Hiển thị các bài đăng có nhãn hô hấp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hô hấp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Những yếu tố làm suy giảm tuổi thọ

Tổ chức Y tế thế giới đã xác định 25 yếu tố nguy cơ gây bệnh, tàn phế, tử vong đối với người cao tuổi. Trong đó, có 7 nguy cơ hàng đầu đối với sức khỏe mà người cao tuổi có thể phòng ngừa được.

Đó là các yếu tố nguy cơ sau:

Hút thuốc lá: Là yếu tố nguy hại nhất làm tăng nguy cơ ung thư phổi, gây ảnh hưởng xấu đến mọi bộ phận, đẩy nhanh tốc độ giảm khối lượng xương và chức năng hô hấp. Nguy cơ mắc các bệnh mạn tính của người cao tuổi có liên quan tỷ lệ thuận với thời gian và mức độ hút thuốc.

Ít hoạt động thể lực: Tham gia rèn luyện thể lực thường xuyên, điều độ có thể trì hoãn được sự suy giảm các chức năng trong cơ thể, làm giảm nguy cơ khởi phát các bệnh mạn tính ở người cao tuổi. Vận động không phải chỉ cần thiết cho cơ bắp, xương, khớp mà còn tác dụng đến toàn cơ thể. Cơ thể được rèn luyện đều đặn sẽ hoạt động hài hòa, cho người cao tuổi cảm giác dễ chịu, phấn khởi, yêu đời, trí óc sáng suốt và lao động có năng suất.

Dinh dưỡng không hợp lý: Chế độ ăn chất bột, chất béo làm giảm nguy cơ béo phì, các bệnh mạn tính và tàn phế ở tuổi già. Nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi. Cho nên, mỗi bữa trước đây ăn 3-4 bát cơm, nay chỉ nên ăn 1-2 bát. Chú ý theo dõi cân nặng hằng tháng. Cân nặng người cao tuổi không nên vượt quá số cm của chiều cao trừ đi 105. Ví dụ, người cao tuổi cao 165 cm, cân nặng không nên vượt quá 60 kg. Người cao tuổi không nên sử dụng các chất kích thích như rượu, bia.

Tai biến do thuốc:
Người cao tuổi thường có một hoặc nhiều bệnh mạn tính, cho nên họ hay sử dụng thuốc chữa bệnh. Đôi khi thuốc lại được kê quá nhiều cho người già.

Không tuân thủ chế độ chăm sóc, điều trị: Sự tuân thủ điều trị bao gồm sử dụng thuốc theo hướng dẫn của thầy thuốc và duy trì chế độ ăn lành mạnh, tập luyện thể dục, không hút thuốc… Việc tuân thủ kém ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả điều trị, đến chất lượng sống. Lúc đó, những tiến bộ của y dược học cũng không làm gì được để giảm gánh nặng của bệnh mãn tính.

Nước không sạch và môi trường vệ sinh kém: Nếu triển khai rộng khắp toàn cầu việc cung cấp đủ nước và điều kiện vệ sinh cho bệnh nhân, ta sẽ tránh được 1,8 tỷ trường hợp tử vong do tiêu chảy (giảm 17% so với hiện nay). Nếu đạt được việc cung cấp nước máy, sẽ tránh được 7,6 tỷ trường hợp tiêu chảy hằng năm.

Trầm cảm và sa sút trí tuệ: Nhìn chung trong cuộc đời của mình, có từ 15 đến 40% người cao tuổi từng có một thời kỳ trầm cảm rõ rệt. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi mắc “hội chứng chán nản cao độ” này khá cao, ước tính khoảng 20-30%, nhưng rất ít bệnh nhân được quan tâm đầy đủ. Hơn 90% ca trầm cảm và sa sút trí tuệ không được phát hiện và ngay cả khi đã biết cũng không được điều trị đúng.

Nguồn: SK&ĐS

Vitamin và tác dụng phòng ngừa cảm lạnh ở NCT

Một nghiên cứu của Hoa Kỳ cho thấy, dùng vitamin hằng ngày làm giảm tới một nửa nguy cơ bị cảm lạnh và các bệnh thông thường khác. Nghiên cứu này được thực hiện ở 130 người tuổi trên 45. Một nhóm được dùng vitamin hàng ngày, còn nhóm thứ hai dùng giả dược. Sau 1 năm, chỉ 43% những người dùng vitamin bị cảm lạnh hay nhiễm trùng nhẹ so với 73% người ở nhóm dùng giả dược. Tương tự như vậy, 57% người thuộc nhóm không dùng vitamin phải nghỉ ốm so với 21% ở nhóm kia. Dưới đây là những vitamin người cao tuổi nên bổ sung để phòng bệnh cảm lạnh.

Vitamin E : Khi nghiên cứu hơn 600 bệnh nhân trên 65 tuổi được chăm sóc tại nhà, TS. Simin Meydani, Đại học Tufts (Mỹ), nhận thấy những người uống vitamin E mỗi ngày ít bị cảm lạnh hơn những trường hợp dùng giả dược. Nguy cơ mắc bệnh giảm tới 20%. Đặc biệt, số bệnh nhân tránh được nguy cơ viêm đường hô hấp trên ở nhóm vitamin E cao hơn nhóm giả dược.

Theo Meydani, vitamin E có thể cải thiện hệ miễn dịch của người cao tuổi, nhờ đó hạn chế đáng kể nguy cơ mắc các bệnh đường hô hấp – những yếu tố làm suy nhược và dẫn tới các biến chứng gây tử vong ở người có tuổi. Tuy nhiên, loại vi chất này không phát huy tác dụng đối với các bệnh viêm đường hô hấp dưới.

Vitamin C : Mặc dù vitamin C không ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh cảm, nhưng nhìn chung, với những liều 200mg hoặc nhiều hơn, quãng thời gian bị cảm sẽ được giảm 8%. Điều đó chứng tỏ vitamin C giúp bệnh thuyên giảm.

Kẽm : Tác dụng của kẽm trong việc chống cảm vẫn còn gây tranh cãi. Một nghiên cứu tìm thấy các viên kẽm giúp giảm giai đoạn bị cúm tới một nửa, trong khi các nghiên cứu khác thì lại không thấy ích lợi của nó. Nếu bạn muốn dùng kẽm, hãy uống 2 tiếng một lần và dừng lại khi các triệu chứng đã hết. Đừng cho rằng dùng càng nhiều càng tốt. Quá liều sẽ có thể gây ngộ độc.

Vitamin D : Do cảm cúm thường tấn công vào những ngày tháng mùa đông âm u, nên một số nhà nghiên cứu tin rằng việc thiếu vitamin D – vitamin của “ánh nắng mặt trời”, có thể khiến chúng ta dễ mắc bệnh hơn. Trừ khi bạn vẫn thường xuyên tiếp xúc với nắng trong mùa đông, thì có thể dùng thêm các viên vitamin D bổ sung.

nguồn: SK&ĐS

Viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi

Viêm phế quản mạn tính là bệnh lý thuộc đường hô hấp dưới. Bệnh gặp nhiều ở người cao tuổi. Đôi khi viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng kết hợp với nhau hình thành bệnh phế quản – phổi tắc nghẽn không đặc hiệu. Theo Tổ chức Y tế thế giới, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hiện là nguyên nhân gây tử vong và tàn phế đứng hàng thứ 4 trên thế giới với khoảng 50 triệu người mắc và 3 triệu người chết hàng năm. Ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính ở những người trên 40 tuổi là 5,2% (miền Bắc) và có khoảng 4 triệu người trong nước mắc bệnh này.

Vì sao bị viêm phổi mạn tính?

Viêm phế quản mạn tính là hiện tượng viêm toàn bộ phế quản gây ho và khạc đờm kéo dài ít nhất 3 tháng trong 1 năm và kéo dài trong 2 năm liên tiếp mà không phải do một bệnh hô hấp nào khác gây nên như áp-xe phổi, lao phổi, giãn phế quản…

Có nhiều nguyên nhân gây nên bệnh viêm phế quản mạn tính ở người cao tuổi, trong đó do sự giảm chức năng đề kháng của cơ thể, sức khoẻ nói chung bị sa sút bởi tuổi tác cao và sự xâm nhiễm của vi sinh vật gây bệnh đóng vai trò hết sức quan trọng. Một số nguyên nhân thuận lợi như nghiện  thuốc lá, thuốc lào; sống trong môi trường có nhiều bụi, dùng bếp than lâu ngày như đun than tổ ong, than củi, rơm rạ; cơ địa hay bị dị ứng đường hô hấp như hen suyễn, viêm phế quản nhiễm khuẩn mạn tính, kéo dài ngay từ lúc còn nhỏ tuổi hoặc có một số dị dạng về khung xương sườn, cột sống như gù vẹo cột sống…

Hệ lụy của viêm phế quản mạn tính

Trong bệnh viêm phế quản mạn tính thường có 3 hiện tượng: ho, khạc đờm nhày hoặc mủ và khó thở. Giai đoạn đầu của bệnh viêm phế quản mạn tính là người bệnh ho và khạc ra đờm vào buổi sáng. Ho thường xảy ra từng đợt, nhất là khi thời tiết thay đổi (nóng, lạnh đột ngột, chuyển mùa từ nóng sang lạnh hoặc ngược lại), mỗi đợt kéo dài từ 1 tuần đến vài tuần, mỗi năm có khi xảy ra ho 5 – 6 lần. Tính chất của đờm thường có màu trắng, lỏng hoặc đặc quánh, đôi khi có bọt. Bệnh càng kéo dài gây ho càng nhiều, đờm càng ngày càng đặc hơn và đổi màu (thường là màu vàng), khối lượng đờm do ho, khạc ra trong 1 ngày có khi lên tới 10ml hoặc hơn thế nữa. Những tháng sau, năm sau ho càng ngày càng tăng lên và số lượng đờm cũng tăng dần lên, bệnh cũng càng nặng hơn: mỗi đợt ho sẽ kéo dài hơn vài tuần và số lần ho cũng tăng lên một cách đáng kể. Ở giai đoạn muộn hơn của viêm phế quản mạn tính thường có khó thở. Lúc đầu người bệnh chỉ cảm thấy nặng ngực, dần dần khó thở thực sự. Bệnh càng lâu và càng nặng thì sự thiếu hụt không khí càng nhiều, gây rối loạn chức năng hô hấp một cách đáng kể, do đó người bệnh luôn thiếu dưỡng khí gây nên mệt mỏi, sụt cân, ảnh hưởng đến nhiều chức năng khác của cơ thể, nhất là hệ tuần hoàn và hệ thần kinh trung ương (tim đập nhanh, mệt mỏi, buồn ngủ…). Viêm phế quản mạn tính thường có 2 loại: loại lành tính và loại ác tính. Viêm phế quản mạn tính lành tính là loại chỉ xảy ra ở phần thân của các phế quản lớn (khí quản, phế quản gốc, thuỳ và phân thuỳ). Nếu hiện tượng viêm nhẹ thì ít khi gây suy hô hấp, loại viêm phế quản mạn tính lành tính chiếm tỷ lệ cao nhất (khoảng 90%). Viêm phế quản mạn tính thể ác tính chiếm tỷ lệ thấp hơn rất nhiều (khoảng 10%), thường xảy ra ở các tiểu phế quản và gây hội chứng tắc nghẽn thở ra (syndrome obstructif expiratoire) dẫn đến suy thở và rất dễ dẫn đến tâm phế mạn ở người cao tuổi.

Khám thực thể, khi nghe phổi sẽ thấy có ran rít và ran ẩm nhỏ hạt ở 2 phế trường. Trong những đợt tiến triển cấp tính thì khi nghe phổi có thể thấy nhiều ran hơn khắp 2 phế trường. Khi bệnh có xu hướng tiến triển xấu đi (hình thành bệnh khí phế thũng) thì khám thấy rì rào phế nang giảm rõ rệt. Các loại cận lâm sàng như xét nghiệm công thức máu sẽ thấy đa hồng cầu (một thời gian vài năm sau khi bị viêm phế quản mạn tính); lưu lượng hô hấp khi gắng sức sẽ giảm; dung tích sống, thể tích thở ra tối đa giảm; PaO2 và PaCO2 giảm (khi đo khí trong máu). Xquang có thể thấy mạng lưới phế – huyết quản tăng đậm.

Để không bị mắc viêm phế quản mạn tính

Một số thói quen như nghiện thuốc lá hoặc thuốc lào nên bỏ càng sớm càng tốt. Nếu chưa có điều kiện dùng bếp ga, bếp điện thì cần cải thiện việc dùng bếp than, củi, rơm rạ bằng cách dùng loại bếp ít khói. Nhà ở cần thông thoáng để tránh hiện tượng khói bếp ứ đọng nhiều giờ, không khí không được lưu thông. Cùng với cộng đồng, tích cực tham gia hoặc vận động mọi người trong gia đình, làng xóm, dân phố vệ sinh môi trường sống càng sạch, càng ít bụi càng tốt. Nếu bị viêm đường hô hấp (hô hấp trên và hô hấp dưới) cần được khám và điều trị dứt điểm, không để bệnh trở thành mạn tính. Cần tập thể dục thường xuyên để điều hoà nhịp thở như hít thở, đi bộ, chơi thể thao. Tập thể dục và chơi thể thao phải tuỳ theo sức của mình, không nên gắng sức tập quá khả năng hoặc quá sức lực của mình và phải tập theo bài bản.

PGS.TS.TTƯT. Bùi Khắc Hậu (Báo Sức khoẻ & Đời sống)

Chứng đau lưng ở người cao tuổi

Mọi người có thể mắc triệu chứng đau lưng ngay cả khi tuổi còn rất trẻ và cũng không có sự phân biệt giàu – nghèo, giới tính cũng như chủng tộc, vùng địa lý (miền xuôi, miền ngược, nông thôn, thành thị). Tuy vậy, người cao tuổi (NCT) dễ mắc chứng đau hơn rất nhiều so với người trẻ tuổi, đau lưng chỉ là một triệu chứng nhưng gây không ít phiền toái cho người bệnh.

Nguyên nhân gây đau lưng ở NCT
Đau lưng có hai loại nguyên nhân cơ bản: Đau lưng do tác động cơ học và đau lưng do hiện tượng viêm.
Đau lưng do tác động cơ học: đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là NCT như: thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hoá cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm, bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hoá thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm và cũng chính vì có hiện tượng đau lưng rất khó chịu mà người bệnh phải đi khám. Ngoài các nguyên nhân do thoái hoá cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như: mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng… Đây cũng là một trong các nguyên nhân gây đau lưng ở NCT.

Đau lưng do hiện tượng viêm: trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… và cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng…), viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)… Các loại bệnh này thường gây đau lưng một cách âm ỉ, đặc biệt hay xảy ra vào ban đêm và đau lưng cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở NCT nhiều hơn người còn trẻ tuổi.

Biện pháp khắc phục đau lưng
Đau lưng chỉ là một triệu chứng biểu hiện của nhiều bệnh. Trước hết, người bị đau lưng nên xem bệnh có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? Ví dụ hay đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ. Ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan mật thiết với bệnh như: tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế. Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng có khả nghi nhưng không nên tự mình chẩn đoán bệnh cho mình hoặc người thân khi không có chuyên môn thực sự về y khoa.
Điều quan trọng nhất của việc tìm nguyên nhân gây đau lưng là đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Khi đến khám bệnh cần nghe rõ thầy thuốc hỏi những gì và cần nói rõ cho thầy thuốc biết những hiện tượng đau lưng và các biểu hiện kèm theo. Bác sĩ sẽ khám và cho làm các xét nghiệm có liên quan, ví dụ như: có thể cho chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ, siêu âm hệ thống niệu (thận, niệu quản, bàng quang), làm xét nghiệm về nước tiểu.

Có khá nhiều trường hợp khi tìm ra nguyên nhân và có biện pháp khắc phục thích hợp thì đau lưng cũng dần dần sẽ khỏi, ví dụ như: ngồi sai tư thế, bưng bê vật nặng không cân xứng trọng lực giữa hai tay và hai chân hoặc các trường hợp đau lưng do ngồi sai tư thế hoặc do ngồi quá nhiều giờ liền như: đối với lái xe, cán bộ văn phòng ngồi trước máy vi tính nhiều giờ, các nhân viên tổng đài, thợ may… Một số bệnh sốt cấp tính do nhiễm trùng cũng gây đau lưng, đau cơ, mệt mỏi như trong bệnh sốt xuất huyết (loại sốt Dengue cổ điển).
Trên cơ sở khám lâm sàng, kết quả các xét nghiệm và cận lâm sàng thì bác sĩ khám bệnh sẽ kết luận và cho hướng điều trị thích hợp. Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó không phải đơn giản. Chẳng hạn như: thoái hoá cột sống, thoát vị đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng, khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng thì cần tìm mọi cách để giải quyết nguyên nhân và sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó.Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị thì các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tuỳ theo sức mình và bệnh của mình. Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hoá cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khoẻ cho mình.

Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tuỳ tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y và Đông y. Trong điều kiện cho phép, có thể điều trị Đông – Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc vật lý liệu pháp. NCT cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh tái phát.

BS Mai Hương (SKNCT 3-2011)

Nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Người cao tuổi nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.


Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết poison dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ poison đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều poison dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Theo SKDS

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Bệnh khớp ở người cao tuổi

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện anathema đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, grain gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, grain di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng poison uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một grain hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý grain gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc group thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Cấp cứu người cao tuổi bị nghẹn

Người già, niêm mạc của ống tiêu hóa teo dần, thành biểu mô của niêm mạc miệng cũng mỏng hơn, lợi co rút lại, khiến khả năng nhai giảm nên dễ bị nghẹn, nhất là khi lơ đãng.

Thức ăn dễ rơi nhầm vào khí quản, gây ho sặc sụa và nghẹt thở, sắc mặt đỏ tía rồi tím ngắt, thần sắc lờ đờ, nấc cụt, có thể tử vong trong vài phút nếu không được cấp cứu kịp. Vì vậy, xử lý anathema đầu rất quan trọng. Trường hợp, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, để nạn nhân ngồi, hơi cúi nửa người ra phía trước.

Động viên họ gắng sức ho mạnh nhằm đẩy thức ăn ra ngoài hoặc ít ra cũng tạo được khe hở để thở. Người cấp cứu đứng ở phía sau, dùng khuỷu tay đập mạnh 4 cái vào vùng lưng giữa hai xương bả vai.

Nếu tình huống cho phép, để nạn nhân hơi cúi về phía trước, người cấp cứu đứng phía sau, 2 tay ôm chặt ngang bụng nạn nhân, dùng ngón cái xiết mạnh vào bụng trên 4 lần theo chiều dưới lên.

Trường hợp bệnh nhân bất tỉnh, để nằm nghiêng, người cấp cứu một mặt lấy ngón tay ấn lưỡi nạn nhân xuống, một mặt dùng khuỷu tay đánh mạnh 4 cái vào vùng lưng, giữa hai xương bả vai. Hoặc để nạn nhân nằm ngửa, đầu ngả ra sau, người cấp cứu tỳ chặt khuỷu tay vào bụng trên nạn nhân, hích 4 cái hướng vào trong và lên trên…

Ngoài các cách cấp cứu nêu trên, có thể để nạn nhân nằm nghiêng, dùng hai ngón tay móc hoặc kẹp thức ăn bị tắc ra. Khi đã dùng hết mọi cách mà vẫn chưa cứu được, phải tích cực ép ngực, làm hô hấp nhân tạo. Khi tình trạng tắc nghẹn không thể giải quyết được thì phải dùng loại kim tiêm lớn chọc thẳng vào khí quản, chỗ trên hõm cổ khoảng 1cm, mở đường thông khí, duy trì sự sống. Song strain với việc cấp cứu, cần kịp thời gọi bác sĩ ngay.

 

 

Sống thêm 50 năm chỉ nhờ bài thở

Bị lao phổi, sau 7 lần mổ, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ còn một góc phổi bên trái, mất 8 xương sườn. Bệnh viện bảo ông chỉ còn sống được hai năm. Thế nhưng ông đã sống đến tuổi 85 chỉ nhờ một bài thở cổ xưa.

Ông sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở Bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble.

Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa. Từ năm 1943 đến 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống được hai năm nữa.

Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa.

Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý – xã hội học, tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế TP HCM, (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch).

Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái.

Những buổi hội họp dông dài, vô bổ, ông chỉ ngồi… thở, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt. Ông bảo sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ, mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bạn đồng nghiệp với bác sĩ Viện, kể lại: “Trước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Rồi một lần tôi bị tai biến nặng, phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu!”

Phương pháp này giúp ông thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn. Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp cho rất nhiều thuốc, nhưng ông chỉ chọn một vài món thực sự cần thiết, còn thì chỉ dùng phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình.

Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là điều hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh… của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.

Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!

Theo Phụ nữ

Người cao tuổi ho kéo dài, bệnh gì?

Ho là một phản xạ nhằm tống các vật lạ, chất tiết, khí độc, vi sinh vật… ra khỏi đường hô hấp để bảo vệ đường hô hấp. Ho cũng là một triệu chứng biểu hiện khi niêm mạc đường hô hấp bị viêm do các nguyên nhân khác nhau. Ho kéo dài gây khó chịu cho người bệnh và làm ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của họ. Ho kéo dài có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng ở người cao tuổi (NCT) khi có chứng bệnh này cần hết sức lưu ý.

Biểu hiện của ho và nguyên nhân gây ho ở NCT

Trong cuộc sống hằng ngày có thể gặp sự thể hiện của nhiều loại ho khác nhau. Thông thường khi đường hô hấp mới bị tác động gây viêm thì người bệnh thể hiện ho khan, tức là ho chưa có sự xuất tiết nên không có đờm. Vài ba ngày sau do niêm mạc phế quản, niêm mạc họng bị  sưng nề thì triệu chứng ho cũng thể hiện khác đi và có sự xuất tiết của niêm mạc đường hô hấp cho nên ho có đờm. Ho khan hay gặp trong các trường hợp viêm hô hấp cấp như viêm họng (đặc biệt là viêm họng hạt, viêm họng do dị ứng), viêm phế quản giai đoạn đầu. Ho có đờm gặp nhiều trong các trường hợp viêm họng, phế quản đã bước sang giai đoạn toàn phát. Đờm có thể lỏng hoặc đặc quánh hoặc đờm có lẫn máu tươi. Ho có thể là cấp tính hoặc mạn tính. Ho cấp tính thường kéo dài một vài tuần nhưng ho mạn tính có khi kéo dài nhiều tuần, thậm chí hàng tháng, có khi tới hàng năm. Ho mạn tính ở NCT có rất nhiều nguyên nhân, có nguyên nhân không gây nguy hại và tiên lượng tốt nếu được điều trị đúng, nhưng có loại nguyên nhân gây ho ở NCT rất cần lưu tâm.

Một trong số nguyên nhân mà NCT hay gặp khi ho kéo dài là hen suyễn, đặc biệt là hen suyễn mạn tính. Ho ở NCT bị hen suyễn mạn tính thường có đờm lỏng hoặc đặc, cho nên khi ho có tiếng lọc xọc như người hút thuốc lào. Nếu điều trị cắt được cơn hen thì người bệnh sẽ giảm hoặc hết cơn ho. Một nguyên nhân gây ho ở NCT mà dễ bỏ sót là bệnh trào ngược dạ dày – thực quản. Đây là một hội chứng gồm nhiều triệu chứng như đau rát sau xương ức, ợ chua, đầy hơi và ho kéo dài. Trong bệnh trào ngược thực quản có những trường hợp chỉ ho kéo dài mà ít có biểu hiện gì khác. Ho trong trào ngược dạ dày – thực quản là do dịch vị trào ngược từ dạ dày lên gây kích thích niêm mạc đường hô hấp và làm tổn thương do tác động của dịch vị dạ dày. Trong trường hợp này nếu phát hiện sớm và điều trị đúng và hết bệnh trào ngược dạ dày – thực quản cũng đồng nghĩa với hết cơn ho.

Khí phế thũng gây ho kéo dài.

Một số bệnh thuộc viêm đường hô hấp như viêm phế quản mạn tính, giãn phế quản, khí phế thũng cũng gây nên cơn ho, nhất là ho của bệnh giãn phế quản ở NCT thường xảy ra vào nửa đêm, gần sáng. Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh bao gồm khí phế thũng kèm theo viêm phế quản mạn tính cũng gây nên ho kéo dài hay gặp ở NCT. Đây là một bệnh mạn tính về đường hô hấp kéo dài và vì vậy ho cũng là một triệu chứng điển hình ở loại bệnh này. Một số NCT nghiện thuốc lá, thuốc lào cũng bị ho kéo dài do niêm mạc đường hô hấp viêm nhiễm mạn tính. Ngoài ra có một số bệnh tuy gặp ít hơn nhưng cũng gây ho kéo dài như trong bệnh suy tim, nhất là suy tim nặng do ứ máu ở phổi lâu ngày hoặc ho gặp ở một số người dùng thuốc hạ huyết áp loại thuốc ức chế men chuyển. Đáng lưu tâm nhất là ho ở NCT khi phát hiện bị lao phổi, tràn dịch màng phổi, đôi khi ho kèm theo có đờm lẫn máu. Đáng lo ngại nhất là NCT bị ho khi có u ở phổi. Có nhiều loại gây u phổi và cũng có nhiều loại lành tính hoặc không nguy hiểm như áp xe phổi do vi khuẩn hoặc ký sinh trùng (áp xe do tụ cầu) nhưng đáng lo ngại hơn cả là ung thư phổi.

Người cao tuổi khi bị ho nên làm gì?

Trước hết cần bình tĩnh không nên lo lắng quá và cần đi khám bệnh càng sớm càng tốt. Khi đã được khám bệnh và xác định được nguyên nhân thì nên theo chỉ định của bác sỹ để điều trị cho dứt điểm, không nên tự chẩn đoán bệnh cho mình hoặc tự mua thuốc theo chỉ định của dược tá ở quầy bán thuốc để điều trị. Nếu làm như vậy nhiều khi bệnh không những không khỏi mà còn nặng thêm có khi gây nguy hiểm đến tính mạng; Không nên hút thuốc lá, thuốc lào bởi vì hút thuốc là nguyên nhân hay gặp nhất trong các bệnh của đường hô hấp. NCT cũng không nên uống nước lạnh; Nếu bị bệnh tăng huyết áp mà bác sỹ đã có chỉ định điều trị nhưng khi dùng thuốc thấy bị rát cổ, ho nhất là ho vào ban đêm thì cần báo cho bác sỹ biết để thay đổi thuốc cho phù hợp.

Điều trị các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi

Sự già hóa của hệ thần kinh có thể đến sớm và trở thành các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi. Những yếu tố nguy cơ già hóa bệnh lý đã hình thành phát triển ngay từ giai đoạn tuổi chuyển tiếp và là những “buến chứng” của các chứng bệnh nội khoa.

Biểu hiện các chứng bệnh thần kinh

Các chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi khá phức tạp, đa dạng, thường có các biểu hiện:

Chứng đau nhức: thường là nhức đầu, nhức nửa đầu, nhức nửa mặt, đau thần kinh hông. Thường phối hợp với các chứng đau mình mẩy, đau chân, đau bả vai.

Chứng run, co giật: thường run chân tay, đi đứng run rẩy, loạng choạng hoặc nói run run. Có thể có cơn co giật kiểu động kinh. Có cơn động kinh và rối loạn tâm thần, rối loạn điều hòa các cử động…

Rối loạn nuốt, phát âm: có thể có hiện tượng nghẹn đặc, sặc lỏng và đi đứng khó khăn.

Rối loạn trí nhớ: người bệnh cảm thấy quên nhiều và lẫn hoặc có hiện tượng nhớ nhầm, ngộ nhận…

Một số bệnh hay gặp

Tai biến mạch máu não: thường gặp là tắc mạch, lấp mạch gây nhồi máu não, thiếu máu não cục bộ… Các trường hợp chảy máu não, chảy máu màng não, viêm màng não, thường là viêm màng não mủ, viêm màng não do lao.

Bệnh Parkinson…

Chẩn đoán

Cần có kế hoạch theo dõi cho lứa tuổi “bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”, phát hiện kịp thời những chứng bệnh thần kinh thường gặp. Những biểu hiện như chứng đau nhức ở thần kinh (đau đầu, đau nửa mặt, đau kiểu thắt lưng hông…), chứng co giật, run chân tay, chóng mỏi ở hai chân đặc biệt là chứng cứng cơ khi cử động… chứng quên lẫn, nhớ nhầm, ám ảnh, lo sợ. Khi có những triệu chứng kể trên thì nên kết hợp các phương pháp thăm dò chức năng không nguy hại cho người cao tuổi để chẩn đoán như siêu âm tim mạch, siêu âm xuyên não, ghi điện não, chụp cắt lớp vi tính và các test thần kinh tâm lý.

Điều trị

Do đặc điểm cơ thể người cao tuổi (tuổi già, sức yếu…) nên điều trị các chứng bệnh thần kinh phải toàn diện: toàn diện cho tính chất đa bệnh lý, toàn diện giữa thuốc với nuôi dưỡng cơ thể, nâng cao thể trạng, kết hợp dùng thuốc và các phương pháp phục hồi chức năng.

Sử dụng thuốc điều trị

Cơ thể người cao tuổi hấp thụ, chuyển hóa và thải trừ kém nên phải thận trọng khi sử dụng thuốc. Cần cho thêm các thuốc nâng cao thể trạng, các loại vitamin nhất là vitamin nhóm B. Nên kết hợp thuốc Đông y với những ưu việt dành cho người cao tuổi.

Phục hồi chức năng thần kinh

Phục hồi chức năng thần kinh là một phương pháp điều trị tích cực, tổng hợp, toàn diện nhất là vận dụng các phương pháp dưỡng sinh, thiền, khí công, luyện khí… Phục hồi chức năng vận động, tâm lý chú ý tới khí công, xoa bóp, bấm nắn, tất cả đều tĩnh tâm và thường phối hợp với thời khắc trong ngày… Tác động tâm lý giữ phần quan trọng trong công tác điều trị chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi. Điều đó giúp người bệnh tự xác định, chịu khó tập luyện, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý. Sự quan tâm của cộng đồng, cơ quan, gia đình, bạn bè, góp phần quan trọng cho việc điều trị có hiệu quả. Luôn luôn quan tâm tới chế độ ăn uống và nghỉ ngơi cho người bệnh cao tuổi.

Phòng bệnh

Cần phải có kế hoạch theo dõi phát hiện những thay đổi về tim mạch, huyết áp, hô hấp, tiết niệu (phù…) những thay đổi về giác quan (ví dụ mắt nhìn có ruồi bay, mờ mắt, nghe o o trong tai, nghe kém, ăn thì nghẹn, uống nước thì sặc…) hoặc những rối loạn tâm lý…

Phòng đột tử ở người cao tuổi trong mùa hè

Thời tiết oi bức của mùa hè làm tăng đáng kể các ca đột tử, nhất là với người cao tuổi. Các bệnh dẫn đến tử vong đột ngột thường là bệnh tim mạch, bệnh phổi, rối loạn điện giải do nắng nóng…

Người cao tuổi nên khám sức khỏe định kỳ để phòng ngừa đột tử.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đột tử:

Bệnh tim mạch: Như nhồi máu cơ tim, bệnh van tim, bệnh cơ tim và tăng huyết áp… Các bệnh này dễ gây suy tim, loạn nhịp tim và dẫn đến đột tử. Những người bị nhồi máu cơ tim có tỷ lệ đột tử cao gấp 10 lần người bình thường.

Bệnh phổi mạn tính: Hen phế quản ác tính dẫn đến suy hô hấp cấp tính.

Rối loạn thể dịch: Như mất máu nặng, rối loạn điện giải…

Phản ứng quá mức của cơ thể: Như phản xạ thần kinh phế vị (thần kinh chi phối hoạt động của phổi và dạ dày).

Đối với những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim thì điều quan trọng phải biết cấp cứu ban đầu rồi gọi cấp cứu để đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế. Trường hợp này phải được theo dõi chặt chẽ và có cách điều trị thích hợp.

Người có bệnh tăng huyết áp cần được điều trị kịp thời và kiểm tra thường xuyên huyết áp để ngăn ngừa các cơn tăng huyết áp kịch phát dẫn tới suy tim, loạn nhịp, đột tử.

Người bệnh hen cần có thuốc và phương tiện trợ hô hấp khi có cơn hen ác tính. Nói chung, những người bị bệnh trên cần biết cách theo dõi và có thuốc cấp cứu bên mình để phòng tình huống nguy hiểm xảy ra.

Những người nghiện thuốc lá, thuốc lào, nghiện rượu thì nên cai vì trong thuốc lá có tới hơn 4.000 loại chất độc. Đặc biệt, nghiện thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây xơ vữa động mạch vành và bệnh phổi tắc nghẽn. Còn rượu làm tăng huyết áp, giãn cơ tim, có nguy cơ dẫn đến tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim và đột tử.

Việc tăng cường hoạt động thể lực cũng làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim và tử vong đột ngột. Đối với người đã bị bệnh tim mạch, cách luyện tập tốt nhất là đi bộ.

Bất cứ ai cũng có thể bị đột tử nếu không biết mình có bệnh gì. Vì vậy, khám sức khỏe định kỳ là phương pháp phòng ngừa đột tử triệt để nhất.

(Theo Bác sĩ Bùi Ngọc Trinh – Sức khỏe đời sống)

Những bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

Khi thời tiết thay đổi, nhất là từ nóng sang lạnh, đây là lúc bắt đầu xuất hiện các bệnh lý về khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển mà thường gặp nhất là ở người cao tuổi.

Gút là bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

 

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện ban đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, hay gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng acid uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một hay hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Bệnh hô hấp ở người già mùa rét

Người cao tuổi (NCT), mọi chức năng của cơ thể đều bị suy giảm trong đó sức đề kháng cũng giảm đi thì mọi loại bệnh tật có thể tấn công dễ dàng hơn, nhất là các bệnh gây ra bởi vi sinh vật (virut, vi khuẩn, vi nấm).

Sự yếu kém trong việc tự bảo vệ của NCT càng rõ nét mỗi khi thời tiết thay đổi, chuyển mùa nhất là vào mùa lạnh. Trong các bệnh mà NCT dễ mắc phải trong mùa lạnh thì bệnh về đường hô hấp là loại bệnh hay gặp nhất.

Một số bệnh đường hô hấp mà người cao tuổi thường gặp

Viêm mũi họng là một bệnh có thể gặp quanh năm nhưng vào mùa lạnh NCT hay gặp nhất gây nên hiện tượng hắt hơi, sổ mũi, chảy mũi nước; đau rát họng gây ho, tức ngực, có khi gây khó thở. Viêm họng mạn tính kéo dài (thường gọi là viêm họng hạt), hoặc viêm mũi mạn tính rát, dễ gây nên viêm xoang, gây nhức đầu. Khi thời tiết thay đổi đều có khả năng tái phát trở lại. NCT vào mùa lạnh còn hay mắc viêm phế quản, viêm phổi.

Một điều cần lưu ý là viêm phế quản, viêm phổi cấp tính ở NCT do lạnh thân nhiệt thường không tăng cao như người trẻ tuổi nên dễ nhầm là bệnh nhẹ ít được người nhà quan tâm do đó dễ dẫn đến bệnh nặng cho đến khi vào bệnh viện thì bệnh đã rất nặng. Một số người có bệnh mạn tính như hen suyễn, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mạn tính thì vào mùa lạnh thì bệnh rất dễ tái phát dễ xuất hiện các biến chứng.

Yếu tố thuận lợi gây bệnh trước hết phải kể đến người nghiện hút thuốc lá, thuốc lào. Thuốc lá, thuốc lào khi hít vào đường hô hấp sẽ làm tổn thương các nhu mô phổi (tổ chức phổi) do đó làm tăng nguy cơ bội nhiễm. Môi trường ô nhiễm, nhiều bụi, khói của bếp than, bếp củi, bếp dầu, nhà ở chật chội, không thông thoáng cũng là những yếu tố thuận lợi làm cho NCT dễ mắc các bệnh đường hô hấp nhất là vào mùa lạnh.

Một số bệnh mạn tính kéo dài ở NCT như tăng huyết áp, đái tháo đượng, bệnh về rối loạn nội tiết cũng là những lý do làm tăng nguy cơ viêm đường hô hấp vào mùa lạnh ở NCT.

Phòng bệnh hô hấp vào mùa lạnh ở người cao tuổi như thế nào?

Cần mặc đủ ấm, ngủ ấm, tránh gió lùa. Khi nhiệt độ thay đổi đột ngột từ nóng chuyển sang lạnh hoặc lạnh vừa chuyển sang rét đậm thì NCT nên hạn chế ra khỏi nhà lúc sáng sớm. Có thể vẫn tập thể dục hoặc đi lại, vận động thân thể ở trong nhà không nên ra khỏi nhà lúc sáng sớm khi thời tiết còn lạnh nhất là lúc đang có gió mùa. Cần vệ sinh họng, miệng sạch sẽ thường xuyên hằng ngày như đánh răng đều đặn trước và sau khi ngủ dậy; súc họng bằng nước muối sinh lý (có thể tự pha chế). Những trường hợp dùng răng giả cần vệ sinh răng giả thật sạch sẽ không để bám dính nhiều cặn, thức ăn làm tăng nguy cơ bội nhiễm vi sinh vật cho đường hô hấp.

Cần bỏ thuốc lá, thuốc lào nhất là những NCT đã bị các bệnh mạn tính như viêm họng, viêm phế quản, hen suyễn, viêm xoang. Mùa lạnh, NCT cũng cần tắm, rửa hằng ngày hoặc một tuần vài lần.

Theo: SK&ĐS

Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi

Người cao tuổi nên dùng nhiều rau xanh và trái cây để hệ tiêu hóa hoạt động tốt Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi (NCT) có nhiều dạng khác nhau, trong đó dạng mạn tính hay gặp nhất, gây không ít phiền toái trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Các dạng rối loạn tiêu hóa

Khi tuổi đã cao, sức đề kháng đã yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công, trong đó các bệnh về đường tiêu hóa rất dễ gặp. Nhiều NCT than phiền mệt mỏi, không thèm ăn, không muốn ăn. Nhiều người bệnh cho biết, họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ăn như những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm đáng kể bài tiết dịch vị (nước bọt, dịch vị, dịch ruột, dịch mật…).

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm cho dễ nuốt nhưng cũng khó khắc phục được hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn. Lý do gây nghẹn ở NCT tuổi có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng và vì vậy sự co bóp của đường tiêu hóa cũng sẽ bị giảm đi, nhất là các cơ ở thực quản.

Do cơ của hệ tiêu hóa suy giảm chức năng và các men tiêu hóa của hệ đường ruột cũng bị suy giảm một cách đáng kể cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mơ nhiều đạm. Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn, khi có các loại thức ăn bổ dưỡng như bữa cơm có thịt, có cá hoặc rất ngại uống sữa.

NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm khi tuổi cao bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày – tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày).

Bệnh sa dạ dày ở NCT có thể xảy ra lúc tuổi đã cao mà lúc còn trai tráng hoặc trung niên không gặp phải, lý do cũng có thể là do các cơ của thành dạ dày bị yếu dần đi theo tuổi tác. Mặt khác do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể làm cho người bệnh lúc nào cũng thấy đầy bụng, chướng hơi, ăn không tiêu và chán ăn. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ).

Các bệnh rối loạn tiêu hóa và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là rối loạn tiêu hóa làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt lại làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên.

Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa, vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định làm cho việc tiêu hóa thức ăn tốt. Khi hệ thống gan mật không tốt, ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, viêm đường mật mạn tính hoặc sỏi mật.

Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu, đặc biệt táo bón ở NCT và cũng rất được quan tâm. Người ta tổng kết thấy NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây táo bón cho NCT nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ăn ít rau, quả hoặc không ăn, thêm vào đó lại uống ít nước. Càng ăn ít rau, uống ít nước kèm theo ít vận động, hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra và nếu để táo bón kéo dài thì gây nên nhiều biến chứng bất lợi cho NCT. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu. Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh mà rặn mạnh thì đau, chảy máu. Chính vì vậy, táo bón lại càng tăng lên, thỉnh thoảng lại xuất hiện cơn đau quặn bụng, nhất là đau bụng dưới mà hay gặp nhất là đau vùng hố chậu bên phải làm cho dễ nhầm với viêm ruột thừa. Lý do NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần nhất là tiểu đêm. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và nhất là có sa sút trí tuệ thì đó là điều bất lợi.

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa như thế nào?

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số bệnh gây rối loạn tiêu hóa ở NCT nhiều khi không cần dùng thuốc mà bệnh cũng có thể khỏi hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng bệnh rối loạn tiêu hóa cho NCT là có chế độ ăn hợp lý, kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái.

Một số NCT chán ăn, không thèm ăn, người nhà cần động viên và nếu cần bón giúp trong các bữa ăn, nhất là khi NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để làm sao làm cho họ không bỏ bữa. Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thì nên cho ăn thêm củ khoai lang luộc, ăn canh rau mồng tơi, rau đay và cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 2 lít trong một ngày đêm). Nếu bị bệnh về dạ dày thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi.

Trong các bệnh về rối loạn tiêu hóa ở NCT, vận động cơ thể là điều rất cần thiết. Vận động cơ thể ở NCT không có nghĩa là phải tập luyện các động tác mạnh mẽ, khó mà chỉ cần vận động nhẹ nhàng, ví dụ như xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ bắp hoặc đi bộ (nếu có thể). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân nhưng khi sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn hoặc có thể chơi thể thao như cầu lông, bơi… Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 – 3 lần tập. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như: đọc báo, xem vô tuyến, nghe đài… Nếu có câu lạc bộ cho NCT thì nên tham gia, nếu không có thể sinh hoạt theo nhóm.

Theo: SKĐS

Người già nhưng tinh thần học vẫn dồi dào

Bà Phạm Thị Tươi tham gia biểu diễn thể dục dưỡng sinh.

Năm nay đã 74 tuổi nhưng hàng ngày bà Phạm Thị Tươi (phường Quyết Thắng, TP.Biên Hòa) vẫn miệt mài bên những trang sách.

Thậm chí, ngay cả những ngày cuối tuần, khi các cháu nội ngoại về chơi, bà cũng không có thời gian để vui chơi cùng các cháu vì bận ôn bài! Bà quan niệm: “Sự học là suốt đời, càng lớn tuổi càng phải học. Học để trí óc không bị mụ mẫm”.

Bà Tươi sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề dạy học. Cha của bà cũng từng là nhà giáo trong những năm tham gia kháng chiến chống Pháp. Bà cho biết, bà đã có ảnh hưởng rất lớn từ cha. Hình ảnh về một người cha ban ngày thì đi dạy, tối về bên ngọn đèn dầu soạn giáo án, chấm bài cho học sinh, lúc rảnh thì làm đủ mọi việc để có tiền nuôi 10 người con được trưởng thành là tấm gương sáng để bà noi theo.

Theo lời cha dạy, bà đã luôn cố gắng học tập. Đến năm 1959, sau khi tốt nghiệp sư phạm, bà được phân công về Đồng Nai tham gia giảng dạy ở huyện Vĩnh Cửu. Chính những năm dạy học ở Vĩnh Cửu, bà đã tìm được người bạn đời – ông Lê Văn Hưng, cũng là một nhà giáo như bà…

Khi về nghỉ hưu, bà đã đăng ký học tiếng Hoa của Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh. Sau thời gian miệt mài học tập, năm 2003 bà đã lấy được bằng C tiếng Hoa. Không dừng lại ở đây, vừa qua bà tiếp tục dự thi để tham gia chương trình “Năng lực Hoa ngữ” của Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn TP.Hồ Chí Minh. “Nhiều bạn trẻ học chung lớp, thấy tôi đã già mà hàng ngày vẫn miệt mài đến lớp đã khuyên nên ở nhà nghỉ ngơi… Tôi đã trả lời rằng, thực ra việc học của tôi không phải vì thành tích hay bằng cấp, điều quan trọng là muốn nêu gương sáng về sự học cho con cháu” – bà Tươi cho biết. Thực tế, noi gương học tập của bà, đến nay cả 6 người con của bà và các con dâu, rể đều có trình độ đại học…

Nhưng không chỉ chú tâm vào việc học tập, bà Phạm Thị Tươi còn tham gia công tác từ thiện. Hàng tháng bà đều trích một khoản tiền lương hưu của mình, cùng với tổ chức Hội Từ thiện tham gia nấu nồi cháo tình thương dành cho bệnh nhân nghèo ở Bệnh viện đa khoa Đồng Nai. Ngoài ra, bà còn là hội viên tích cực của Hội Người cao tuổi phường Quyết Thắng: tham gia các phong trào thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ của phường.

Theo:123suckhoe