xuyên mỗi ngày. Tuy nhiên đối với người gầy, không có bệnh mãn tính không lây như rối loạn lipid máu, cao huyết áp, đái tháo đường… và chế độ ăn rất ít thực phẩm nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol (thịt heo, thịt bò, mỡ…) thì uống loại sữa này vẫn được.

Việc chọn loại sữa nào còn phải tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng người. Đối với những người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường thì nên chọn loại sữa không béo, không đường. Lượng sữa uống mỗi ngày sẽ phải cân đối với các thực phẩm khác để bảo đảm đường huyết ổn định. Người chỉ bị viêm khớp thì có thể vẫn uống được sữa hơi béo, hơi ngọt nếu thích. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với người thừa cân, béo phì nếu dùng sữa béo, ngọt sẽ làm tăng cân nhanh chóng và sẽ tăng sức chịu đựng đối với các khớp chịu sức nặng cơ thể như khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân nên sẽ khó điều trị khỏi tình trạng viêm và đau khớp.

Uống sữa đúng cách để tránh tai hoạ

Sữa là thực phẩm giàu canxi ở dạng dễ hấp thu. Chỉ khi nào lượng canxi đưa vào cơ thể quá dư thừa thì mới bị đào thải qua đường thận gây sạn thận. Trường hợp này ít gặp trong chế độ ăn thông thường mà do dùng thuốc canxi liều cao, kéo dài. Do vậy, khi sử dụng nhiều thực phẩm giàu canxi hoặc uống thuốc canxi phòng loãng xương thì cần chú ý uống nhiều nước để phòng sạn thận.

Một số người khi uống sữa hay bị đau bụng, tiêu chảy… thường là do cơ thể thiếu men lactase để hấp thu loại đường lactose có trong sữa. Trong trường hợp đó, nên giảm lượng sữa trong mỗi lần uống (có thể dưới 100ml/lần) và tăng dần lên khi thích ứng. Nếu vẫn không tiêu hoá được thì có thể chuyển sang dùng sản phẩm khác của sữa như yaourt, sữa chua, phô mai… hoặc có thể dùng sữa đậu nành.

TS.BS Trần Thị Minh Hạnh
Trưởng phòng dinh dưỡng cộng đồng,
trung tâm dinh dưỡng TP.HCM

Nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Bài thuốc bổ cho người già


[123Suckhoe] – Người già yếu thuộc phạm trù chứng “hư lao” của y học cổ truyền. Chứng “hư lao” thì lấy nguyên khí hao tổn làm đặc trưng và có liên quan chặt chẽ đến “tiên thiên”[1]mạnh grain yếu và nhất là “hậu thiên”[2] có được đầy đủ grain không. Để chữa chứng hư lao thì phải dùng phép bổ.

Người bị hư hao hầu như bao gồm lục phủ, ngũ tạng cùng toàn thân suy nhược và được quy nạp thành 4 loại là: Khí hư, huyết hư, dưỡng hư, âm hư với các triệu chứng cụ thể của từng loại.

Khí hư:

Sắc mặt vàng úa, người mệt mỏi lúc rét, lúc nóng, tự ra mồ hôi, đoản hơi, suyễn thở, mạch nhuyễn nhược, nếu khí hư đến cực độ (tức là dương hư) thì mạch thường chuyển sang trầm tế. Nếu khí hư dùng bài thuốc “Bổ trung ích khí” gồm có các vị thuốc: Hoàng kỳ 20g, chích thảo 4g, thăng matriarch 6g, đảng sâm 16g, đương quy 12g, sài hồ 10g, bạch truật 12g, trần bì 6g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài thuốc này có tác dụng thăng dương ích khí, điều bổ tỳ vị. Tốt với người khí hư, cơ thể suy nhược, đặc biệt những người mắc bệnh về đường tiêu hoá như viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính.

Huyết hư:

Sắc mặt trắng nhợt không sáng, mắt hoa, đầu choáng, kinh hãi, hồi hộp, da thịt khô ráp. Nếu là phụ nữ có chứng kinh nguyệt khô sáp mà ít. Nếu bị huyết hư thì phải bổ huyết, thường phối hợp với bổ khí để tăng cường tác dụng và dùng bài thuốc “Quy tỳ thang” với các vị thuốc: Nhân sâm 12g, phục thần 12g, táo nhân 16g, viễn chí 6g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, mộc hương 4g, sinh khương 3 lát, bạch truật 12g, prolonged nhãn 12g, đương quy 12g, chích thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí bổ huyết, chữa chứng khí hư sinh huyết hư, trị các bệnh suy nhược có hội chứng bệnh lý tâm tỳ lượng hư, khí huyết bất túc sinh ra các triệu chứng mất ngủ, chán ăn, grain quên, tim hồi hộp, cơ thể mệt mỏi, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.

Khí huyết lưỡng hư:

Người mệt mỏi, gầy yếu, chán ăn, ăn không tiêu, mất ngủ, da mặt nhợt nhạt, thở đoản hơi, chân tay bủn rủn sức yếu… trong trường hợp này dùng bài “Thập toàn đại bổ” với các vị thuốc: Đương quy 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, xuyên khung 8g, táo 3 quả, đảng sâm 12g, bạch truật 12g, thục địa 12g, hoàng kỳ 16g, nhục quế 6g. Cho vào 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài thuốc có tác dụng bổ khí, bổ huyết chữa khí huyết lưỡng hư sau khi mắc bệnh lâu ngày, cơ thể yếu mệt, kém ăn, mất ngủ, nam giới tay chây tê mỏi, phụ nữ kinh nguyệt rối loạn.

Âm hư:

Có khi gò má đỏ, nóng nảy, grain giận dữ, mất ngủ, kém ăn, ho mất tiếng, nóng có cơ mồ hôi trộm, lưỡi ráo hang khô, đại tiện táo kết, miệng lở, nam thì di tinh, nữ thì bế kinh. Dùng bài thuốc “Lục vị địa hoàng hoàn” với các vị thuốc: Thục địa 20g, sơn thù 16g, trạch tả 12g, hoài sơn 16g, phục linh 12g, đan bì 12g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng tư bổ can thận dùng điều trị các bệnh mãn tính như suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, lao phổi, lao then, tiểu đường, viêm thận, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đề phòng tai biến mạch máu não.

Dương hư:

Sắc mặt xanh bột, đầu choáng, mắt hoa, mỏi mệt, ít hơi, ngại nói, ăn ít, đại tiện sền sệt, sợ lạnh, tay chân thường không ấm, dương suy, đoản khí, lưng gối mỏi, tiểu tiện nhiều đêm. Dùng bài thuốc “Thận khí hoàn” với các vị thuốc: Địa hoàng 24g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, quế chi 4g, sơn dược 16g, trạch tả 12g, đan bì 12g, phụ tử chế 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, chữa các bệnh mãn tính, như viêm thận mạn, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, bệnh béo phì, liệt dương, tiêu đờm, người già suy nhược có hội chứng thận dương hư.

Thuốc bổ dưỡng:

Theo y học cổ truyền, thuốc bổ dưỡng là những loại thuốc dùng chữa chứng dương hư. Chứng dương hư thường gặp trên lâm sàng là thận dương hư, tỳ dương hư và tâm dương hư. Nhưng do thận vừa là gốc của Tiên thiên (tiên thiên chi bản) vừa là căn bản của sự sống (sinh mệnh chi căn bản) toàn bộ dương khí trong ngoài (có thể nói dương khí là năng lượng hoạt động của sinh mệnh) là do thận cung cấp và duy trì (thận chủ mệnh môn hoả), cho nên thuốc bổ dưỡng chủ yếu là bổ thận dương. Thuốc bổ dưỡng có những tác dụng:

- Điều chỉnh chức năng tuyến vỏ thượng thận

- Điều chỉnh chuyển hoá năng lượng, tăng cường sản nhiệt.

- Làm khoẻ cơ thể, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển.

- Tăng cường chức năng sinh dục.

- Nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Xin giới thiệu bài thuốc “Đại bổ thận tráng dương” dùng cho người cao tuổi (nam) dương hư, thận suy, yếu mệt, liệt dương, di tinh kém ăn, mất ngủ gồm các vị: Nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, đỗ trọng 16g, nhục thung dung 8g, thỏ ty tử 12g, xa sàng tử 12g, phúc bồn tử 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, toả dương 10g, dâm dương hoắc 12g, lộc nhung 12g, kỷ tử 12g, đại táo 5 quả, prolonged nhãn 10g, cam thảo 6g, xuyên khung 8g, hà thủ ô đỏ 12g. Tất cả cho vào 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 thang liền thì cơ thể sẽ khoẻ, ăn ngon, ngủ yên, dai sức hết mệt mỏi di tinh, liệt dương.

Cùng bài thuốc trên với số lượng gấp 5 lần mỗi vị cho vào 5 lít rượu, ngâm trong 3 tuần lễ, chắt ra, cho thêm 500ml mật ong loại tốt, mỗi ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 – 30ml.

Tăng cường sức khỏe cho người già

Các thực phẩm dinh dưỡng cho người cao tuổi

[123Suckhoe] – Tuổi già đoạn cuối của cuộc đời, người già grain có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật. Làm thế nào để người già sống vui, sống khỏe mỗi ngày?

Khi về già, chức năng hoạt động của hệ tiêu hóa kém hiệu quả, cường độ trao đổi chất trong cơ thể người cao tuổi cũng diễn ra chậm. Tuổi già grain thường xuyên mắc các bệnh như cao huyết áp, loãng xương, tai biến mạch máu não.

Vì thế, việc bổ sung một chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nếu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hợp lý cũng là bí quyết sống vui – sống khỏe cho người cao tuổi.

Với những thay đổi của cơ thể trước thời gian người già cần có những điều chỉnh về chế độ ăn uống để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng. Theo các chuyên gia bác sĩ khuyên rằng điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đầy đủ lượng vitamin và khoáng chất cần thiết. Người cao tuổi, nhất là những người bị bệnh tim mạch không nên ăn quá nhiều chất béo như thịt, trứng, bơ…mà cần ăn nhiều các loại củ quả và đặc biệt là rau xanh để đảm bảo sức khỏe và tránh béo phì và nguy cơ đột qụy.

Cùng với đó, sữa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng không những giúp cung cấp lượng canxi cần thiết, giàu đạm quý để nuôi hệ xương chắc khỏe mà còn bổ sung các vi dưỡng chất bị thiếu hụt một cách an toàn. Đây là một thức uống không thể thiếu cho người cao tuổi.

Bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý. Người già không nên ngồi nhiều một chỗ như thế không tốt cho sức khỏe. Mà thay vào đó là nên thường xuyên vận động nhẹ, hoặc tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh dành cho người cao tuổi giúp thư giãn gân cốt, cho xương chắc khỏe, và giúp cho máu lưu thông tuần hoàn.

Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh hơn

Ông Phạm Việt 73 tuổi (G3- Thành Công- Ba Đình- Hà Nội) chia sẻ, ông bị mắc căn biến mạch máu não cách đây gần 2 năm đi lại rất khó khăn nhưng nhờ thói quen đi bộ nên bây giờ đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn hơn. ông cũng cho biết mỗi một ngày bỏ ra một tiếng cho việc đi bộ vào cả buổi sáng và buổi chiều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn và đặc biệt là tư tưởng thoải mái hơn rất nhiều.

Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải kết hợp đúng cách và bản thân mỗi người già phải tự biết tạo lập cho mình một thói quen tốt, lành mạnh và tích cực để mỗi ngày khi về với tuổi già là một ngày sống vui, sống khỏe và sống có ích.

Uống sữa thế nào tốt nhất cho người già?

Với những ảnh hưởng bệnh tật ở tuổi cao, người già cũng rất cần uống sữa để bồi bổ và nếu sử dụng không hợp lý sẽ gặp những hậu quả nguy hiểm cho sức khoẻ.

Sữa là sản phẩm rất giàu canxi, giàu đạm quý (đầy đủ các axit amin thiết yếu với tỷ lệ cân đối) và chứa nhiều vitamin cần thiết cho cơ thể như vitamin A, vitamin D, vitamin nhóm B… nên đây là thực phẩm bổ dưỡng cần thiết cho tất cả mọi người, kể cả người cao tuổi.

Không uống sữa thay bữa ăn chính

Người cao tuổi cần nhận đủ canxi hàng ngày để phòng tránh loãng xương. Mặc dù canxi có trong nhiều thực phẩm khác nhau (cá nhỏ ăn luôn xương, tôm tép ăn cả vỏ, rau xanh, đậu hủ…), nhưng người cao tuổi thường ăn ít hơn lúc trẻ nên lượng canxi đưa vào cơ thể từ chế độ ăn hàng ngày sẽ không đủ, trong khi đó nguy cơ loãng xương của họ lại cao. Canxi từ sữa rất dễ hấp thu nên người cao tuổi cần uống sữa thường xuyên mỗi ngày (khoảng 1 – 2 ly) để bổ sung canxi cho cơ thể, giúp phòng tránh loãng xương.

Tuy sữa là thực phẩm giàu dinh dưỡng, nhưng chỉ có thể bổ sung như là bữa phụ chứ không thể thay thế cho bữa chính hàng ngày được vì sẽ mất cân đối do sữa không có đủ những dưỡng chất khác mà cơ thể cần như chất sắt, kẽm, chất xơ, một số vitamin… Nếu chỉ uống sữa mà không ăn bữa chính sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho cơ thể. Trong trường hợp ăn kém hoặc đau ốm, cần chia nhỏ bữa ăn (ăn ít và nhiều lần), sử dụng thêm các loại thực phẩm cao năng lượng, kết hợp tăng số bữa phụ (uống sữa hoặc các thức ăn phụ bổ dưỡng và dễ tiêu hoá khác).

Tuỳ tuổi, tuỳ bệnh mà chọn sữa

Thông thường sữa cho trẻ em và người bình thường là dạng sữa nguyên kem, chất béo của sữa là chất béo no nguồn gốc động vật nên sẽ chứa nhiều cholesterol không thích hợp đối với người già nếu uống thường xuyên mỗi ngày. Tuy nhiên đối với người gầy, không có bệnh mãn tính không lây như rối loạn lipid máu, cao huyết áp, đái tháo đường… và chế độ ăn rất ít thực phẩm nguồn gốc động vật chứa nhiều cholesterol (thịt heo, thịt bò, mỡ…) thì uống loại sữa này vẫn được.

Việc chọn loại sữa nào còn phải tuỳ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của từng người. Đối với những người mắc bệnh mạn tính như tim mạch, tiểu đường thì nên chọn loại sữa không béo, không đường. Lượng sữa uống mỗi ngày sẽ phải cân đối với các thực phẩm khác để bảo đảm đường huyết ổn định. Người chỉ bị viêm khớp thì có thể vẫn uống được sữa hơi béo, hơi ngọt nếu thích. Tuy nhiên, cần lưu ý đối với người thừa cân, béo phì nếu dùng sữa béo, ngọt sẽ làm tăng cân nhanh chóng và sẽ tăng sức chịu đựng đối với các khớp chịu sức nặng cơ thể như khớp háng, khớp gối, khớp cổ chân nên sẽ khó điều trị khỏi tình trạng viêm và đau khớp.

Uống sữa đúng cách để tránh tai hoạ

Sữa là thực phẩm giàu canxi ở dạng dễ hấp thu. Chỉ khi nào lượng canxi đưa vào cơ thể quá dư thừa thì mới bị đào thải qua đường thận gây sạn thận. Trường hợp này ít gặp trong chế độ ăn thông thường mà do dùng thuốc canxi liều cao, kéo dài. Do vậy, khi sử dụng nhiều thực phẩm giàu canxi hoặc uống thuốc canxi phòng loãng xương thì cần chú ý uống nhiều nước để phòng sạn thận.

Một số người khi uống sữa grain bị đau bụng, tiêu chảy… thường là do cơ thể thiếu group lactase để hấp thu loại đường lactose có trong sữa. Trong trường hợp đó, nên giảm lượng sữa trong mỗi lần uống (có thể dưới 100ml/lần) và tăng dần lên khi thích ứng. Nếu vẫn không tiêu hoá được thì có thể chuyển sang dùng sản phẩm khác của sữa như yaourt, sữa chua, phô mai… hoặc có thể dùng sữa đậu nành.

TS.BS Trần Thị Minh Hạnh

Người cao tuổi nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.


Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết poison dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ poison đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều poison dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Theo SKDS

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Tăng tuổi thọ nhờ chải đầu

Chải đầu không chỉ là việc làm đẹp thường ngày dành riêng cho phụ nữ mà nó còn là “bài thuốc” giúp tăng tuổi thọ hiệu quả.

Nhiều người vẫn cho rằng chải đầu là việc của phụ nữ, là một trong những “nghi thức” sau khi ngủ dậy…Tuy nhiên các bác sĩ mới chỉ ra rằng bất kể là nam grain nữ thì việc chải đầu vào buổi sáng sẽ có tác dụng rất tốt tới các dây thần kinh, góp phần kích thích quá trình lưu thông máu lên não và giúp tăng cường tuổi thọ.

Trong cuốn “thuyết sức khỏe” có nói “xuân tháng ba, mỗi ngày chải đầu một hai lần, tuổi thọ tự khắc tăng”. Có thể mọi người sẽ cho rằng chải đầu và tuổi thọ có quan hệ với nhau là điều hết sức kỳ quặc. Tuy nhiên từ xưa đến negative có rất nhiều nhà dinh dưỡng nổi tiếng đã chứng minh được khả năng chăm sóc sức khỏe hiệu quả mà đơn giản nhờ chải đầu. Đặc biệt với những ai grain mất ngủ thì nên chải đầu sau đó xoa bóp nhẹ nhàng trước khi đi ngủ sẽ giúp bạn dễ dàng “xâm nhập” giấc nồng.

Nếu thường xuyên chải đầu sẽ không chỉ giúp thúc đẩy máu lưu thông, giảm rụng tóc, phòng cao huyết áp mà còn giúp ổn định huyết áp, giảm chóng mặt. Tuy nhiên cũng cần chú ý các bạn là nên chọn loại lược răng thưa, không sắc nhọn để tránh ảnh hưởng đến da đầu. Đồng thời động tác chải tóc cũng rất quan trọng, bạn nên chia tóc thành từng lớp để chải, khi chải nên nhẹ tay để tránh làm tổn thương gây rụng tóc. Trong trường hợp không có lược bạn có thể dung tay luồn vào tóc và vuốt nhẹ cũng đem lại hiệu quả tốt.

Khi tuổi càng cao số lần chải đầu nên tăng dần lên. Bên cạnh đó khoảng thời gian khi mới thức dậy và trước khi đi ngủ mà chải đầu sẽ đem lại hiệu quả tốt nhất, nó giống như một bài thuốc dưỡng sinh hữu hiệu mà nhẹ nhàng giúp bạn kéo dài tuổi thọ, tăng cường sức khỏe.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Phòng ngủ cho người cao tuổi: lưu ý nhỏ

Sự khác biệt về tuổi tác và dấu hiệu lão hóa của người già là những điều căn bản cần chú ý khi thiết kế một căn phòng phù hợp với lứa tuổi.

Những người bước vào giai đoạn tuổi già, sức khỏe suy giảm, khả năng thích ứng với môi trường kém, thị giác kém… Vì thế, việc bố trí, sắp xếp phòng ngủ cho người già cũng có nhiều điểm khác biệt so với người trẻ.

1. Chú ý đến ánh sáng

Phòng dành cho người già cần có đủ ánh sáng tự nhiên cần thiết để có thể giảm bớt sự phát sinh bệnh tật như thoái hóa, vôi hóa xương… Nếu sống trong phòng không đủ ánh sáng, người già dễ bị trầm cảm, cô đơn, điều đó cũng là nguyên nhân gây bất lợi cho sức khỏe. Bên cạnh yếu tố ánh sáng thì một căn phòng thông gió tốt cũng giúp cho người già có tinh thần sảng khoái, tăng cường sức đề kháng và gần gũi hơn với tự nhiên.

Ngoài việc đảm bảo ánh sáng tự nhiên, phòng của người già cần có hệ thống chiếu sáng hợp lý. Ánh sáng không đủ hoặc mức chiếu sáng quá thấp dễ làm cho người già đi lại không thuận tiện, dễ ngã, suy giảm thị giác. Tường phòng không nên lắp kính, vì phản xạ ánh sáng mạnh, gây chói mắt, mỏi mắt. Nguồn sáng cũng không nên quá phức tạp vì màu sắc ánh đèn rực rỡ khiến cho người già bị hoa mắt, dẫn đến các bệnh về huyết áp.

2. Thiết kế tiện lợi

Với sức khỏe “thất thường” của người già, tốt nhất là bạn nên thiết kế hệ thống chiếu sáng tiện lợi, hệ thống báo động và thông tin liên lạc tốt để đề phòng những chuyện không grain xảy ra. Bên cạnh đó, để đảm bảo sự yên tĩnh cho giấc ngủ và giảm tiếng ồn trong phòng, bạn hãy thiết kế cửa sổ kính hai lớp hoặc xử lý đa tầng.

3. Chú ý sàn nhà

Mặt khác, sàn nhà cũng nên thiết kế bằng phẳng, không nên thiết kế chỗ cao chỗ thấp. Nếu là nhà nhiều tầng thì nên bố trí phòng của người già ở tầng 1 để tránh đi lại ở cầu thang, dễ gây nguy hiểm đến xương. Bạn có thể chọn vật liệu lát sàn bằng gỗ mềm có độ dẻo cao, khi đi lại có cảm giác nhẹ nhàng, ít tạo matriarch sát giữa chân và sàn nhà. Hoặc cũng có thể trải thảm để tăng thêm sự thoải mái và an toàn cho việc đi lại của người già.

4. Dùng các vật liệu thân thiện với môi trường

Để tránh việc làm ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của người già, phòng ngủ nên dùng vật liệu an toàn, tự nhiên, không ô nhiễm môi trường như gỗ, giấy dán tường, gạch nền và sàn gỗ chống trơn, nên tránh sử dụng vật liệu kim loại hoặc nhựa tổng hợp.

5. Lối đi rộng rãi, thông thoáng

Thông thường, người già đi lại rất chậm rãi. Vì thế cần chú ý đến việc bài trí đồ đạc sao cho ngăn nắp, thông thoáng, tiện lợi cho việc đi lại, tránh xảy ra những sự cố ngoài ý muốn.

6. Phối màu trong phòng ngủ người già

Để tạo một không gian nhẹ nhàng, yên tĩnh, bạn nên chọn những gam màu trung tính trầm như nâu, be, xám, xanh nhạt… Không nên chọn màu sắc quá tươi sặc sỡ hoặc quá lạnh sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và tâm lý của người cao tuổi.

7. Bố trí nội thất

Với giường và tủ quần áo, bạn nên kê sát tường và bài trí gọn gàng, rộng thoáng. Tủ quần áo không nên kê đối diện với cửa ra vào, điều đó sẽ khiến người sống trong phòng luôn có cảm giác nặng nề. Những đồ nội thất kiên cố khác không nên kê sát hai bên cửa ra vào, khiến cảm giác không gian căn phòng như nhỏ lại, ảnh hưởng đến lối đi của căn phòng.

Điều cần biết trong sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi

Người cao tuổi không nên kê gối cao khi nằm ngủ. Để hạn chế thiếu máu não đột ngột, đang nằm, nếu muốn ngồi dậy thì không nên nhấc đầu một cách đột ngột mà phải xoay đầu và nghiêng người lại, chống tay dậy từ từ. Việc nằm đọc sách lâu cũng có hại cho mắt, gây mỏi người, mỏi tay, máu dồn xuống thấp và gây bệnh trĩ .

Buổi sáng ngủ dậy, nếu grain bị đau lưng, đau khớp gối, khớp các ngón tay, hãy vận động một lúc sẽ thấy dễ chịu. Tuy nhiên, cần đi khám để phòng thoái hóa khớp.

Các thuốc chống đau (Cortancyl, Indometacin, Alaxan…) thường có hại cho dạ dày; vì vậy, luyện tập là biện pháp điều trị chủ yếu. Hãy khởi động các khớp trước khi bỏ chân xuống giường, vuốt dọc cơ thắt lưng làm dịu cơn đau cột sống, bóp chặt đầu gối rồi mới cử động. Tốt nhất là dùng bao gối (của các cầu thủ đá bóng) khi đi lại, lên xuống thang gác nếu có hiện tượng thoái hóa đầu gối.

Khi ngủ dậy, nếu thấy cảm giác khác thường như tê nửa người, bại một bên chân hoặc tay, cần nằm nghỉ và mời bác sĩ đến khám, không cạo gió, không cố tập thể dục. Đây có thể là một tai biến mạch máu não, nhất là khi có tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

Nằm, ngồi và một số hoạt động khác

Nên tránh chỗ ngồi có gió lùa. Nếu ngồi quạt thì không để gió thổi thẳng vào gáy và đỉnh đầu. Nên dùng quạt harbour để thay đổi hướng gió, không để gió luôn thổi thẳng vào người. Khi mở cửa, chú ý đứng nép mình sau cánh cửa để gió không lùa thẳng vào mặt, dễ bị cảm. Khi ngồi ở nơi có gió mạnh (ban công, bên hồ) nên ngồi ở vị trí để gió thổi vào lưng.

Khi lên xuống cầu thang, nếu tức ngực, khó thở khác với bình thường, nên đi khám bệnh. Nếu nhói đau bên ngực trái và khó thở, cần chú ý đến chứng thiếu máu cơ tim.

Để giữ cột sống, không nên với tay lấy một vật gì quá tầm, không bê vật quá nặng. Khi mang xách, trọng lượng nên cân đối cả hai bên. Không cúi lom khom khi quét nhà, quét sân, kể cả lúc bê một vật gì đó. Giữ cho lưng thẳng trong mọi trường hợp có thể. Nên kê một gối êm, cao vừa phải vào đoạn cột sống thắt lưng khi nằm để chữa tật còng lưng.

Đối với người cao tuổi, hoạt động thể lực và trí lực rất cần thiết nhưng phải thực hiện đều đặn và thường xuyên, tránh tình trạng bữa đực, bữa cái. Não có hoạt động thì lượng máu lên nuôi não cũng nhiều hơn; nếu không, não dễ bị teo nhỏ. Tay chân không hoạt động, cơ bắp sẽ teo nhẽo, khớp đau, dẫn đến suy nhược, lười biếng, rút ngắn tuổi thọ.

Đại, tiểu tiện

Bình thường, mỗi ngày người cao tuổi có thể đại tiện 3 lần sau các bữa ăn hoặc 2-3 ngày mới đi một lần. Tổng lượng phân không quá 200 g nếu ăn ít chất xơ. Gọi là đi lỏng nếu đi đại tiện nhiều lần trong ngày và phân lỏng (thường là do rối loạn chức năng đại tràng).

Gọi là táo bón nếu 4 ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô từng lọn, có nhiều chất nhầy trắng bao bọc bên ngoài. Nếu 1-3 ngày đại tiện một lần, phân khô thì không thể gọi là táo bón. Phân khô là do ăn ít rau, uống ít nước nhưng chưa bù đủ nước cho lượng mồ hôi đã mất sau khi hoạt động thể lực. Người đi phân lỏng phải kiêng cá, mỡ, sữa, trứng trong nhiều năm; cần khám kỹ vì có thể đó là dấu hiệu viêm đại tràng mạn tính do tự ý dùng thuốc kháng sinh .

Cần tạo thói quen đi đại tiện hằng ngày, hoặc 1-2 ngày/lần. Nếu phân có máu tươi, cần khám bệnh sớm, yêu cầu thăm khám hậu môn để phát hiện ung thư phần thấp của trực tràng. Không rặn mạnh khi đại tiện để phòng xuất huyết ở một mạch máu đã bị tổn thương trước đó.

Có thể tạo phản xạ dễ đi đại tiện bằng cách tập thể dục, xoa day thành bụng từ phải sang trái, uống trước một cốc nước, một ly sữa hoặc một ly cà phê. Việc thay đổi tư thế ngồi lúc đi đại tiện (ngồi xổm, ngồi nghiêng sang bên trái, ngồi ngả ra đằng sau) cũng có thể làm cho cơ thít hậu môn dễ mở hơn. Đi đại tiện xong, không đứng dậy ngay một cách đột ngột mà nên cúi mình ra trước, từ từ ngồi dậy. Nếu thấy chóng mặt, nên vịn vào một chỗ nào đó, chờ hết chóng mặt hãy đứng lên. Đây là tình trạng thiếu máu lên não, thường chỉ thoáng qua; nếu kéo dài thì nằm nghỉ, tốt nhất là có bác sĩ theo dõi.

Người cao tuổi bình thường đi tiểu dễ dàng, không buốt, không rắt, không sót lại; tia nước tiểu thẳng, không bị ngắt quãng. Tình trạng grain tiểu tiện đêm có thể do mất ngủ, hoặc có một vài bệnh như viêm đường tiết niệu, bệnh tuyến tiền liệt…

Khi đi tiểu cũng phải vịn vào một chỗ nào đó. Nếu chóng mặt thì cúi đầu ra phía trước, chờ hết hãy đi vào. Khi đi tiểu, một lượng nhiệt sẽ bị thải ra theo nước tiểu, áp suất trong ổ bụng bị hạ thấp do mất sự chèn ép của bàng quang, lượng máu lên não thiếu. Điều này cũng gây chóng mặt và dễ bị ngã. Kinh nghiệm cho thấy, tai biến mạch máu não ở người cao tuổi dễ gặp về anathema đêm, lúc dậy đi tiểu. Do đó, nếu đang đắp chăn ấm, trước khi ngồi dậy, phải mở dần chăn ra để nhiệt độ cơ thể thích nghi với nhiệt độ bên ngoài, đồng thời phải nằm nghiêng một lúc rồi mới từ từ ngồi dậy. Nếu đi tiểu rắt, buốt grain có máu, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa. Về anathema đêm, tốt nhất là có bô tiểu để cạnh giường, tiện tầm tay với, không phải đi ra khỏi phòng.

BS Hà Văn Ngạc, Sức Khỏe Đời Sống

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh grain gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất grain gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh outpost tim… Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.

Những ai có nguy cơ bị TBMMN?

TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp – hở outpost tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, outpost tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị highlight nặng grain thường xuyên.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm strain hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao grain những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ grain bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất grain gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi… phù hợp với sức khỏe.

Ngâm chân phòng chống cao huyết áp

Ngâm chân trong nước ấm, nước khoáng hoặc dịch thuốc là một liệu pháp phòng chống bệnh độc đáo của y học cổ truyền. Đối với bệnh cao huyết áp, biện pháp này có giá trị dự phòng và hỗ trợ trị liệu hiệu quả. Sau đây là một số công thức và cách dùng thông dụng.

Một số công thức nước ngâm

- Từ thạch, thạch quyết minh, đẳng sâm, hoàng kì, đương quy, spice chi, chỉ xác, ô dược, mạn kinh tử, bạch tật lê, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất, mỗi vị 6g, độc hoạt 18g, sắc lấy nước ngâm chân trong 60 phút.

- Câu đằng 20g và một chút băng phiến, sắc lấy nước ngâm chân 2 lần trong ngày, mỗi lần 30 – 45 phút, 10 ngày là một liệu trình.

- Câu đằng 30g, cúc hoa 15g, hạ khô thảo 15g, quyết minh tử 30g, ngưu tất 20g, bạch truật 20g, bạch cương tàm 20g, hồng hoa 15g, sắc lấy nước ngâm chân trong 30 phút, mỗi ngày 2 lần.

- Hạ khô thảo 30g, câu đằng 20g, spice diệp 15g, cúc hoa 20g, sắc lấy nước ngâm chân mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút.

- Ngô thù du 15g, hoàng bách 20g, tri mẫu 20g, sinh địa 20g, ngưu tất 20g, sinh mẫu lệ 40g, sắc lấy nước ngâm chân, mỗi ngày 2 lần.

- Tang chi 20g, spice diệp 15g, sung uý tử 20g, sắc lấy nước ngâm chân 2 lần trong ngày, mỗi lần 45 phút.

- Có thể dùng nước ấm bình thường hoặc nước khoáng nóng.

Cách ngâm chân

Dụng cụ: Tốt nhất là dùng chậu ngâm điện (loại nhập từ Trung Quốc, có bán tại các siêu thị), loại chậu này tiện lợi cho việc giữ nhiệt độ một cách tự động, ít phải chế thêm nước nóng rồi lại phải thử độ nóng làm cách quãng việc ngâm chân. Nếu không có thì nên dùng chậu gỗ vì loại chậu này giữ được nhiệt lâu, không độc và an toàn.

Nhiệt độ nước ngâm: Tuỳ theo tính chất địa lí, khí hậu, lứa tuổi, tình trạng bệnh lí, phản ứng của từng cá thể… mà lựa chọn nhiệt độ nước ngâm cho phù hợp. Nói chung, về cơ bản, nên chọn nhiệt độ trung bình từ 38 đến 43 độ C. Cơ sở xác định là, sau khi ngâm chân cơ thể cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái và huyết áp được cải thiện rõ rệt.

Tư thế: Chọn tư thế ngồi trên ghế tựa, chậu ngâm có độ cao từ 20 cm trở lên, độ rộng có thể chứa đủ hai chân là được.

Thời gian ngâm chân: Mỗi ngày nên ngâm 2 lần, tốt nhất là vào lúc 10 giờ sáng và tối trước khi đi ngủ. Ngoài việc điều chỉnh huyết áp, việc ngâm chân vào buổi tối sẽ giúp giấc ngủ ngon và sâu hơn. Dân gian có câu: “Sau ăn 300 bước, trước ngủ một chậu ngâm”. Tuỳ theo công thức thuốc ngâm, tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khoẻ, khí hậu thời tiết, tính chất công tác… nói chung thời gian ngâm chân mỗi lần chừng 30 phút là phù hợp. Những người huyết áp quá cao, khó điều chỉnh thì có thể kéo dài thời gian ngâm. Mùa đông nên ngâm dài hơn mùa hè. Tiêu chí đánh giá thời gian ngâm hợp lí là: Sau khi ngâm chân cảm thấy dễ chịu, tình trạng huyết áp được cải thiện.

Biện pháp kết hợp khi ngâm chân

Trong khi ngâm nên kết hợp day bấm một số huyệt vị và thư giãn. Day bấm huyệt, xong thực hành thư giãn.

Các huyệt vị cần day bấm là: Bách hội (là điểm giao nhau ở đỉnh đầu của đường nối đỉnh hai vành tai khi gấp tai lại và đường trục giữa cơ thể, ấn có cảm giác ê tức); ấn đường (là điểm giữa của đoạn nối hai đầu trong lông mày) và Dũng tuyền (là điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân 2 và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân). Nên dùng ngón cái hoặc ngón tay giữa để day bấm, mỗi huyệt chừng 2 phút, sao cho đạt cảm giác tức nặng là được.

Thực hành thư giãn: Tựa người vào thành ghế, toàn thân thả lỏng, mắt nhắm hờ, tập trung sự chú ý vào một điểm nhất định trên cơ thể, tốt nhất là vào Đan điền (vùng dưới rốn một chút). Thở đều, chậm và thật nhẹ đến mức để một vài sợi bông trước mũi mà không thấy lay động. Trước tiên, từ từ thở ra, bụng lõm vào rồi lại từ từ hít vào, bụng phình ra, nín thở một lát rồi lại từ từ thở ra, cứ luân phiên thở như vậy chừng 5 phút. Tiếp đó nghỉ 5 phút rồi lại lặp lại quy trình thở lần thứ hai.

Những điều cần chú ý

- Ngâm chân là liệu pháp mang tính hỗ trợ và phối hợp, những người huyết áp cao đang dùng thuốc không nên ngừng đột ngột, muốn ngừng hoặc giảm liều thuốc phải có ý kiến của bác sĩ điều trị.

- Trong khi tiến hành ngâm chân, tư tưởng hết sức thoải mái, bình thản, cần tránh căng thẳng hoặc suy nghĩ lo âu.

- Nên chọn nơi ngâm chân yên tĩnh, thoáng khí, không bị xáo trộn bởi ngoại cảnh.

- Phải kiên trì và đều đặn, tránh ngâm ngắt quãng.

- Nếu đang bị mắc các bệnh lí cấp tính có sốt do viêm nhiễm và bị bệnh xuất huyết thì không nên thực hành liệu pháp ngâm chânn

Ths. Hoàng Khánh Toàn
(Chủ nhiệm Khoa Y học dân tộc Bệnh viện TƯ quân đội 108)

Người già ở Nhật Bản cần đến robot

Nhật Bản đang phát triển công nghệ robot để đối phó với tình trạng dân số già. Ảnh: AFP

Các nhà làm chính sách ở đang đau đầu nghĩ cách làm thế nào để chi trả lương hưu và phí chăm sóc y tế cho một xã hội mà số lượng người già vượt xa số người đóng thuế. Còn các kỹ sư Nhật Bản tuyên bố rằng công nghệ có thể giúp xóa đi những nỗi đau do tuổi tác mang lại.

Theo AFP, một loạt công ty, từ các công ty chăm sóc sức khỏe đến sản xuất ô tô, đều đang phát triển các robot có thể giúp đỡ hoặc chăm sóc người già cả về thể chất lẫn tinh thần.

Trong số các phát minh công nghệ trên, gây sửng sốt nhất là một chiếc giường robot có thể chuyển thành chiếc xe lăn chạy bằng điện của hãng Panasonic. Ngoài ra còn có một loại robot có thể nhẹ nhàng nhổ tóc bạc cho những người già khó cử động tay.

“Ý tưởng của chúng tôi là mang lại một giải pháp toàn diện cho người cao tuổi, không chỉ ở Nhật Bản mà cả thế giới”, Yukio Honda, giám đốc trung tâm phát triển robot Panasonic nói.

Người Nhật Bản nổi tiếng có tuổi thọ trung binh cao nhất hành tinh, ở nam giới là 80 và nữ giới là 86. Quốc gia này cũng có một số lượng đáng kinh ngạc những người trăm tuổi và thường xuyên giữ kỷ lục về người sống thọ nhất thế giới.

Tuy nhiên, từ sau sự bùng nổ dân số hậu Thế chiến II, Nhật Bản áp dụng chính sách giảm tỷ lệ sinh. Hiện nước này có 127,7 triệu dân, với 23,2 % số người trên 65 tuổi. Các số liệu được công bố tuần này cho thấy số dân Nhật Bản đã giảm xuống kể từ lần thống kê gần đây nhất năm 1975. Dân số dự kiến sẽ giảm còn 89 triệu người vào năm 2055, với 4 trong số 10 người là người già.

“Nhiều nước đang đối mặt với tình hình tương tự nhưng Nhật Bản đã đi trước thời đại”, Hitoshi Suzuki, trưởng Viện Nghiên cứu Daiwa nói. “Nếu Nhật Bản vượt qua trở ngại này thành công thì sẽ là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập”.

Công ty công nghệ Cyberdyne là một trong các công ty Nhật Bản đang phát triển chân robot dùng cho người già hoặc người bị thương luyện tập gân cốt và đi lại bình thường. Người đeo chân robot sẽ điều khiển các tín hiệu từ não và di chuyển chân robot khi họ cố gắng di chuyển chân mình. Robot này đã được ứng dụng ở các bệnh viện tại Nhật Bản.

Tập đoàn ô tô Toyota cũng đang cố gắng phát triển các loại “robot đối tác”, có khả năng làm việc nhà và giúp đỡ bác sĩ, y tá cũng như những người chăm sóc bệnh nhân.

Về lĩnh vực tinh thần, công ty chăm sóc sức khỏe Pip đang chuẩn bị tung ra Unazuki Kabochan, một búp bê chạy bằng pin với bộ cảm biến âm thanh, ánh sáng và chuyển động, có khả năng nói chuyện và giao lưu với người sử dụng nó. Cùng phát triển dòng robot này, công ty công nghệ Vstone lại giới thiệu Torero, một con gấu trúc đỏ có khả năng hướng dẫn tập thể dục và động viên người già tích cực vận động.

Các robot không thể là giải pháp lâu dài cho khủng hoảng dân số tại Nhật Bản nhưng đây cũng là chìa khóa giải quyết những khó khăn mà tình hình dân số già đưa đến, với ngày càng nhiều người sử dụng công nghệ để được làm việc lâu hơn thay vì nghỉ hưu.

“Tiến bộ công nghệ giúp cải thiện năng suất lao động và dịch vụ”, ông Suzuki nói. “Vấn đề quan trọng là Nhật Bản làm thế nào để trở thành một quốc gia nơi mọi người đều có thể làm việc nếu họ muốn”.