Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai biến. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tai biến. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Những yếu tố làm suy giảm tuổi thọ

Tổ chức Y tế thế giới đã xác định 25 yếu tố nguy cơ gây bệnh, tàn phế, tử vong đối với người cao tuổi. Trong đó, có 7 nguy cơ hàng đầu đối với sức khỏe mà người cao tuổi có thể phòng ngừa được.

Đó là các yếu tố nguy cơ sau:

Hút thuốc lá: Là yếu tố nguy hại nhất làm tăng nguy cơ ung thư phổi, gây ảnh hưởng xấu đến mọi bộ phận, đẩy nhanh tốc độ giảm khối lượng xương và chức năng hô hấp. Nguy cơ mắc các bệnh mạn tính của người cao tuổi có liên quan tỷ lệ thuận với thời gian và mức độ hút thuốc.

Ít hoạt động thể lực: Tham gia rèn luyện thể lực thường xuyên, điều độ có thể trì hoãn được sự suy giảm các chức năng trong cơ thể, làm giảm nguy cơ khởi phát các bệnh mạn tính ở người cao tuổi. Vận động không phải chỉ cần thiết cho cơ bắp, xương, khớp mà còn tác dụng đến toàn cơ thể. Cơ thể được rèn luyện đều đặn sẽ hoạt động hài hòa, cho người cao tuổi cảm giác dễ chịu, phấn khởi, yêu đời, trí óc sáng suốt và lao động có năng suất.

Dinh dưỡng không hợp lý: Chế độ ăn chất bột, chất béo làm giảm nguy cơ béo phì, các bệnh mạn tính và tàn phế ở tuổi già. Nhu cầu năng lượng của người 60 tuổi giảm đi 20%, ở người trên 70 tuổi giảm đi 30% so với người 25 tuổi. Cho nên, mỗi bữa trước đây ăn 3-4 bát cơm, nay chỉ nên ăn 1-2 bát. Chú ý theo dõi cân nặng hằng tháng. Cân nặng người cao tuổi không nên vượt quá số cm của chiều cao trừ đi 105. Ví dụ, người cao tuổi cao 165 cm, cân nặng không nên vượt quá 60 kg. Người cao tuổi không nên sử dụng các chất kích thích như rượu, bia.

Tai biến do thuốc:
Người cao tuổi thường có một hoặc nhiều bệnh mạn tính, cho nên họ hay sử dụng thuốc chữa bệnh. Đôi khi thuốc lại được kê quá nhiều cho người già.

Không tuân thủ chế độ chăm sóc, điều trị: Sự tuân thủ điều trị bao gồm sử dụng thuốc theo hướng dẫn của thầy thuốc và duy trì chế độ ăn lành mạnh, tập luyện thể dục, không hút thuốc… Việc tuân thủ kém ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả điều trị, đến chất lượng sống. Lúc đó, những tiến bộ của y dược học cũng không làm gì được để giảm gánh nặng của bệnh mãn tính.

Nước không sạch và môi trường vệ sinh kém: Nếu triển khai rộng khắp toàn cầu việc cung cấp đủ nước và điều kiện vệ sinh cho bệnh nhân, ta sẽ tránh được 1,8 tỷ trường hợp tử vong do tiêu chảy (giảm 17% so với hiện nay). Nếu đạt được việc cung cấp nước máy, sẽ tránh được 7,6 tỷ trường hợp tiêu chảy hằng năm.

Trầm cảm và sa sút trí tuệ: Nhìn chung trong cuộc đời của mình, có từ 15 đến 40% người cao tuổi từng có một thời kỳ trầm cảm rõ rệt. Mặc dù tỷ lệ người cao tuổi mắc “hội chứng chán nản cao độ” này khá cao, ước tính khoảng 20-30%, nhưng rất ít bệnh nhân được quan tâm đầy đủ. Hơn 90% ca trầm cảm và sa sút trí tuệ không được phát hiện và ngay cả khi đã biết cũng không được điều trị đúng.

Nguồn: SK&ĐS

Tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi

Do hệ miễn dịch suy yếu nên khả năng gặp tác dụng phụ của người cao tuổi khi dùng thuốc thường cao hơn và mức độ trầm trọng hơn. Những tác dụng không mong muốn đó nhiều khi có biểu hiện lâm sàng dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn do bệnh gây ra.

Có nhiều nguyên nhân làm tăng tỷ lệ tai biến do thuốc ở người cao tuổi. Trước hết, người già hay đau ốm nên thường dùng nhiều thuốc hơn so với người trẻ. Sự lo lắng về sức khỏe khiến họ dễ tự ý dùng thêm thuốc, ngay cả khi chưa có bệnh với mục đích “dự phòng”. Người cao tuổi cũng hay nhầm lẫn trong sử dụng thuốc, đặc biệt về liều lượng và số lần.

Các bệnh mạn tính ở họ đòi hỏi sử dụng thuốc có tác dụng mạnh, khoảng cách an toàn hẹp. Mặt khác, ở tuổi già, quá trình dược động học của thuốc cũng thay đổi (tức ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, bài tiết để tạo nên tác dụng). Vì thế, họ dễ gặp những phản ứng bất ngờ và không có lợi của thuốc.

Khi có tác dụng phụ của thuốc, người cao tuổi thường gặp các biểu hiện như:

Buồn ngủ: Nói chung, các thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương đều gây ngủ gà ngủ gật. Không chỉ thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepin mà cả thuốc chống dị ứng cũng có thể gây buồn ngủ (thuốc trị cảm, sổ mũi thường chứa chất này. Các thuốc chống trầm cảm, trị tăng huyết áp, đái tháo đường dạng uống… cũng vậy.

Rối loạn giấc ngủ: Thuốc giãn phế quản trị hen suyễn gây khó ngủ, thuốc lợi tiểu gây mất ngủ do tiểu tiện đêm, thuốc trị tăng huyết áp gây ác mộng; thuốc corticoid dùng lâu ngày có thể gây chứng ngừng thở khi ngủ. Thậm chí thuốc an thần loại benzodiazepin được dùng để trị khó ngủ cũng có thể gây tác dụng phụ là không ngủ được sâu.

Rối loạn nhận thức: Thuốc hướng thần, chống co giật, co thắt, trị tăng huyết áp, suy tim và một số thuốc kháng sinh gây lú lẫn, mất trí nhớ. Ở người cao tuổi, rối loạn này rất dễ nhầm lẫn với hiện tượng sa sút trí tuệ do lão suy.

Táo bón: Có khá nhiều thuốc gây táo bón ở mọi lứa tuổi như thuốc chống co thắt, an thần, chống trầm cảm…

Rối loạn tiểu tiện: Các thuốc chống trầm cảm, chống co thắt, dị ứng, an thần kinh, thuốc trị bệnh Parkinson… có thể hoặc gây khó tiểu hoặc tiểu tiện không kiểm soát (không nín tiểu theo ý muốn được).

Té ngã: Thuốc trị tăng huyết áp dễ khiến người cao tuổi bị hạ huyết áp tư thế đứng. Thuốc an thần nhóm benzodiazin, thuốc chống trầm cảm làm rối loạn thăng bằng, làm cho người cao tuổi dễ bị ngã. Người cao tuổi thường bị loãng xương (cả nam và nữ) nên sẽ rất nguy hiểm nếu bị ngã.

Rối loạn hoạt động tình dục: Nhiều loại thuốc ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của người cao tuổi. Đó là các thuốc thuốc chống trầm cảm, thuốc trị rối loạn tâm thần, an thần, tăng huyết áp… Chúng có thể làm giảm ham muốn, gây “bất lực” ở nam giới.

Để hạn chế các tác dụng phụ khi dùng thuốc, người cao tuổi cần lưu ý:

- Không tự ý sử dụng thuốc bừa bãi, tốt nhất là dùng thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ và hướng dẫn của dược sĩ.

- Khi đang dùng thuốc, nếu thấy có những rối loạn, những phản ứng bất thường, không nên tự ý bỏ hoặc thay thế thuốc khác mà nên trở lại bác sĩ đã kê đơn kể rõ sự việc để có hướng xử trí.

- Đối với các tác dụng phụ thuộc loại gây khó chịu, có thể áp dụng các biện pháp điều chỉnh sinh hoạt, ăn uống để khắc phục như: không làm việc đòi hỏi sự tỉnh táo nếu dùng thuốc gây buồn ngủ; ăn nhiều rau cải, uống nhiều nước nếu thuốc gây táo bón. Có thể tham khảo ý kiến với bác sĩ, dược sĩ về các biện pháp khắc phục này.

nguồn: SK&ĐS

Chứng sa sút trí tuệ ở người già

Dù do nguyên nhân nào thì người mắc bệnh này cũng sẽ trải qua sự suy giảm không thay đổi được cả về chức năng và trí tuệ, kéo dài từ 2 đến 10 năm. Cuối cùng, bệnh nhân trở thành người lệ thuộc hoàn toàn và thường tử vong do các bệnh nhiễm trùng.

Sa sút trí tuệ là sự suy giảm chức năng trí tuệ và những lĩnh vực khác về nhận thức, dẫn đến giảm khả năng hoạt động sống hàng ngày. Đây là một trong những rối loạn ảnh hưởng trầm trọng nhất đến người cao tuổi. Đặc trưng của bệnh là sự suy giảm nhận thức xảy ra trong tình trạng ý thức vẫn bình thường. Đó không phải là loại rối loạn nhận thức có thể hồi phục như mê sảng hay trầm cảm.

Tần suất mắc bệnh sa sút trí tuệ tăng nhanh theo tuổi. Ở tuổi sau 60, tỷ lệ này tăng gấp đôi mỗi 5 năm. Ở tuổi 60-64, chỉ có 1% bị sa sút trí tuệ, nhưng đến tuổi trên 85 thì tỷ lệ này là 30-50%.

Cần phân biệt sa sút trí tuệ và quên lành tính do tuổi. Quên lành tính do tuổi là tình trạng giảm trí nhớ do tuổi cao, là kết quả của tiến trình hoạt động thần kinh chậm dần do tuổi tác. Khởi đầu của quên lành tính là tình trạng khó nhớ thông tin mới và chậm nhớ lại thông tin cũ do suy giảm khả năng tập trung và chú ý. Tuy nhiên, khi cho bệnh nhân thời gian và có biện pháp động viên thì việc sinh hoạt hằng ngày của họ vẫn bình thường

Biểu hiện thường gặp nhất của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là giảm trí nhớ gần. Bệnh nhân có thể quên điều mình vừa nói và lặp đi lặp lại câu này nhiều lần trong vài phút. Họ thường xuyên quên nơi để những vật dụng cá nhân. Tình trạng quên kéo dài và dẫn đến tâm lý hoang tưởng là bị mất trộm.

Trong giai đoạn sớm này, bệnh nhân cũng gặp khó khăn khi tìm từ diễn đạt ý mình muốn nói hoặc giải thích một điều gì đó. Họ thường phải nói vòng vo, chẳng hạn như không nhớ từ cà vạt nên phải mô tả nó là một vật quấn quanh cổ áo. Ngoài ra, bệnh nhân cũng có thể quên hay khó khăn trong việc sử dụng hoặc làm những công việc hằng ngày như lái xe, giữ tiền, nấu ăn…

Những biểu hiện khác của sa sút trí tuệ giai đoạn sớm là thay đổi cá tính, rối loạn cảm xúc và giảm sự phán đoán. Người bệnh có những hành động không giống như họ đã từng làm, chẳng hạn như một người keo kiệt đột nhiên tặng cho hội từ thiện vài chục triệu đồng. Những thay đổi tính khí khác như trầm cảm hay hoang tưởng cũng thường xảy ra. Cần lưu ý trong giai đoạn sớm này, hoạt động xã hội của người sa sút trí tuệ vẫn không bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, họ thường có những thay đổi về tính khí như cáu gắt, tàn nhẫn, kích động…

Sự ổn định trí tuệ của bệnh nhân cũng khá mỏng manh. Trong những tình huống khó khăn hay bức xúc thì sự suy giảm trí tuệ có thể biểu lộ rõ rệt, chẳng hạn như khi phải đi một quãng đường xa để thăm con cháu thì họ có thể đi lạc hay mất định hướng, đi vòng vo.

Ở mức độ trung bình, bệnh nhân bị giảm khả năng thực hiện các công việc thường ngày như tắm rửa, mặc đồ, vệ sinh cá nhân. Họ không thể nhớ được thông tin mới, mất định hướng về không gian và thời gia, có thể quên những sự vật xung quanh mình như quên nhà vệ sinh, phòng ngủ ở đâu. Người bệnh cũng dễ bị ngã hoặc có tai biến do sự nhầm lẫn và giảm phán đoán. Những rối loạn hành vi có từ giai đoạn sớm vẫn kéo dài đến giai đoạn trung bình và nặng. Hoang tưởng và ảo giác xuất hiện ở khoảng 25% bệnh nhân. Ví dụ: Khi bệnh nhân mất khả năng nhận ra chính bản thân mình trong gương thì họ lại nghi ngờ là có người lạ vào nhà. Sự lệch lạc này có thể ngày càng nặng và kéo dài. Bệnh nhân cũng có những biểu hiện rối loạn hành vi và trở nên kích động.

Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân không thể thực hiện những sinh hoạt hàng ngày như ăn uống, vệ sinh cá nhân, đi lại và lệ thuộc hoàn toàn vào người thân. Trí nhớ ngắn hạn, dài hạn bị mất hoàn toàn. Bệnh nhân không nhận biết được kể cả những người rất thân của mình, mất đi những khả năng vận động phản xạ khác như nuốt (nên dễ bị rối loạn dinh dưỡng và sặc thức ăn). Kết hợp với tình trạng kém dinh dưỡng và ít vận động, nằm liệt giường, bệnh nhân có thể bị loét da.

Ở giai đoạn muộn của sa sút trí tuệ, bệnh nhân sẽ bị tăng tần suất các tai biến; chẳng hạn như biến chứng của việc mất nước, kém dinh dưỡng, viêm phổi hít, loét da. Sự lệ thuộc hoàn toàn vào người khác có khi đưa bệnh nhân đến tình huống phải vào nhà dưỡng lão. Nếu tiếp tục ở tại nhà, người chăm sóc và bệnh nhân phải được trang bị những thiết bị cần thiết khác.

Khi nghi ngờ người thân bị sa sút trí tuệ, bạn hãy đưa họ đến khám tại các phòng khám chuyên khoa tâm thần, thần kinh hoặc lão khoa.

Người già cũng cần khám sức khỏe định kỳ


[123Suckhoe] – Theo kết quả một nghiên cứu vừa được bệnh viện Nội tiết Trung ương công bố, hiện có khoảng 5 triệu người Việt Nam mắc bệnh tiểu đường, chiếm khoảng 6% dân số.

Nghiên cứu cho thấy, Việt Nam là quốc gia có tỉ lệ bệnh tiểu đường chỉ đứng thứ 10 thế giới và là nước có bệnh tiểu đường phát triển nhanh nhất mà đa số bắt gặp ở người trung niên và cao tuổi. Đây là criminal số đáng báo động về tình trạng sức khỏe của người trung niên và cao tuổi Việt Nam.Tuy nhiên lại rất ít người ý thức được rằng ở độ tuổi này cần phải đặc biệt quan tâm đến khám sức khỏe định kỳ để sớm phát hiện ra bệnh

Chủ quan với khám sức khỏe định kỳ

Chủ quan, tiếc tiền không dám đi khám bệnh vì sợ phát hiện ra bệnh là tâm lý chung của người cao tuổi. Tuy nhiên chính tâm lý ấy càng làm cho căn bệnh trở nên trầm trọng hơn đối với những người già có bệnh mà không đi chữa trị. Trường hợp của ông Thành 65 tuổi ( Lương Yên- Hà Nội) là một ví dụ. Thời gian trước ông grain bị đau đầu kèm theo hoa mắt nhưng với suy nghĩ đơn giản người già bị như vậy là bình thường nên cả ông và gia đình chủ quan không đi khám sức khỏe. Chỉ đến khi ông có dấu hiệu đau đầu dữ dội, kèm theo nôn mửa, mất khả năng thăng bằng, gia đình đưa ông đến bệnh viện Bạch Mai mới biết ông bị tai biến mạch máu não. Bây giờ ông đã qua cơn nguy kịch nhưng theo Bác sĩ điều trị thì sau này thì ông rất khó có thể đi lại được nữa.

Trường hợp chị Hoa 46 tuổi( Vĩnh Phúc ) cũng tương tự . Chị được chẩn đoán ung thư cổ tử cung giai đoạn tiến xa, di căn thận trái. Ổ bệnh không còn nằm khu trú, nên những can thiệp bằng xạ trị và phẫu trị đều vô nghĩa. Trước đó, chị chỉ nghe nói về ung thư cổ tử cung chứ cũng không tìm hiểu rõ, không đi khám phụ khoa . “Sau khi mãn kinh 7-8 tháng,tôi thấy ra huyết, dù ít nhưng dai dẳng nên mới đi khám. Ai ngờ bị ung thư vì biểu hiện chỉ là ngồi lâu thấy thốn thốn ở bụng dưới..”, người phụ nữ buồn rầu kể lại. Khi chị nhập viện, có khái niệm về tình trạng của mình thì đã quá muộn.

3 Bệnh tuổi già có thể lường trước

Để tránh các trường hợp đáng tiếc xảy ra, những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi cần đi khám sức khỏe định để theo dõi tình trạng sức khỏe xem có bất thường gì xảy ra không. Đây là độ tuổi cần được đặc biệt quan tâm và chăm sóc về sức khỏe. Bởi ở độ tuổi này sức đề kháng và khả năng hấp thu dinh dưỡng đã giảm nhiều, các chức năng của cơ thể cũng không còn hoạt động tốt như trước. Do đó người ở độ tuổi này rất dễ mắc bệnh mà thường gặp là: mỡ máu, tiểu đường, tim mạch, loãng xương …nguy hiểm hơn là các bệnh ác tính như ung thư tử cung, ung thư dạ dày…..,

Các chuyên gia về sức khỏe khuyên rằng với những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi nên khám sức khỏe tổng quát định kỳ thường xuyên ít nhất là 6 tháng 1 lần cho dù có bệnh grain không. Việc làm này không chỉ là để theo dõi tình hình sức khỏe hiện tại mà còn sớm phát hiện bệnh từ đó có phương pháp điều trị kịp thời giúp người bệnh vừa tiết kiệm chi phí vừa phòng chống bệnh tốt hơn .Đối với những trường hợp có bệnh, đang điều trị và theo dõi thì cần đi khám định kỳ theo chỉ định của bác sĩ chuyên khoa để có hướng điều trị và xử lý kịp thời khi bệnh có chiều hướng xấu.

Bài thuốc bổ cho người già


[123Suckhoe] – Người già yếu thuộc phạm trù chứng “hư lao” của y học cổ truyền. Chứng “hư lao” thì lấy nguyên khí hao tổn làm đặc trưng và có liên quan chặt chẽ đến “tiên thiên”[1]mạnh grain yếu và nhất là “hậu thiên”[2] có được đầy đủ grain không. Để chữa chứng hư lao thì phải dùng phép bổ.

Người bị hư hao hầu như bao gồm lục phủ, ngũ tạng cùng toàn thân suy nhược và được quy nạp thành 4 loại là: Khí hư, huyết hư, dưỡng hư, âm hư với các triệu chứng cụ thể của từng loại.

Khí hư:

Sắc mặt vàng úa, người mệt mỏi lúc rét, lúc nóng, tự ra mồ hôi, đoản hơi, suyễn thở, mạch nhuyễn nhược, nếu khí hư đến cực độ (tức là dương hư) thì mạch thường chuyển sang trầm tế. Nếu khí hư dùng bài thuốc “Bổ trung ích khí” gồm có các vị thuốc: Hoàng kỳ 20g, chích thảo 4g, thăng matriarch 6g, đảng sâm 16g, đương quy 12g, sài hồ 10g, bạch truật 12g, trần bì 6g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài thuốc này có tác dụng thăng dương ích khí, điều bổ tỳ vị. Tốt với người khí hư, cơ thể suy nhược, đặc biệt những người mắc bệnh về đường tiêu hoá như viêm dạ dày, viêm ruột mãn tính.

Huyết hư:

Sắc mặt trắng nhợt không sáng, mắt hoa, đầu choáng, kinh hãi, hồi hộp, da thịt khô ráp. Nếu là phụ nữ có chứng kinh nguyệt khô sáp mà ít. Nếu bị huyết hư thì phải bổ huyết, thường phối hợp với bổ khí để tăng cường tác dụng và dùng bài thuốc “Quy tỳ thang” với các vị thuốc: Nhân sâm 12g, phục thần 12g, táo nhân 16g, viễn chí 6g, đại táo 3 quả, hoàng kỳ 12g, mộc hương 4g, sinh khương 3 lát, bạch truật 12g, prolonged nhãn 12g, đương quy 12g, chích thảo 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc này có tác dụng kiện tỳ, dưỡng tâm, ích khí bổ huyết, chữa chứng khí hư sinh huyết hư, trị các bệnh suy nhược có hội chứng bệnh lý tâm tỳ lượng hư, khí huyết bất túc sinh ra các triệu chứng mất ngủ, chán ăn, grain quên, tim hồi hộp, cơ thể mệt mỏi, suy nhược cơ thể, suy nhược thần kinh.

Khí huyết lưỡng hư:

Người mệt mỏi, gầy yếu, chán ăn, ăn không tiêu, mất ngủ, da mặt nhợt nhạt, thở đoản hơi, chân tay bủn rủn sức yếu… trong trường hợp này dùng bài “Thập toàn đại bổ” với các vị thuốc: Đương quy 12g, bạch thược 12g, bạch linh 12g, xuyên khung 8g, táo 3 quả, đảng sâm 12g, bạch truật 12g, thục địa 12g, hoàng kỳ 16g, nhục quế 6g. Cho vào 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày.

Bài thuốc có tác dụng bổ khí, bổ huyết chữa khí huyết lưỡng hư sau khi mắc bệnh lâu ngày, cơ thể yếu mệt, kém ăn, mất ngủ, nam giới tay chây tê mỏi, phụ nữ kinh nguyệt rối loạn.

Âm hư:

Có khi gò má đỏ, nóng nảy, grain giận dữ, mất ngủ, kém ăn, ho mất tiếng, nóng có cơ mồ hôi trộm, lưỡi ráo hang khô, đại tiện táo kết, miệng lở, nam thì di tinh, nữ thì bế kinh. Dùng bài thuốc “Lục vị địa hoàng hoàn” với các vị thuốc: Thục địa 20g, sơn thù 16g, trạch tả 12g, hoài sơn 16g, phục linh 12g, đan bì 12g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng tư bổ can thận dùng điều trị các bệnh mãn tính như suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, lao phổi, lao then, tiểu đường, viêm thận, tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, đề phòng tai biến mạch máu não.

Dương hư:

Sắc mặt xanh bột, đầu choáng, mắt hoa, mỏi mệt, ít hơi, ngại nói, ăn ít, đại tiện sền sệt, sợ lạnh, tay chân thường không ấm, dương suy, đoản khí, lưng gối mỏi, tiểu tiện nhiều đêm. Dùng bài thuốc “Thận khí hoàn” với các vị thuốc: Địa hoàng 24g, sơn thù 16g, bạch linh 12g, quế chi 4g, sơn dược 16g, trạch tả 12g, đan bì 12g, phụ tử chế 4g. Cho 750ml nước sắc kỹ còn 250ml chia uống 3 lần trong ngày. Bài thuốc có tác dụng ôn bổ thận dương, chữa các bệnh mãn tính, như viêm thận mạn, suy nhược thần kinh, suy nhược cơ thể, bệnh béo phì, liệt dương, tiêu đờm, người già suy nhược có hội chứng thận dương hư.

Thuốc bổ dưỡng:

Theo y học cổ truyền, thuốc bổ dưỡng là những loại thuốc dùng chữa chứng dương hư. Chứng dương hư thường gặp trên lâm sàng là thận dương hư, tỳ dương hư và tâm dương hư. Nhưng do thận vừa là gốc của Tiên thiên (tiên thiên chi bản) vừa là căn bản của sự sống (sinh mệnh chi căn bản) toàn bộ dương khí trong ngoài (có thể nói dương khí là năng lượng hoạt động của sinh mệnh) là do thận cung cấp và duy trì (thận chủ mệnh môn hoả), cho nên thuốc bổ dưỡng chủ yếu là bổ thận dương. Thuốc bổ dưỡng có những tác dụng:

- Điều chỉnh chức năng tuyến vỏ thượng thận

- Điều chỉnh chuyển hoá năng lượng, tăng cường sản nhiệt.

- Làm khoẻ cơ thể, thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển.

- Tăng cường chức năng sinh dục.

- Nâng cao sức đề kháng của cơ thể.

Xin giới thiệu bài thuốc “Đại bổ thận tráng dương” dùng cho người cao tuổi (nam) dương hư, thận suy, yếu mệt, liệt dương, di tinh kém ăn, mất ngủ gồm các vị: Nhân sâm 12g, hoàng kỳ 16g, đỗ trọng 16g, nhục thung dung 8g, thỏ ty tử 12g, xa sàng tử 12g, phúc bồn tử 12g, đương quy 12g, bạch truật 12g, thục địa 16g, ba kích 12g, toả dương 10g, dâm dương hoắc 12g, lộc nhung 12g, kỷ tử 12g, đại táo 5 quả, prolonged nhãn 10g, cam thảo 6g, xuyên khung 8g, hà thủ ô đỏ 12g. Tất cả cho vào 750ml nước vào sắc kỹ còn 250ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống 7 thang liền thì cơ thể sẽ khoẻ, ăn ngon, ngủ yên, dai sức hết mệt mỏi di tinh, liệt dương.

Cùng bài thuốc trên với số lượng gấp 5 lần mỗi vị cho vào 5 lít rượu, ngâm trong 3 tuần lễ, chắt ra, cho thêm 500ml mật ong loại tốt, mỗi ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 20 – 30ml.

Người già và sức khỏe răng miệng


[123Suckhoe] – Đánh răng ngày hai lần với kem đánh răng có fluor, xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa hàng ngày, khám định kỳ ở các phòng khám răng hàm mặt để được kiểm tra và làm sạch răng. Đó là việc cần thiết thông thường để giữ sức khỏe răng miệng đối với người cao tuổi.

Tất nhiên là nếu giữ răng kỹ, vệ sinh răng miệng tốt, bạn sẽ giữ răng được lâu hơn. Tuy nhiên với người cao tuổi, cho dù đánh răng và xỉa răng bằng chỉ tơ nha khoa kỹ lưỡng, bạn vẫn có thể nhận thấy miệng mình trở nên khô hơn, nướu như bị teo tụt xuống.

Răng bạn dù được chăm sóc tốt vẫn có thể bị hơi vàng đi, giòn và dễ vỡ. Nhiều người cao tuổi có thể giữ răng được đến hết đời. Tuy nhiên, vì nước miếng trở nên ít đi khó rửa bớt vi khuẩn, răng và nướu trở nên dễ bị sâu và nhiễm trùng. Nếu không giữ được răng, nên dùng răng giả thay thế để có thể ăn uống đầy đủ.

Nhiều người bị chứng khô miệng (xerostomia), có thể dẫn đến sâu răng, nhiễm trùng… Khô miệng cũng có thể làm cho bạn khó nói chuyện, khó nuốt, khó ăn… Ung thư miệng cũng có thể xảy ra ở người cao tuổi, vì vậy nên định kỳ kiểm tra ở nha sĩ để có thể phát hiện sớm.

Sâu răng, làm mủ chân răng rất thường gặp ở người lớn tuổi. Sự nhạy cảm còn làm cho vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn. Với tuổi tác, nướu răng teo lại làm lộ ra phần chân răng không có group răng bảo vệ. Những vùng răng này có thể rất nhạy cảm, dễ bị đau khi bạn ăn uống thức ăn thức uống quá nóng grain quá lạnh, hoặc quá chua grain quá ngọt.

Nếu gặp tình trạng này thường xuyên, bạn có thể tìm dùng loại kem đánh răng “anti-sensitivity toothpaste” hoặc xin nha sĩ thuốc bôi. Nếu vẫn không hết, bạn phải tìm đến nha sĩ vì tình trạng này có thể là dấu hiệu của một vấn đề nghiêm trọng hơn – một lỗ sâu grain một vết rạn nứt gì đó ở răng.

Các bệnh thường gặp ở tuổi già như tiểu đường, tim mạch, ung thư… cũng có ảnh hưởng đến răng miệng. Vì vậy bạn cần cho các nha sĩ biết những bệnh bạn đang mắc phải để họ có thể chỉ dẫn bạn chính xác hơn.

Người lớn tuổi thường cần đến răng giả. Trong trường hợp này, bạn cần chăm sóc chúng thật đặc biệt. Nên theo đúng các hướng dẫn của thầy thuốc. Người mang răng giả lâu dài cần được kiểm tra hàng năm.

Các bệnh về nướu thường có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng đặc biệt nghiêm trọng ở tuổi trên 40. Có một số nguyên nhân có thể làm cho bệnh trở nên trầm trọng hơn như: dinh dưỡng kém, bị các bệnh như tiểu đường, tim mạch và ung thư. Những yếu tố như hút thuốc, stress, một số loại thuốc… cũng có thể ảnh hưởng đến tình trạng của nướu. Các tổn thương nướu có thể chữa được, vì vậy bạn cần quan tâm phát hiện sớm. Tốt nhất là nên giữ vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng.

Tăng cường sức khỏe cho người già

Các thực phẩm dinh dưỡng cho người cao tuổi

[123Suckhoe] – Tuổi già đoạn cuối của cuộc đời, người già grain có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật. Làm thế nào để người già sống vui, sống khỏe mỗi ngày?

Khi về già, chức năng hoạt động của hệ tiêu hóa kém hiệu quả, cường độ trao đổi chất trong cơ thể người cao tuổi cũng diễn ra chậm. Tuổi già grain thường xuyên mắc các bệnh như cao huyết áp, loãng xương, tai biến mạch máu não.

Vì thế, việc bổ sung một chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nếu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hợp lý cũng là bí quyết sống vui – sống khỏe cho người cao tuổi.

Với những thay đổi của cơ thể trước thời gian người già cần có những điều chỉnh về chế độ ăn uống để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng. Theo các chuyên gia bác sĩ khuyên rằng điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đầy đủ lượng vitamin và khoáng chất cần thiết. Người cao tuổi, nhất là những người bị bệnh tim mạch không nên ăn quá nhiều chất béo như thịt, trứng, bơ…mà cần ăn nhiều các loại củ quả và đặc biệt là rau xanh để đảm bảo sức khỏe và tránh béo phì và nguy cơ đột qụy.

Cùng với đó, sữa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng không những giúp cung cấp lượng canxi cần thiết, giàu đạm quý để nuôi hệ xương chắc khỏe mà còn bổ sung các vi dưỡng chất bị thiếu hụt một cách an toàn. Đây là một thức uống không thể thiếu cho người cao tuổi.

Bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý. Người già không nên ngồi nhiều một chỗ như thế không tốt cho sức khỏe. Mà thay vào đó là nên thường xuyên vận động nhẹ, hoặc tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh dành cho người cao tuổi giúp thư giãn gân cốt, cho xương chắc khỏe, và giúp cho máu lưu thông tuần hoàn.

Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh hơn

Ông Phạm Việt 73 tuổi (G3- Thành Công- Ba Đình- Hà Nội) chia sẻ, ông bị mắc căn biến mạch máu não cách đây gần 2 năm đi lại rất khó khăn nhưng nhờ thói quen đi bộ nên bây giờ đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn hơn. ông cũng cho biết mỗi một ngày bỏ ra một tiếng cho việc đi bộ vào cả buổi sáng và buổi chiều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn và đặc biệt là tư tưởng thoải mái hơn rất nhiều.

Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải kết hợp đúng cách và bản thân mỗi người già phải tự biết tạo lập cho mình một thói quen tốt, lành mạnh và tích cực để mỗi ngày khi về với tuổi già là một ngày sống vui, sống khỏe và sống có ích.

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Vấn đề sử dụng thuốc với người cao tuổi

Người cao tuổi do giảm nhu động ruột, giảm tiết dịch nên hay bị táo bón. Do vậy, tỷ lệ người cao tuổi dùng thuốc nhuận tràng cũng nhiều.

Khi dùng một thuốc nào đó cùng với thuốc nhuận tràng rất có thể thuốc đó sẽ bị tống ra ngoài sớm (do thuốc nhuận tràng làm tăng nhu động ruột) do đó làm giảm hấp thu, tác dụng của thuốc dùng đồng thời với thuốcnhuận tràng. Khi bán thuốc cho người cao tuổi nên hỏi xem họ có đang dùng thuốc nhuận tràng hay không (có thể tự dùng hoặc bác sĩ kê dùng).

Do có sự suy giảm về trí nhớ nên khi dùng thuốc người cao tuổi có thể quên tên thuốc, liều dùng hoặc nhầm lẫn thuốc, liều dùng… và rất dễ gặp tai biến do sự nhầm lẫn này gây nên.

Khi về già tình trạng đau xương khớp, loãng xương là không tránh khỏi. Tình trạng này khiến người cao tuổi ngạivận động nên uống thuốc ở tư thế nằm làm cho thuốc không xuống tới dạ dày kết hợp với lượng nước uống ít nên thuốc đọng lại ở thực quản (gây loét với một số thuốc), gây sỏi thận (như sulffamid) nếu uống ít nước…

Theo: SKĐS

Điều cần biết trong sinh hoạt hằng ngày của người cao tuổi

Người cao tuổi không nên kê gối cao khi nằm ngủ. Để hạn chế thiếu máu não đột ngột, đang nằm, nếu muốn ngồi dậy thì không nên nhấc đầu một cách đột ngột mà phải xoay đầu và nghiêng người lại, chống tay dậy từ từ. Việc nằm đọc sách lâu cũng có hại cho mắt, gây mỏi người, mỏi tay, máu dồn xuống thấp và gây bệnh trĩ .

Buổi sáng ngủ dậy, nếu grain bị đau lưng, đau khớp gối, khớp các ngón tay, hãy vận động một lúc sẽ thấy dễ chịu. Tuy nhiên, cần đi khám để phòng thoái hóa khớp.

Các thuốc chống đau (Cortancyl, Indometacin, Alaxan…) thường có hại cho dạ dày; vì vậy, luyện tập là biện pháp điều trị chủ yếu. Hãy khởi động các khớp trước khi bỏ chân xuống giường, vuốt dọc cơ thắt lưng làm dịu cơn đau cột sống, bóp chặt đầu gối rồi mới cử động. Tốt nhất là dùng bao gối (của các cầu thủ đá bóng) khi đi lại, lên xuống thang gác nếu có hiện tượng thoái hóa đầu gối.

Khi ngủ dậy, nếu thấy cảm giác khác thường như tê nửa người, bại một bên chân hoặc tay, cần nằm nghỉ và mời bác sĩ đến khám, không cạo gió, không cố tập thể dục. Đây có thể là một tai biến mạch máu não, nhất là khi có tăng huyết áp, xơ vữa động mạch.

Nằm, ngồi và một số hoạt động khác

Nên tránh chỗ ngồi có gió lùa. Nếu ngồi quạt thì không để gió thổi thẳng vào gáy và đỉnh đầu. Nên dùng quạt harbour để thay đổi hướng gió, không để gió luôn thổi thẳng vào người. Khi mở cửa, chú ý đứng nép mình sau cánh cửa để gió không lùa thẳng vào mặt, dễ bị cảm. Khi ngồi ở nơi có gió mạnh (ban công, bên hồ) nên ngồi ở vị trí để gió thổi vào lưng.

Khi lên xuống cầu thang, nếu tức ngực, khó thở khác với bình thường, nên đi khám bệnh. Nếu nhói đau bên ngực trái và khó thở, cần chú ý đến chứng thiếu máu cơ tim.

Để giữ cột sống, không nên với tay lấy một vật gì quá tầm, không bê vật quá nặng. Khi mang xách, trọng lượng nên cân đối cả hai bên. Không cúi lom khom khi quét nhà, quét sân, kể cả lúc bê một vật gì đó. Giữ cho lưng thẳng trong mọi trường hợp có thể. Nên kê một gối êm, cao vừa phải vào đoạn cột sống thắt lưng khi nằm để chữa tật còng lưng.

Đối với người cao tuổi, hoạt động thể lực và trí lực rất cần thiết nhưng phải thực hiện đều đặn và thường xuyên, tránh tình trạng bữa đực, bữa cái. Não có hoạt động thì lượng máu lên nuôi não cũng nhiều hơn; nếu không, não dễ bị teo nhỏ. Tay chân không hoạt động, cơ bắp sẽ teo nhẽo, khớp đau, dẫn đến suy nhược, lười biếng, rút ngắn tuổi thọ.

Đại, tiểu tiện

Bình thường, mỗi ngày người cao tuổi có thể đại tiện 3 lần sau các bữa ăn hoặc 2-3 ngày mới đi một lần. Tổng lượng phân không quá 200 g nếu ăn ít chất xơ. Gọi là đi lỏng nếu đi đại tiện nhiều lần trong ngày và phân lỏng (thường là do rối loạn chức năng đại tràng).

Gọi là táo bón nếu 4 ngày mới đi đại tiện một lần, phân khô từng lọn, có nhiều chất nhầy trắng bao bọc bên ngoài. Nếu 1-3 ngày đại tiện một lần, phân khô thì không thể gọi là táo bón. Phân khô là do ăn ít rau, uống ít nước nhưng chưa bù đủ nước cho lượng mồ hôi đã mất sau khi hoạt động thể lực. Người đi phân lỏng phải kiêng cá, mỡ, sữa, trứng trong nhiều năm; cần khám kỹ vì có thể đó là dấu hiệu viêm đại tràng mạn tính do tự ý dùng thuốc kháng sinh .

Cần tạo thói quen đi đại tiện hằng ngày, hoặc 1-2 ngày/lần. Nếu phân có máu tươi, cần khám bệnh sớm, yêu cầu thăm khám hậu môn để phát hiện ung thư phần thấp của trực tràng. Không rặn mạnh khi đại tiện để phòng xuất huyết ở một mạch máu đã bị tổn thương trước đó.

Có thể tạo phản xạ dễ đi đại tiện bằng cách tập thể dục, xoa day thành bụng từ phải sang trái, uống trước một cốc nước, một ly sữa hoặc một ly cà phê. Việc thay đổi tư thế ngồi lúc đi đại tiện (ngồi xổm, ngồi nghiêng sang bên trái, ngồi ngả ra đằng sau) cũng có thể làm cho cơ thít hậu môn dễ mở hơn. Đi đại tiện xong, không đứng dậy ngay một cách đột ngột mà nên cúi mình ra trước, từ từ ngồi dậy. Nếu thấy chóng mặt, nên vịn vào một chỗ nào đó, chờ hết chóng mặt hãy đứng lên. Đây là tình trạng thiếu máu lên não, thường chỉ thoáng qua; nếu kéo dài thì nằm nghỉ, tốt nhất là có bác sĩ theo dõi.

Người cao tuổi bình thường đi tiểu dễ dàng, không buốt, không rắt, không sót lại; tia nước tiểu thẳng, không bị ngắt quãng. Tình trạng grain tiểu tiện đêm có thể do mất ngủ, hoặc có một vài bệnh như viêm đường tiết niệu, bệnh tuyến tiền liệt…

Khi đi tiểu cũng phải vịn vào một chỗ nào đó. Nếu chóng mặt thì cúi đầu ra phía trước, chờ hết hãy đi vào. Khi đi tiểu, một lượng nhiệt sẽ bị thải ra theo nước tiểu, áp suất trong ổ bụng bị hạ thấp do mất sự chèn ép của bàng quang, lượng máu lên não thiếu. Điều này cũng gây chóng mặt và dễ bị ngã. Kinh nghiệm cho thấy, tai biến mạch máu não ở người cao tuổi dễ gặp về anathema đêm, lúc dậy đi tiểu. Do đó, nếu đang đắp chăn ấm, trước khi ngồi dậy, phải mở dần chăn ra để nhiệt độ cơ thể thích nghi với nhiệt độ bên ngoài, đồng thời phải nằm nghiêng một lúc rồi mới từ từ ngồi dậy. Nếu đi tiểu rắt, buốt grain có máu, nên đến khám bác sĩ chuyên khoa. Về anathema đêm, tốt nhất là có bô tiểu để cạnh giường, tiện tầm tay với, không phải đi ra khỏi phòng.

BS Hà Văn Ngạc, Sức Khỏe Đời Sống

Phòng ngừa tai biến mạch máu não thế nào?

Tai biến mạch máu não (TBMMN) là một thuật ngữ chung để chỉ các bệnh nhồi máu não (do tắc mạch não) và chảy máu não (do xuất huyết não). Bệnh grain gặp ở người lớn tuổi. Nguyên nhân chủ yếu của bệnh là do vữa xơ động mạch và tăng huyết áp. Đôi khi do các cục huyết khối từ nơi khác gây thuyên tắc động mạch não như huyết khối trong tâm nhĩ, tâm thất grain gặp ở những bệnh nhân bị rối loạn nhịp tim (rung nhĩ), nhồi máu cơ tim, suy tim nặng, bệnh outpost tim… Việc phòng ngừa bệnh phụ thuộc vào các yếu tố nguy cơ của mỗi người.

Những ai có nguy cơ bị TBMMN?

TBMMN là tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi do tắc hoặc vỡ mạch máu não. Khi thiếu máu lên não, các tế bào não sẽ ngưng hoạt động và sẽ chết đi trong vài phút. Hậu quả là các vùng cơ thể do phần não đó điều khiển sẽ ngưng hoạt động, dẫn tới yếu liệt, tê, mất cảm giác nửa người, không nói được hoặc hôn mê, thậm chí là tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời. Nhiều trường hợp được cứu sống nhưng có thể bị tàn phế suốt đời, giảm tuổi thọ và không còn khả năng lao động, khó hoà nhập cuộc sống bình thường.

TBMMN xuất hiện do lòng động mạch máu nuôi não bị tắc do mảng xơ mỡ đóng ở thành mạch dày lên dần, làm hẹp lòng mạch; Xuất hiện cục máu đông di chuyển từ tim do tim bị bệnh loạn nhịp hoặc bệnh hẹp – hở outpost tim khiến máu ứ lại, đóng thành cục máu đông trong tim, sau đó chảy lên não làm kẹt lại gây tắc mạch máu não; Xuất huyết não (mạch máu bị vỡ làm chảy máu, chèn ép não bộ) và xuất huyết khoang dưới nhện (mạch máu bị phình rồi vỡ ra làm máu chảy vào khoang trống bao quanh não).

Người có nguy cơ TBMMN cao là người trên 55 tuổi, người bị tăng huyết áp, đái tháo đường, vữa xơ động mạch, rối loạn lipid máu, các bệnh mạch vành, outpost tim, loạn nhịp tim, hút thuốc lá, béo phì- thừa cân, lười vận động và bị highlight nặng grain thường xuyên.

Phòng ngừa bệnh như thế nào?

Mặc dù TBMMN là bệnh nguy hiểm strain hoàn toàn có thể giảm được nguy cơ bệnh nếu biết cách phòng ngừa, đó là:

Liệu pháp thay đổi lối sống (thực hiện chế độ ăn kiêng và hoạt động thể lực) là biện pháp quan trọng làm giảm nguy cơ bị vữa xơ động mạch nói chung và tai biến mạch máu não nói riêng. Liệu pháp thay đổi lối sống bao gồm: Cai thuốc lá; có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin, khoáng chất, hạn chế ăn quá nhiều chất béo và các thực phẩm giàu calo, liệu pháp dinh dưỡng còn nhằm làm giảm lượng lipid máu, giảm huyết áp và giảm đường máu nếu bệnh nhân bị đái tháo đường; Tăng hoạt động thể lực sẽ làm cải thiện tình trạng tim mạch và làm cải thiện các yếu tố nguy cơ tim mạch như rối loạn lipid máu, béo phì và tăng huyết áp.

Phòng ngừa tình trạng đông máu bằng thuốc: Tình trạng tăng đông có thể ảnh hưởng đến bệnh lý tim mạch. Điều trị bằng aspirin có lợi trong phòng ngừa tiên phát và thứ phát cho các bệnh nhân bị nhồi máu não. Liều điều trị nên lựa chọn là liều có hiệu quả cao nhất với tác dụng phụ ít nhất. Các bệnh nhân có nguy cơ cao grain những người có kèm theo tăng huyết áp, rối loạn lipid máu hoặc bệnh tim mạch (bệnh động mạch vành, đột quỵ grain bệnh mạch máu ngoại biên) nên được điều trị bằng aspirin 75-100 mg/ngày. Nếu bệnh nhân bị dị ứng với aspirin, các thuốc ức chế ngưng tập tiểu cầu khác như clopidogrel 75mg/ngày có thể được dùng thay thế ở các bệnh nhân có nguy cơ cao.

Điều trị rối loạn lipid máu: Những người trên 45 tuổi cần được kiểm tra lipid máu định kỳ, bao gồm cholesterol toàn phần, LDL-C, triglycerid và HDL-C sau khi nhịn đói 10-12 giờ. Nên kiểm tra định kỳ lượng lipid máu 6-12 tháng/lần. Mục tiêu điều trị rối loạn lipid máu là LDL-C dưới 2,6 mmol/l (100mg/dl), triglycerid dưới 2,3 mmol/l (200 mg/dl) và HDL-C bằng hoặc trên 1,0mmol/l (40mg/dl). Tuy nhiên, cần cân nhắc giữa lợi ích và giá thành, cũng như các tác dụng phụ có thể gặp khi dùng thuốc liều cao. Điều trị bằng thuốc phải kết hợp với liệu pháp thay đổi lối sống. Liều thuốc được tăng dần đến khi đạt được nồng độ LDL-C mục tiêu.

Kiểm soát trị số huyết áp: Tăng huyết áp rất grain gặp ở người có tuổi. Tăng huyết áp làm tăng nguy cơ bị các biến chứng tim mạch (đột quỵ, bệnh động mạch vành và mạch máu ngoại biên). Mục tiêu điều trị nhằm đạt trị số huyết áp dưới 140/90mmHg. Thay đổi lối sống và dùng thuốc được áp dụng cho các bệnh nhân có huyết áp trên 140/90mmHg. Các nghiên cứu gần đây cho thấy việc quan trọng nhất trong điều trị tăng huyết áp là đạt được trị số huyết áp mục tiêu. Nguyên tắc sử dụng thuốc hạ áp là nên bắt đầu với một thuốc liều thấp hoặc phối hợp các nhóm thuốc với liều thấp để vừa đạt được hiệu quả điều trị vừa làm giảm tác dụng phụ.

Lưu ý: Trong mùa hè, thời tiết nắng nóng sẽ là yếu tố làm gia tăng các ca TBMMN, vì vậy những bệnh nhân đã từng bị TBMMN và những người có nguy cơ phải đặc biệt chú ý đến các biện pháp phòng bệnh, tránh hoạt động quá sức và có chế độ ăn uống, lao động, nghỉ ngơi… phù hợp với sức khỏe.

Sống thêm 50 năm chỉ nhờ bài thở

Bị lao phổi, sau 7 lần mổ, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện chỉ còn một góc phổi bên trái, mất 8 xương sườn. Bệnh viện bảo ông chỉ còn sống được hai năm. Thế nhưng ông đã sống đến tuổi 85 chỉ nhờ một bài thở cổ xưa.

Ông sinh năm 1913 tại Hà Tĩnh, học Đại học Y khoa Hà Nội rồi sang Pháp tiếp tục học, tốt nghiệp bác sĩ Nhi khoa năm 1941. Năm 1942, ông bị lao phổi nặng, điều trị ở Bệnh viện Saint Hilaire du Touvet, Grenoble.

Thời đó, bệnh lao chưa có thuốc chữa. Từ năm 1943 đến 1948, ông phải chịu mổ bảy lần, cắt bỏ tám xương sườn, cắt bỏ toàn bộ lá phổi bên phải và một phần ba lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp bảo ông chỉ có thể sống được hai năm nữa.

Trong thời gian nằm chờ chết, ông đã tìm ra phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình. Và kết quả là ông đã sống đến tuổi 85 mới mất (1997), nghĩa là sống thêm được 50 năm nữa.

Ông là bác sĩ, đồng thời là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động xã hội rất nhiệt tâm. Ông là cố vấn của bộ môn tâm lý – xã hội học, tại Trung tâm Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ y tế TP HCM, (nay là Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch).

Trong lúc nhiều người giảng bài, nói chuyện, hội họp, làm việc… thấy uể oải, hụt hơi, thì một người chỉ còn hai phần ba lá phổi, chỉ còn gần một nửa “dung tích sống” như ông lại vẫn ung dung, thư thái.

Những buổi hội họp dông dài, vô bổ, ông chỉ ngồi… thở, nhờ vậy mà ông không bị stress, không bị mệt. Ông bảo sau này khi ông mất đi, điều quan trọng ông để lại không phải là những tác phẩm văn học, triết học này nọ, mà chính là bài vè dạy thở chỉ với 12 câu.

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc, bạn đồng nghiệp với bác sĩ Viện, kể lại: “Trước kia, tôi cũng chỉ nghe để mà nghe chớ chẳng thực hành. Rồi một lần tôi bị tai biến nặng, phải nằm viện dài ngày, lúc đó tôi mới thử đem ra áp dụng. Quả có điều kỳ diệu!”

Phương pháp này giúp ông thảnh thơi hơn, ít nhọc mệt hơn và sức khỏe tốt hơn. Trong thời gian dưỡng bệnh, các bạn đồng nghiệp cho rất nhiều thuốc, nhưng ông chỉ chọn một vài món thực sự cần thiết, còn thì chỉ dùng phương pháp thở để tự chữa bệnh cho mình.

Phương pháp thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện thực ra không phải là điều hoàn toàn mới. Nó chỉ là một sự tổng hợp của khí công, thiền, yoga, dưỡng sinh… của Đông phương từ ngàn xưa, được nhìn bằng sinh lý học hô hấp hiện đại của một người thầy thuốc.

Dưới đây là bài vè 12 câu dạy thở của bác sĩ Nguyễn Khắc Viện:

Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm chậm sâu đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!

Theo Phụ nữ

Nguyên nhân gây đột quỵ ở người cao tuổi và cách xử trí

Đột quỵ grain còn gọi là tai biến mạch máu não dễ xảy ra ở người cao tuổi (NCT). Đặc biệt, mùa hè NCT có thể bị đột quỵ nhất là với những người có sẵn về bệnh tim mạch, cao huyết áp.

Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong cao sau bệnh về tim mạch và ung thư. Tại Mỹ, hàng năm có tới 60 vạn người mắc bệnh đột quỵ và tử vong khoảng 16 vạn người.

Nguyên nhân xảy ra đột quỵ

Đột quỵ là hiện tượng ngừng trệ đột ngột dòng máu cung cấp cho não gây nên tổn thương cấp tính vùng não thiếu máu. Sự ngưng trệ đột ngột máu cung cấp cho não (hoặc thiếu hoặc mất hẳn) tức là ngưng trệ cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho vùng não thiếu máu đó, dẫn đến tế bào não bị hoại tử chỉ sau một thời gian ngắn.

Sự thiếu máu nuôi dưỡng một vùng não có thể do bị chèn ép bởi cục máu đông (do tổn thương tim) hoặc do vỡ mạch mãu não gây xuất huyết não (tăng huyết áp kịch phát, xơ vữa động mạch).

Xuất huyết não có thể ồ ạt grain từ từ, tùy thuộc vào vị trí và mức độ mạch máu bị vỡ. Ngoài ra cũng có thể gặp đột quỵ do rối loạn đông máu hoặc ở người bệnh đang dùng thuốc điều trị chống đông máu.

Theo thống kê, có khoảng 22% dân số mắc bệnh tăng huyết áp. Tuy vậy, nhiều người không quan tâm đến bệnh này hoặc do chủ quan cho rằng bệnh tăng huyết áp là bệnh của người già, ai cũng có thể bị, hoặc không có điều kiện để tìm hiểu về căn bệnh mà người ta gọi là “bệnh giết người thầm lặng”. Mùa nắng nóng kéo dài khiến cho NCT đang mắc bệnh tăng huyết áp rất khó kiểm soát, do đặc điểm sinh lý của NCT là mọi chức năng sinh lý đã thuyên giảm, trong đó có chức năng điều tiết của hệ thần kinh trung ương. Đó là chưa kể đến NCT còn mắc một số bệnh mạn tính về tim mạch, tiểu đường, béo phì, bệnh rối loạn chuyển hóa… Mùa hè cũng làm cho chế độ sinh hoạt, chế độ ăn uống, nghỉ ngơi của NCT thay đổi. Mùa hè đột quỵ dễ xảy ra ở NCT đặc biệt là ở những người có sẵn các bệnh về tim mạch (tiền sử có nhồi máu cơ tim, thiểu năng mạch vành), tăng huyết áp, xơ vữa động mạch, rối loạn mỡ máu (tăng cholesterol, triglyceride), đái tháo đường.

Dấu hiệu đột quỵ

Khi NCT đột ngột đau đầu dữ dội, choáng váng, mất tri giác hoặc hôn mê, gọi hỏi không biết gì (trường hợp nặng do xuất huyết não nhiều hoặc bị chèn ép làm tắc nghẽn mạch máu nuôi dưỡng một vùng não), đó là những dấu hiệu báo trước của đột quỵ. Những dấu hiệu nữa là đột ngột tê tay, chân cùng bên hoặc tay chân khó cử động; nói khó, ngọng, phát âm không rõ; một bên mắt nhắm không kín, nhìn đôi, nhìn mờ, nhoè; miệng méo; nhân trung lệch; có thể rối loạn tiểu tiện (tiểu không tự chủ hoặc bí tiểu). Ngoài ra, có thể gặp một số dấu hiệu khác kèm theo như mất thăng bằng, buồn nôn hoặc nôn. Các triệu chứng này có thể tăng dần lên làm cho bệnh cảnh càng trầm trọng. Nguy cơ tử vong ở những người đột quỵ không phát hiện sớm và không xử trí kịp thời có thể chiếm tỷ lệ rất cao (90%) và một tỷ lệ thấp nếu qua khỏi phải chịu di chứng nặng nề hoặc liệt, mọi sinh hoạt không tự chủ, không nói được, lú lẫn… Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp các triệu chứng chỉ xảy ra trong vòng vài ba phút rồi trở lại bình thường. Trong trường hợp này được gọi là cơn thiếu máu não thoáng qua.

Làm gì khi bị đột quỵ?

Chỉ cần có một trong các dấu hiệu cảnh báo là bị đột quỵ là phải hết sức khẩn trương gọi xe cấp cứu ngay, không được chần chừ, cũng không chờ đợi xem còn dấu hiệu nào xuất hiện nữa grain không. Cấp cứu càng sớm càng tốt bởi vì nếu xử trí trước 2 giờ, tối thiểu trước 6 giờ, khả năng cứu sống người bệnh rất cao và ít để lại di chứng, nếu muộn hơn nguy cơ diễn biến phức tạp luôn luôn có thể xảy ra. Trong khi chờ đợi xe cấp cứu đến nên cho người bệnh nằm yên, nghiêng đầu sang một bên ngay cả khi có triệu chứng co giật. Để tránh người bệnh cắn lưỡi cho một chiếc đũa hoặc cán thìa có quấn vải vào giữa 2 hàm răng.

Phòng bệnh đột quỵ ở NCT là phải phòng từ xa có nghĩa là cần được khám sức khỏe định kỳ theo lời dặn của bác sĩ. Khi có bệnh về tim mạch cần điều trị theo chỉ định của bác sĩ, không nên tự ngưng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Khi có bệnh tăng huyết áp hoặc rối loạn mỡ máu hoặc bị đái tháo đường cần kiểm tra huyết áp, mỡ máu và đường máu theo lời dặn của bác sĩ khám bệnh. Tuyệt đối không tự mua thuốc hoặc dùng đơn thuốc của bệnh nhân khác mua thuốc cho mình.

Mùa hè, NCT nên uống đủ lượng nước cần thiết và không phải chờ đợi khi có biểu hiện khát mới uống. Nếu nghiện thuốc lá, thuốc lào thì cần hạn chế và tốt nhất là bỏ hẳn. Những người có bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường không nên uống bia, rượu. Nên tăng cường uống nước cam, chanh và quả tươi.

Mùa hè cũng cần vận động cơ thể một cách hợp lý. NCT nên tập các bài tập nhẹ nhàng hợp với sức khỏe của mình, không nên tập khi mặt trời lên cao, nhiệt độ ngoài trời đã tăng. Mỗi lần ra nắng cần đội nón, mũ rộng vành. Nên mặc quần áo mỏng, thoáng mát.

NCT nên ăn nhiều rau, ăn đủ chất. Những NCT có bệnh cần ăn uống theo chỉ dẫn của bác sĩ nhưng không nên kiêng khem quá mức vì có thể đưa đến suy dinh dưỡng.

Chăm sóc người già theo y học hiện đại

Người cao tuổi (NCT) thường ốm đau do nhiều bệnh, cần uống nhiều thuốc. Thế giới đã đúc kết kinh nghiệm chăm sóc bồi dưỡng và sử dụng thuốc cho các cụ. Bài báo này tóm tắt kinh nghiệm tốt ở nước ngoài để nghiên cứu áp dụng.

Thực hiện chế độ dinh dưỡng theo kiểu Địa Trung Hải

Ai cũng biết nhân dân các nước vùng Địa Trung Hải sống lâu và khỏe mạnh hơn so với các nước khác ở châu Âu.

Theo công trình nghiên cứu của các nước châu Âu trên 2.339 người khỏe mạnh, có tuổi thọ từ 70-90 (theo dõi trong 10 năm), thì những người ăn theo chế độ Địa Trung Hải (thức ăn có tỷ lệ acid béo có 1 liên kết đôi, ăn nhiều hoa quả, rau, ngũ cốc nguyên hạt, nhiều cá, ít thịt), không hút thuốc lá (hoặc đã thôi không hút thuốc lá được 15 năm trở lên), không uống nhiều rượu, vẫn tập thể dục (nhẹ nhàng như đi bộ mỗi ngày 1/2 giờ), có tỷ lệ tử vong về nhiều bệnh (tim mạch, động mạch vành, ung thư) thấp hơn 50%, so với những người không theo cách sống này.

Các tác giả còn phân tích kỹ hơn từng yếu tố làm giảm tỷ lệ tử vong:

- Chế độ dinh dưỡng kiểu Địa Trung Hải làm giảm 23%.

- Không uống nhiều rượu làm giảm 22%.

- Tập thể dục làm giảm 37%.

- Không hút thuốc lá làm giảm 35%.

- Tuân theo tất cả các chế độ trên, tỷ lệ tử vong có thể giảm tới 65%.

Công trình nghiên cứu ở Ý còn cho biết: chế độ dinh dưỡng kiểu Địa Trung Hải làm giảm hội chứng chuyển hóa (gồm các yếu tố béo phì, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp…) và nguy cơ về tim mạch liên quan đến hội chứng này.

Trên nhóm 90 bệnh nhân cao tuổi có hội chứng chuyển hóa và 90 bệnh nhân đối chứng có cùng hội chứng đó, các nhà khoa học Ý theo dõi nhóm I dùng chế độ Địa Trung Hải, còn nhóm II dùng khẩu phần bình thường, chỉ tránh các thói quen có hại. Sau 2 năm kết quả như sau:

- Nhóm I còn 40 người có hội chứng chuyển hóa.

- Nhóm II vẫn còn tới 78 người có hội chứng này.

Tránh dùng các thuốc không thích hợp cho NCT

Thông thường thuốc đều có 2 mặt:

- Mặt tích cực là phòng, chữa được bệnh.

- Các phản ứng phụ có hại cho bệnh nhân (nhất là NCT, trẻ em và phụ nữ có thai).

Năm 1991, BS. Beers ở Hoa Kỳ có nghiên cứu hàng chục ngàn hồ sơ của bệnh nhân được chữa theo chương trình Medicare (có bảo hiểm sức khỏe do chính phủ liên bang tài trợ; NCT nằm trong các Viện điều dưỡng thường có nhiều bệnh, dùng nhiều thuốc nên tai biến cũng nhiều). BS. Beers đưa ra một danh sách thuốc coi như không thích hợp cho NCT, danh sách này dựa trên 3 cơ chế:

Thuốc có tính đối kháng cholin mạnh

Như amitriptylin, diphenhydramin để chống trầm cảm, an thần… ta biết là trí nhớ và khả năng nhận biết của con người là do chất dẫn truyền acetyl cholin trong não điều khiển. NCT thường có trí nhớ suy yếu hay bị bệnh sa sút trí tuệ (như bệnh Alzheimer), nên cần uống thuốc kháng men cholinesteraza trong não để tăng mức acetylcholin. Nếu NCT uống thuốc đối kháng tiết cholin mạnh, các cụ sẽ lại suy giảm khả năng nhận biết và trí nhớ.

Thuốc có thời gian bán thải dài

Như chodiazepoxid là thuốc an thần, gây ngủ, những thuốc này sẽ chuyển hóa qua pha I là oxy hóa thành desmetyl, diazepam có thời gian bán thải 60-80 giờ, sau chuyển hóa lần nữa thành oxazepam với thời gian bán thải 8 giờ, cuối cùng liên hợp với acid glycorunic thành chất hòa tan được thải qua thận. NCT thường bị suy yếu gan thận nên tránh dùng những thuốc chuyển hóa bằng cách oxy hóa, vì khi phản ứng chuyển hóa yếu đi, chất chuyển hóa còn hoạt chất sẽ tăng cao, làm bệnh nhân có tuổi không còn sáng suốt đi làm việc.

Thuốc không chuyển hóa bằng pha oxy hóa

Nhưng vẫn có thời gian bán thải dài (như thuốc clopropamid chữa bệnh đái tháo đường).

Danh sách này được BS. Beers điều chỉnh thêm năm 1997, đến năm 2002 được 1 Hội đồng duyệt lại và cho đăng trên báo Y học Jama của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ, chia thành từng nhóm cụ thể để hướng dẫn điều trị cho NCT ở các trung tâm điều dưỡng. Trung tâm nào vi phạm hướng dẫn trên có thể bị thu hồi giấy phép hoạt động và Medicare không thanh toán chi phí theo bảo hiểm y tế.

Điều trị các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi

Sự già hóa của hệ thần kinh có thể đến sớm và trở thành các chứng bệnh thần kinh thường gặp ở người cao tuổi. Những yếu tố nguy cơ già hóa bệnh lý đã hình thành phát triển ngay từ giai đoạn tuổi chuyển tiếp và là những “buến chứng” của các chứng bệnh nội khoa.

Biểu hiện các chứng bệnh thần kinh

Các chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi khá phức tạp, đa dạng, thường có các biểu hiện:

Chứng đau nhức: thường là nhức đầu, nhức nửa đầu, nhức nửa mặt, đau thần kinh hông. Thường phối hợp với các chứng đau mình mẩy, đau chân, đau bả vai.

Chứng run, co giật: thường run chân tay, đi đứng run rẩy, loạng choạng hoặc nói run run. Có thể có cơn co giật kiểu động kinh. Có cơn động kinh và rối loạn tâm thần, rối loạn điều hòa các cử động…

Rối loạn nuốt, phát âm: có thể có hiện tượng nghẹn đặc, sặc lỏng và đi đứng khó khăn.

Rối loạn trí nhớ: người bệnh cảm thấy quên nhiều và lẫn hoặc có hiện tượng nhớ nhầm, ngộ nhận…

Một số bệnh hay gặp

Tai biến mạch máu não: thường gặp là tắc mạch, lấp mạch gây nhồi máu não, thiếu máu não cục bộ… Các trường hợp chảy máu não, chảy máu màng não, viêm màng não, thường là viêm màng não mủ, viêm màng não do lao.

Bệnh Parkinson…

Chẩn đoán

Cần có kế hoạch theo dõi cho lứa tuổi “bốn chín chưa qua, năm ba đã tới”, phát hiện kịp thời những chứng bệnh thần kinh thường gặp. Những biểu hiện như chứng đau nhức ở thần kinh (đau đầu, đau nửa mặt, đau kiểu thắt lưng hông…), chứng co giật, run chân tay, chóng mỏi ở hai chân đặc biệt là chứng cứng cơ khi cử động… chứng quên lẫn, nhớ nhầm, ám ảnh, lo sợ. Khi có những triệu chứng kể trên thì nên kết hợp các phương pháp thăm dò chức năng không nguy hại cho người cao tuổi để chẩn đoán như siêu âm tim mạch, siêu âm xuyên não, ghi điện não, chụp cắt lớp vi tính và các test thần kinh tâm lý.

Điều trị

Do đặc điểm cơ thể người cao tuổi (tuổi già, sức yếu…) nên điều trị các chứng bệnh thần kinh phải toàn diện: toàn diện cho tính chất đa bệnh lý, toàn diện giữa thuốc với nuôi dưỡng cơ thể, nâng cao thể trạng, kết hợp dùng thuốc và các phương pháp phục hồi chức năng.

Sử dụng thuốc điều trị

Cơ thể người cao tuổi hấp thụ, chuyển hóa và thải trừ kém nên phải thận trọng khi sử dụng thuốc. Cần cho thêm các thuốc nâng cao thể trạng, các loại vitamin nhất là vitamin nhóm B. Nên kết hợp thuốc Đông y với những ưu việt dành cho người cao tuổi.

Phục hồi chức năng thần kinh

Phục hồi chức năng thần kinh là một phương pháp điều trị tích cực, tổng hợp, toàn diện nhất là vận dụng các phương pháp dưỡng sinh, thiền, khí công, luyện khí… Phục hồi chức năng vận động, tâm lý chú ý tới khí công, xoa bóp, bấm nắn, tất cả đều tĩnh tâm và thường phối hợp với thời khắc trong ngày… Tác động tâm lý giữ phần quan trọng trong công tác điều trị chứng bệnh thần kinh ở người cao tuổi. Điều đó giúp người bệnh tự xác định, chịu khó tập luyện, ăn uống, nghỉ ngơi hợp lý. Sự quan tâm của cộng đồng, cơ quan, gia đình, bạn bè, góp phần quan trọng cho việc điều trị có hiệu quả. Luôn luôn quan tâm tới chế độ ăn uống và nghỉ ngơi cho người bệnh cao tuổi.

Phòng bệnh

Cần phải có kế hoạch theo dõi phát hiện những thay đổi về tim mạch, huyết áp, hô hấp, tiết niệu (phù…) những thay đổi về giác quan (ví dụ mắt nhìn có ruồi bay, mờ mắt, nghe o o trong tai, nghe kém, ăn thì nghẹn, uống nước thì sặc…) hoặc những rối loạn tâm lý…

Phòng ngừa bệnh quên ở người cao tuổi

Nhiều loại mất trí nhớ thường là biểu hiện của các rối loạn thần kinh như alzheimer, tai biến mạch máu não, tâm thần, trầm cảm, stress, suy nhược thần kinh. Tuy nhiên, nhiều người lớn tuổi khỏe mạnh vẫn phàn nàn hay quên trong sinh hoạt hàng ngày.

Biểu hiện sớm của chứng quên là khó khăn trong sử dụng tiền hàng ngày, sử dụng phương tiện giao thông, kỹ năng mua sắm, trong việc làm theo lời hướng dẫn và tìm đường trong thành phố. Nhân cách người bệnh cũng thay đổi, biểu hiện ở sự ngơ ngác, thờ ơ với người khác, luôn than phiền quên, không nhớ.

Hai biểu hiện rối loạn trí nhớ thường gặp

Chứng loạn trí nhớ về không gian hay nơi chốn: bệnh nhân khó nhận biết nơi mình đang ở và những nơi khác mà họ đã được biết trước đó. Chứng loạn trí nhớ này là rối loạn kỳ lạ, trong đó bệnh nhân luôn tin rằng họ đang ở một nơi khác với nơi họ thật sự đang ở, dù cho có đối mặt với các bằng chứng không thể chối cãi như cầu thang, bàn ghế, giường nệm.

Chứng quên toàn bộ thoáng qua: là một rối loạn có tính chất chu kỳ của hệ thần kinh trung ương trong đó sự mất thình lình trí nhớ, đặc biệt là trí nhớ để tường thuật hay nói về những sự kiện mới xảy ra mà không kèm triệu chứng thần kinh. Người mắc chứng quên này thường có những biểu hiện như: hay hỏi lặp đi lặp lại một câu hỏi. Chứng quên thông thường gặp trong các nguyên nhân là quên theo tuổi gắn liền với mất dần tính khôi hài trong giao tiếp, tốc độ suy nghĩ chậm dần, tuy nhiên nhân cách ít biến đổi, cách phát âm không thay đổi. Ở chứng quên này, người bệnh thường quên sự việc mới xảy ra, nhưng lại nhớ rất lâu các sự việc đã xảy ra trong quá khứ. Quên do các nguyên nhân tâm thần thường kết hợp với các rối loạn thần kinh thực vật, mất ngủ, thiếu năng lực trong công việc, ăn không ngon, lo âu. Quên là triệu chứng sớm của suy giảm nhận thức và sa sút trí tuệ, đây là căn bệnh tiến triển chậm trong nhiều năm.

Phòng ngừa thế nào?

Trong nhiều cố gắng, y học đã khẳng định quên giai đoạn sớm có thể chữa được và ít ra cũng làm quá trình bệnh chậm lại, hoặc tạo cho người bệnh có cuộc sống tốt hơn. Vấn đề đặt ra là khi các bạn có biểu hiện quên thì nên đi khám bệnh để được xác định mức độ quên, tìm các yếu tố nguy cơ và kịp điều trị sớm. Hiện nay có rất nhiều thuốc điều trị đặc hiệu cho chứng quên do bệnh sa sút trí tuệ, quên sau tai biến mạch máu não, quên thông thường ở người lớn tuổi, quên do các bệnh trầm cảm, stress, Alzheimer… Alzheimer là bệnh đứng hàng đầu (chiếm 50-60%) trong các căn nguyên gây bệnh mất trí nhớ hiện nay. Một số thuốc có tác dụng duy trì trí nhớ và khả năng nhận thức dùng trong điều trị bệnh Alzheimer là các thuốc bổ thần kinh, các thuốc tăng cường chuyển hóa tuần hoàn não.

Tuy nhiên, chữa bệnh Alzheimer cần chú trọng đến vấn đề chăm sóc, cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người già (giải quyết các yếu tố cô đơn tuổi già, mâu thuẫn giữa các thế hệ, rối loạn chức năng các giác quan, vấn đề nhà ở, thu nhập…). Ngoài ra, cần giáo dục để thay đổi nhận thức và thái độ của mọi người trong cộng đồng về các rối loạn tâm thần ở người già. Cần đào tạo các kỹ năng, kiến thức, phương pháp theo dõi, quản lý săn sóc người già bị rối loạn tâm thần trong bệnh viện, nhất là tại gia đình và cộng đồng… và từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người già.

Phòng đột tử ở người cao tuổi trong mùa hè

Thời tiết oi bức của mùa hè làm tăng đáng kể các ca đột tử, nhất là với người cao tuổi. Các bệnh dẫn đến tử vong đột ngột thường là bệnh tim mạch, bệnh phổi, rối loạn điện giải do nắng nóng…

Người cao tuổi nên khám sức khỏe định kỳ để phòng ngừa đột tử.

 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đột tử:

Bệnh tim mạch: Như nhồi máu cơ tim, bệnh van tim, bệnh cơ tim và tăng huyết áp… Các bệnh này dễ gây suy tim, loạn nhịp tim và dẫn đến đột tử. Những người bị nhồi máu cơ tim có tỷ lệ đột tử cao gấp 10 lần người bình thường.

Bệnh phổi mạn tính: Hen phế quản ác tính dẫn đến suy hô hấp cấp tính.

Rối loạn thể dịch: Như mất máu nặng, rối loạn điện giải…

Phản ứng quá mức của cơ thể: Như phản xạ thần kinh phế vị (thần kinh chi phối hoạt động của phổi và dạ dày).

Đối với những bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim thì điều quan trọng phải biết cấp cứu ban đầu rồi gọi cấp cứu để đưa bệnh nhân đến cơ sở y tế. Trường hợp này phải được theo dõi chặt chẽ và có cách điều trị thích hợp.

Người có bệnh tăng huyết áp cần được điều trị kịp thời và kiểm tra thường xuyên huyết áp để ngăn ngừa các cơn tăng huyết áp kịch phát dẫn tới suy tim, loạn nhịp, đột tử.

Người bệnh hen cần có thuốc và phương tiện trợ hô hấp khi có cơn hen ác tính. Nói chung, những người bị bệnh trên cần biết cách theo dõi và có thuốc cấp cứu bên mình để phòng tình huống nguy hiểm xảy ra.

Những người nghiện thuốc lá, thuốc lào, nghiện rượu thì nên cai vì trong thuốc lá có tới hơn 4.000 loại chất độc. Đặc biệt, nghiện thuốc lá là một trong những nguyên nhân gây xơ vữa động mạch vành và bệnh phổi tắc nghẽn. Còn rượu làm tăng huyết áp, giãn cơ tim, có nguy cơ dẫn đến tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim và đột tử.

Việc tăng cường hoạt động thể lực cũng làm giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim và tử vong đột ngột. Đối với người đã bị bệnh tim mạch, cách luyện tập tốt nhất là đi bộ.

Bất cứ ai cũng có thể bị đột tử nếu không biết mình có bệnh gì. Vì vậy, khám sức khỏe định kỳ là phương pháp phòng ngừa đột tử triệt để nhất.

(Theo Bác sĩ Bùi Ngọc Trinh – Sức khỏe đời sống)