Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012
Ngâm chân phòng chống cao huyết áp
Ngâm chân trong nước ấm, nước khoáng hoặc dịch thuốc là một liệu pháp phòng chống bệnh độc đáo của y học cổ truyền. Đối với bệnh cao huyết áp, biện pháp này có giá trị dự phòng và hỗ trợ trị liệu hiệu quả. Sau đây là một số công thức và cách dùng thông dụng.
Một số công thức nước ngâm
- Từ thạch, thạch quyết minh, đẳng sâm, hoàng kì, đương quy, spice chi, chỉ xác, ô dược, mạn kinh tử, bạch tật lê, bạch thược, đỗ trọng, ngưu tất, mỗi vị 6g, độc hoạt 18g, sắc lấy nước ngâm chân trong 60 phút.
- Câu đằng 20g và một chút băng phiến, sắc lấy nước ngâm chân 2 lần trong ngày, mỗi lần 30 – 45 phút, 10 ngày là một liệu trình.
- Câu đằng 30g, cúc hoa 15g, hạ khô thảo 15g, quyết minh tử 30g, ngưu tất 20g, bạch truật 20g, bạch cương tàm 20g, hồng hoa 15g, sắc lấy nước ngâm chân trong 30 phút, mỗi ngày 2 lần.
- Hạ khô thảo 30g, câu đằng 20g, spice diệp 15g, cúc hoa 20g, sắc lấy nước ngâm chân mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 30 phút.
- Ngô thù du 15g, hoàng bách 20g, tri mẫu 20g, sinh địa 20g, ngưu tất 20g, sinh mẫu lệ 40g, sắc lấy nước ngâm chân, mỗi ngày 2 lần.
- Tang chi 20g, spice diệp 15g, sung uý tử 20g, sắc lấy nước ngâm chân 2 lần trong ngày, mỗi lần 45 phút.
- Có thể dùng nước ấm bình thường hoặc nước khoáng nóng.
Cách ngâm chân
Dụng cụ: Tốt nhất là dùng chậu ngâm điện (loại nhập từ Trung Quốc, có bán tại các siêu thị), loại chậu này tiện lợi cho việc giữ nhiệt độ một cách tự động, ít phải chế thêm nước nóng rồi lại phải thử độ nóng làm cách quãng việc ngâm chân. Nếu không có thì nên dùng chậu gỗ vì loại chậu này giữ được nhiệt lâu, không độc và an toàn.
Nhiệt độ nước ngâm: Tuỳ theo tính chất địa lí, khí hậu, lứa tuổi, tình trạng bệnh lí, phản ứng của từng cá thể… mà lựa chọn nhiệt độ nước ngâm cho phù hợp. Nói chung, về cơ bản, nên chọn nhiệt độ trung bình từ 38 đến 43 độ C. Cơ sở xác định là, sau khi ngâm chân cơ thể cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái và huyết áp được cải thiện rõ rệt.
Tư thế: Chọn tư thế ngồi trên ghế tựa, chậu ngâm có độ cao từ 20 cm trở lên, độ rộng có thể chứa đủ hai chân là được.
Thời gian ngâm chân: Mỗi ngày nên ngâm 2 lần, tốt nhất là vào lúc 10 giờ sáng và tối trước khi đi ngủ. Ngoài việc điều chỉnh huyết áp, việc ngâm chân vào buổi tối sẽ giúp giấc ngủ ngon và sâu hơn. Dân gian có câu: “Sau ăn 300 bước, trước ngủ một chậu ngâm”. Tuỳ theo công thức thuốc ngâm, tuổi tác, giới tính, tình trạng sức khoẻ, khí hậu thời tiết, tính chất công tác… nói chung thời gian ngâm chân mỗi lần chừng 30 phút là phù hợp. Những người huyết áp quá cao, khó điều chỉnh thì có thể kéo dài thời gian ngâm. Mùa đông nên ngâm dài hơn mùa hè. Tiêu chí đánh giá thời gian ngâm hợp lí là: Sau khi ngâm chân cảm thấy dễ chịu, tình trạng huyết áp được cải thiện.
Biện pháp kết hợp khi ngâm chân
Trong khi ngâm nên kết hợp day bấm một số huyệt vị và thư giãn. Day bấm huyệt, xong thực hành thư giãn.
Các huyệt vị cần day bấm là: Bách hội (là điểm giao nhau ở đỉnh đầu của đường nối đỉnh hai vành tai khi gấp tai lại và đường trục giữa cơ thể, ấn có cảm giác ê tức); ấn đường (là điểm giữa của đoạn nối hai đầu trong lông mày) và Dũng tuyền (là điểm nối 2/5 trước và 3/5 sau của đoạn nối đầu ngón chân 2 và điểm giữa bờ sau gót chân, trong chỗ lõm ở gan bàn chân). Nên dùng ngón cái hoặc ngón tay giữa để day bấm, mỗi huyệt chừng 2 phút, sao cho đạt cảm giác tức nặng là được.
Thực hành thư giãn: Tựa người vào thành ghế, toàn thân thả lỏng, mắt nhắm hờ, tập trung sự chú ý vào một điểm nhất định trên cơ thể, tốt nhất là vào Đan điền (vùng dưới rốn một chút). Thở đều, chậm và thật nhẹ đến mức để một vài sợi bông trước mũi mà không thấy lay động. Trước tiên, từ từ thở ra, bụng lõm vào rồi lại từ từ hít vào, bụng phình ra, nín thở một lát rồi lại từ từ thở ra, cứ luân phiên thở như vậy chừng 5 phút. Tiếp đó nghỉ 5 phút rồi lại lặp lại quy trình thở lần thứ hai.
Những điều cần chú ý
- Ngâm chân là liệu pháp mang tính hỗ trợ và phối hợp, những người huyết áp cao đang dùng thuốc không nên ngừng đột ngột, muốn ngừng hoặc giảm liều thuốc phải có ý kiến của bác sĩ điều trị.
- Trong khi tiến hành ngâm chân, tư tưởng hết sức thoải mái, bình thản, cần tránh căng thẳng hoặc suy nghĩ lo âu.
- Nên chọn nơi ngâm chân yên tĩnh, thoáng khí, không bị xáo trộn bởi ngoại cảnh.
- Phải kiên trì và đều đặn, tránh ngâm ngắt quãng.
- Nếu đang bị mắc các bệnh lí cấp tính có sốt do viêm nhiễm và bị bệnh xuất huyết thì không nên thực hành liệu pháp ngâm chânn
Ths. Hoàng Khánh Toàn
(Chủ nhiệm Khoa Y học dân tộc Bệnh viện TƯ quân đội 108)
Người già ở Nhật Bản cần đến robot
Nhật Bản đang phát triển công nghệ robot để đối phó với tình trạng dân số già. Ảnh: AFP
Các nhà làm chính sách ở đang đau đầu nghĩ cách làm thế nào để chi trả lương hưu và phí chăm sóc y tế cho một xã hội mà số lượng người già vượt xa số người đóng thuế. Còn các kỹ sư Nhật Bản tuyên bố rằng công nghệ có thể giúp xóa đi những nỗi đau do tuổi tác mang lại.
Theo AFP, một loạt công ty, từ các công ty chăm sóc sức khỏe đến sản xuất ô tô, đều đang phát triển các robot có thể giúp đỡ hoặc chăm sóc người già cả về thể chất lẫn tinh thần.
Trong số các phát minh công nghệ trên, gây sửng sốt nhất là một chiếc giường robot có thể chuyển thành chiếc xe lăn chạy bằng điện của hãng Panasonic. Ngoài ra còn có một loại robot có thể nhẹ nhàng nhổ tóc bạc cho những người già khó cử động tay.
“Ý tưởng của chúng tôi là mang lại một giải pháp toàn diện cho người cao tuổi, không chỉ ở Nhật Bản mà cả thế giới”, Yukio Honda, giám đốc trung tâm phát triển robot Panasonic nói.
Người Nhật Bản nổi tiếng có tuổi thọ trung binh cao nhất hành tinh, ở nam giới là 80 và nữ giới là 86. Quốc gia này cũng có một số lượng đáng kinh ngạc những người trăm tuổi và thường xuyên giữ kỷ lục về người sống thọ nhất thế giới.
Tuy nhiên, từ sau sự bùng nổ dân số hậu Thế chiến II, Nhật Bản áp dụng chính sách giảm tỷ lệ sinh. Hiện nước này có 127,7 triệu dân, với 23,2 % số người trên 65 tuổi. Các số liệu được công bố tuần này cho thấy số dân Nhật Bản đã giảm xuống kể từ lần thống kê gần đây nhất năm 1975. Dân số dự kiến sẽ giảm còn 89 triệu người vào năm 2055, với 4 trong số 10 người là người già.
“Nhiều nước đang đối mặt với tình hình tương tự nhưng Nhật Bản đã đi trước thời đại”, Hitoshi Suzuki, trưởng Viện Nghiên cứu Daiwa nói. “Nếu Nhật Bản vượt qua trở ngại này thành công thì sẽ là hình mẫu cho các quốc gia khác học tập”.
Công ty công nghệ Cyberdyne là một trong các công ty Nhật Bản đang phát triển chân robot dùng cho người già hoặc người bị thương luyện tập gân cốt và đi lại bình thường. Người đeo chân robot sẽ điều khiển các tín hiệu từ não và di chuyển chân robot khi họ cố gắng di chuyển chân mình. Robot này đã được ứng dụng ở các bệnh viện tại Nhật Bản.
Tập đoàn ô tô Toyota cũng đang cố gắng phát triển các loại “robot đối tác”, có khả năng làm việc nhà và giúp đỡ bác sĩ, y tá cũng như những người chăm sóc bệnh nhân.
Về lĩnh vực tinh thần, công ty chăm sóc sức khỏe Pip đang chuẩn bị tung ra Unazuki Kabochan, một búp bê chạy bằng pin với bộ cảm biến âm thanh, ánh sáng và chuyển động, có khả năng nói chuyện và giao lưu với người sử dụng nó. Cùng phát triển dòng robot này, công ty công nghệ Vstone lại giới thiệu Torero, một con gấu trúc đỏ có khả năng hướng dẫn tập thể dục và động viên người già tích cực vận động.
Các robot không thể là giải pháp lâu dài cho khủng hoảng dân số tại Nhật Bản nhưng đây cũng là chìa khóa giải quyết những khó khăn mà tình hình dân số già đưa đến, với ngày càng nhiều người sử dụng công nghệ để được làm việc lâu hơn thay vì nghỉ hưu.
“Tiến bộ công nghệ giúp cải thiện năng suất lao động và dịch vụ”, ông Suzuki nói. “Vấn đề quan trọng là Nhật Bản làm thế nào để trở thành một quốc gia nơi mọi người đều có thể làm việc nếu họ muốn”.
Chứng mất ngủ ở người cao tuổi
Các nghiên cứu khoa học đã xác nhận tình trạng mất ngủ ở người cao tuổi (NCT) liên quan rõ rệt với sự sụt giảm bài tiết một nội tiết tố của tuyến tùng có tên là melatonin – một chất có vai trò điều hòa nhịp thức – ngủ. Trong cơ thể người, melatonin được tiết ra từ lúc mới sinh, đến 15 tuổi, bắt đầu giảm đi và sau 45 tuổi bị cạn kiệt rất nhanh. Ngay cả khi đạt mức tối đa, lượng melatonin ở NCT cũng chỉ bằng một nửa so vớI người trẻ, đến 80 tuổi thì giảm đến mức tối thiểu.
Càng cao tuổi càng dễ mất ngủ
Điều dễ nhận thấy là trẻ càng nhỏ tuổi ngủ càng nhiều (trẻ mới sinh gần như ngủ suốt ngày, chỉ thức giấc khi đói hay tã ướt), thanh niên mỗi ngày ngủ 8-9 giờ, NCT ngủ ít hơn nhiều: chỉ 5-6 giờ hoặc 4-5 giờ, lại hay thức giấc nhất là các cụ ông. Nhưng, theo các nhà sinh lý học, vấn đế cốt lõi không phải ở số giờ ngủ mà ở chất lượng giấc ngủ: một giấc ngủ êm dịu, không mộng mị, chập chờn; thức dậy thấy thoải mái, dễ chịu, hào hứng bước vào một ngày mới. Điều này cũng có nghĩa là, không thể đòi hỏi NCT phải ngủ được nhiều như những người trẻ tuổi.
Điều tra dịch tễ học cho thấy, số đông NCT thường phàn nàn về giấc ngủ. Có cụ vào giấc ngủ rất khó nhưng rồi ngủ được. Có cụ vừa đặt lưng đã ngủ nhưng nửa đêm tỉnh giấc rồi mắt “chong chong” đến sáng. Nhưng phần lớn ngủ chập chờn, không say, giấc ngủ bị đứt quãng nhiều lần, khi thức dậy cảm thấy không thoải mái, uể oải. Các cụ bà hay bị mất ngủ hơn các cụ ông; trên 70 tuổi, tỷ lệ mất ngủ ở các cụ bà cao gấp đôi các cụ ông.
Mất ngủ có thể nhất thời xảy ra (gọi là mất ngủ cấp tính). Mất ngủ cấp tính chủ yếu do rối loạn thích nghi, có đặc điểm là mất ngủ ngắt quãng (có những lúc tỉnh giấc), ban ngày mệt mỏi, buồn ngủ và ngủ bù; nhưng khi stress được giải tỏa, giấc ngủ sẽ trở lại bình thường. Thời gian mất ngủ trung bình 1-2 tuần lễ tùy theo tuổi tác, cá tính và tính chất stress. Chẳng hạn: tiếng xe cộ qua lại, tiếng nhạc ầm ĩ, chói tai, mùi các con vật nuôi trong nhà… đều có thể là những stress.
Khi stress không được loại trừ hoặc xuất hiện các nhân tố làm cho nó tiếp tục tồn tại, mất ngủ vẫn tiếp diễn và kéo dài thậm chí thành mạn tính. Một số thói quen như giờ giấc đi ngủ thất thường, thường xuyên nằm trên giường xem ti-vi nhiều giờ liền, ăn uống tại phòng ngủ; uống rượu, hút thuốc lá, uống cà phê, trà đặc buổi tối hay lo lắng quá mức về tình trạng mất ngủ… có thể làm mất ngủ kéo dài. Gọi là mất ngủ mạn tính khi thờI gian mất ngủ kéo dài từ 3 tháng trở lên.
Những nguyên nhân gây ra mất ngủ
Mất ngủ có thể là một triệu chứng của một bệnh, hay do nhiều nguyên nhân gây ra. Mỗi nguyên nhân lại có những dấu hiệu mất ngủ đặc trưng, chẳng hạn:
- Mất ngủ do các sự cố (như phải thay đổi chỗ ở, ốm đau bệnh tật, mất việc làm, hôn nhân tan vỡ, đau buồn tang tóc…) thường rất khó vào giấc ngủ.
- Mất ngủ có trầm cảm: ngủ không yên hay thức giấc, dậy quá sớm trước giờ thường lệ, kèm theo suy nghĩ miên man, tâm trạng buồn chán, sụt cân.
- Mất ngủ do bệnh tim: khó thở khi nằm ở người bị suy tim, do khó thở kịch phát trong cơn tăng huyết áp, loạn nhịp tim làm thức dậy đột ngột giữa lúc đang ngủ.
- Mất ngủ do đau (đau khớp, đau vùng trước tim…): khó vào giấc ngủ, nhiều lần phải thức giấc.
- Mất ngủ do hội chứng ngừng thở khi ngủ (như bị viêm phế quản tắc nghẽn, hen suyễn…): ngủ đủ số giờ cần thiết nhưng khi thức dậy thấy không dễ chịu, người mệt mỏi; bị nhức đầu lúc mới thức dậy buổi sáng, khó tập trung chú ý, rối loạn trí nhớ; ban đêm ngáy như sấm, ra nhiều mồ hôi, trằn trọc, nhiều lần thức giấc.
Để được giấc ngủ ngon
Để được ngon giấc, các bậc cao niên cần quan tâm đến một số yêu cầu sau đây:
- Tránh mọi tác nhân kích thích: ít nhất 2 giờ trước khi đi ngủ không uống ruợu; sau 4 giờ chiều không hút thuốc lá (nếu bỏ thuốc lá, thuốc lào thì càng tốt), không uống cà phê; cũng không nên dùng các thức ăn, đồ uống có caffein trước khi đi ngủ.
- Tập luyện đều đặn, tốt nhất là tập vào cuối buổi chiều nhưng cần tránh tập các môn hoạt động thể lực mạnh sau 6 giờ chiều. Các bài tập như: đi bộ, xoa bóp, thư giãn rất tốt cho tuổi già và giấc ngủ.
- Bữa tối nên ăn nhẹ; không dùng sôcô- la, các thức ngọt; không uống nhiều nước; có thể tắm nước ấm hoặc lau ngườI bằng nước ấm trước khi đi ngủ.
- Phòng ngủ phải yên tĩnh, ánh sáng thích hợp, bảo đảm thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông; không có gió lùa nhất là về mùa rét.
- Chỉ lên giường khi đã sẵn sàng cho giấc ngủ. Vào giường ngủ, không nói chuyện, không đọc sách báo, không xem ti-vi, không nghe nhạc hay suy tính công việc làm ăn…
- Mỗi sáng nên thức dậy vào một giờ nhất định. Buổi trưa nên ngủ vào một giờ nhất định và chỉ nên ngủ 30-45 phút hoặc thư giãn chừng 30 phút.
Các biện pháp không dùng thuốc
Nếu bị mất ngủ, trước tiên nên áp dụng các biện pháp không dùng thuốc hay dùng dược thiện, tùy theo hoàn cảnh cụ thể:
- Gõ ngón trỏ (gõ mạnh vừa phảI bằng mô đốt ngón 3) lên đầu lông mày hai bên, mỗi bên 30-60 lần. Xong vuốt nhẹ lông mày 2 bên từ đầu đến đuôi lông mày.
- Gãi chân tóc từ trán ra sau gáy trong 2-3 phút bằng 10 đầu ngón tay hoặc bằng lược.
- Xoa nóng 2 bàn chân.
- Ngâm chân nước ấm 38-43oC trong 20 phút, mỗi ngày 2 lần, trong đó có một lần trước khi đi ngủ buổi tối.
- Gối đậu đen rang nóng (theo Nam dược thần hiệu của Thiền sư Tuệ Tĩnh): rang nóng đậu đen, rồi cho vào gối, gốI suốt đêm.
- Hoa chuối 30g rửa sạch, thái nhỏ; Tim lợn một quả, rửa sạch, bổ tư ; xào chín với hoa chuối, ăn cả cái lẫn nước.
- Hoa thiên lý xào với tim lợn hoặc nấu canh với thịt nạc, ăn hàng ngày.
- Tâm sen 2-4g/ngày, hãm với nước sôi, uống thay trà.
- Lá vông nem (chọn lá bánh tẻ) rửa sạch, luộc hoặc nấu canh ăn; cũng có thể hãm trà 2-4g/ngày hoặc dùng dướI dạng cao lỏng (2-4g/ngày), uống trước khi đi ngủ buổi tối.
- Lạc tiên: lấy ngọn non, rửa sạch, luộc chín; ăn vào buổi chiều hoặc vài giờ trước khi đi ngủ buổi tối.
- Nước ép quả cà chua pha với mật ong, uống buổi tối.
Nếu vẫn không cải thiện được giấc ngủ mới phải dùng thuốc. Theo khuyến cáo của các nhà lão khoa, các cụ chỉ nên dùng thuốc ngủ hay các thuốc an thần gây ngủ tân dược khi thật cần; và nên bắt đầu bằng một loại thuốc ngủ có nguồn gốc thảo dược như: mimosa, rotundin… sau mới dùng đến hóa dược như benzodiazepin, barbituric… và cũng chỉ nên sử dụng trong dăm bảy tối để tránh độc cho gan, thận và tránh lệ thuộc thuốc ngủ. Cũng nên kết hợp với thư giãn hoặc thở bụng (thở 4 thì: hít vào hết sức cho bụng phình lên tối đa ngừng vài giây thở ra hết tới khi bụng hóp lại hết cỡ thở ra)… tạo điều kiện đi vào giấc ngủ dễ dàng.
Theo: SKĐS
Rau ngót món ăn, bài thuốc cho người lớn tuổi
Rau ngót có nhiều poison amin, vitamin và chất khoáng vì vậy nó có tính bổ dưỡng cao. Người ta thường nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, giò sống trứng, tôm, cá đồng… bữa ăn gia đình, nhất là các cụ lớn tuổi, nên có thêm bát canh rau ngót.
Rau ngót grain bù ngót, bồ ngót, tên khoa học là Sauropus androgynus, họ Thầu dầu (Euphorbiaceae). Loại cây này được trồng rất phổ biến quanh nhà. Người dân vừa dùng làm món ăn vừa làm thuốc chữa trị một số bệnh. Hái lá tươi dùng ngay. Thường grain chọn những cây 2 tuổi trở lên để làm thuốc.
Rau ngót có nhiều poison amin cần thiết: trong 100g rau ngót có lysin, 0,13g metionin, 0,05g tryp-tophan, 0,25g phenylalalin, 0,34g treonin, valin, leuxin và 0,17g izoleucin…
Rau ngót rất giàu đạm nên thường được khuyên dùng thay thế đạm động vật để hạn chế những rối loạn chuyển hóa canxi gây loãng xương và sỏi thận.
Đặc biệt với hàm lượng vitamin K dồi dào – chất giúp giảm nguy cơ gãy xương và papaverin – chất giúp giảm cơn đau phủ tạng, hạ huyết áp nên rau ngót rất tốt cho người lớn tuổi.
Thanh nhiệt: rau ngót được dùng để thanh nhiệt, hạ sốt, trị ho do phế nhiệt. Dùng lá rau ngót tươi dưới dạng nước ép lá hoặc nấu canh rau ngót.
Canh giải nhiệt mùa hè: rau ngót nấu canh với hến, vừa có vị ngọt đậm đà, vừa thanh nhiệt. Sự phối hợp này lạnh, nên cho thêm lát gừng hoặc nên kiêng với người hư hàn.
Trị cảm nhiệt gây ho suyễn: rau ngót vị mát, có tính thanh nhiệt, lại chứa chất ephedrin, rất tốt cho những người bị cúm gây ho suyễn.
Giảm thân trọng: rau này có khả năng sinh nhiệt thấp (100g chỉ có 36 calori), ít glucid và lipid nhưng nhiều protein; do đó, rất phù hợp với thực đơn người muốn giảm thân trọng như mập phì, bệnh tim mạch và tiểu đường. Nên nấu canh rau ngót với thịt heo nạc, đậu hũ. . .
Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: người bệnh đái tháo đường chỉ được ăn ít cơm để glucoz-huyết không tăng nhiều sau bữa ăn. Rau ngót có inulin giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường chậm (đường và cơm là đường nhanh). Mặt khác, khả năng sinh nhiệt của inulin chỉ bằng 1/9 của chất béo.
Trị táo bón: rau ngót bổ âm, sinh tân dịch, nhiều chất xơ nên ngăn ngừa được táo bón. Phụ nữ sau sinh, nên dùng rau ngót để vừa bổ âm, sinh tân dịch, bù lại âm và tân dịch mất cùng máu khi sinh.
Tăng lượng sữa cho phụ nữ sau sinh: hiện nay, lá rau ngót chiết xuất đã được sử dụng như là một thành phần củng cố trong các thực phẩm chức năng dành cho bà mẹ cho criminal bú. Thưởng thức rau ngót có thể giúp bà mẹ tăng lượng sữa, điều này là do bắt nguồn từ những tác động nội tiết của các hợp chất hóa học sterols có tính chất estrogen.
Tăng lượng vitamin A: rau ngót là một nguồn vitamin A tương đối cao, giúp cơ thể để ngăn ngừa các bệnh về mắt, tăng trưởng tế bào, hệ miễn dịch, sinh sản, và duy trì làn da khỏe mạnh.
Cung cấp can xi: lá rau ngót có một mức canxi rất tốt. Đây là một trong những khoáng chất quan trọng nhất cần thiết cho cơ thể.
Đánh thức khả năng tình dục: lá rau ngót rất giàu các hợp chất có thể tăng chất lượng và số lượng tinh trùng, bao gồm cả khơi dậy tiềm năng và khả năng tình dục.
Trị sót nhau thai: rau ngót 20 – 30g, rửa sạch, giã nhuyễn, cho vào một ít nước đun sôi để nguội, vắt lấy khoảng 100ml; chia làm 2 phần để uống (mỗi lần cách nhau 10 phút). Sau chừng 30 phút, nhau sẽ ra và sản phụ hết đau bụng.
Cũng có thể dùng rau ngót giã nhuyễn rồi đắp vào giữa lòng bàn chân, nhưng cần lưu ý là khi nhau đã hết thì cần bỏ miếng băng thuốc ra ngay.
Rễ rau ngót có tác dụng lợi tiểu, thông huyết, kích thích tử cung co bóp, dùng 20 – 40g rễ tươi rửa sạch, giã nát ép lấy nước uống trong ngày.
Trị chảy máu cam: giã rau ngót thêm nước, ít đường để uống, bã còn lại gói vào vải đặt lên mũi.
Trị tưa lưỡi ở trẻ nhỏ: lá rau ngót 20g, rửa sạch, giã nhỏ, cho vào một ít nước lọc đã được đun sôi, để nguội dần (cho đến khi còn hơi ấm thì dùng), vắt lấy nước, dùng bông gòn hoặc vải mỏng để thoa nước này lên lưỡi, lợi, miệng của trẻ bệnh.
Trị tưa lưỡi ở người lớn: rau ngót 20g, xay với 300ml nước, lọc bỏ bã, mỗi ngày uống 3 lần vào sáng, trưa và tối. Kinh nghiệm cho thấy uống trong 3 ngày có chuyển biến tốt.
Trị đau mắt đỏ (viêm kết mạc): lá rau ngót 50g, rễ cỏ xước 30g, lá dâu 30g, lá tre 30g, rau má 30g, lá chanh 10g. Tất cả đều dùng tươi, sắc đặc, chắt lấy nước uống nhiều lần trong ngày.
Trị hóc xương: lấy rau ngót tươi rửa sạch, để ráo nước, giã nhuyễn, chắt lấy nước cốt ngậm khoảng 15 phút rồi nuốt dần dần sẽ có kết quả.
Trị đổ mồ hôi trộm, táo bón ở trẻ em: rau ngót 30g, bầu đất 30g, nấu với 1 cật heo thành canh cho trẻ ăn.
Đây không chỉ là món canh ngon, bổ dưỡng, có tác dụng chữa bệnh, mà còn là vị thuốc kích thích ăn uống với những trẻ chán ăn.
Giải rượu: giã lá rau ngót lấy nước uống.
Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, lá rau ngót cũng có một số nhược điểm. Ngoài việc hỗ trợ cho quá trình trao đổi chất trong cơ thể, glucocorticoid -kết quả của quá trình trao đổi chất của lá rau ngót, có thể gây cản trở cho quá trình hấp thụ canxi và phốt pho, cả canxi và phốt pho có trong lá rau ngót cũng như trong thực phẩm khác được ăn kèm với rau ngót.
Tại Đài Loan, có báo cáo cho thấy nhiều người ăn nước ép lá rau ngót (150g) trong 2 tuần đến 7 tháng đã xảy ra tác dụng phụ như có triệu chứng khó ngủ, ăn uống kém đi và khó thở. Tuy nhiên, những triệu chứng này biến mất sau một ngày ngừng tiêu thụ nước ép lá rau ngót.
Theo tờ Sriana, quá trình đun sôi cũng có thể làm giảm những tác động tiêu cực của lá rau ngót.
Những bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi
Khi thời tiết thay đổi, nhất là từ nóng sang lạnh, đây là lúc bắt đầu xuất hiện các bệnh lý về khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển mà thường gặp nhất là ở người cao tuổi.
Gút là bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi
Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.
Bệnh thấp khớp cấp
Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện ban đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, hay gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.
Viêm đa khớp dạng thấp
Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.
Bệnh gút
Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng acid uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.
Đau vai gáy, đau thắt lưng
Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một hay hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.
Co thắt các mạch máu đầu chi
Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…
Thoái hóa khớp
Là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.
Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi
Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi (NCT) có nhiều dạng khác nhau, trong đó dạng mạn tính hay gặp nhất, gây không ít phiền toái trong cuộc sống hàng ngày của họ.
Các dạng rối loạn tiêu hóa
Khi tuổi đã cao, sức đề kháng đã yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công, trong đó các bệnh về đường tiêu hóa rất dễ gặp. Nhiều NCT than phiền mệt mỏi, không thèm ăn, không muốn ăn. Nhiều người bệnh cho biết, họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ăn như những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm đáng kể bài tiết dịch vị (nước bọt, dịch vị, dịch ruột, dịch mật…).
Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm cho dễ nuốt nhưng cũng khó khắc phục được hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn. Lý do gây nghẹn ở NCT tuổi có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng và vì vậy sự co bóp của đường tiêu hóa cũng sẽ bị giảm đi, nhất là các cơ ở thực quản.
Do cơ của hệ tiêu hóa suy giảm chức năng và các men tiêu hóa của hệ đường ruột cũng bị suy giảm một cách đáng kể cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mơ nhiều đạm. Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn, khi có các loại thức ăn bổ dưỡng như bữa cơm có thịt, có cá hoặc rất ngại uống sữa.
NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm khi tuổi cao bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày – tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày).
Bệnh sa dạ dày ở NCT có thể xảy ra lúc tuổi đã cao mà lúc còn trai tráng hoặc trung niên không gặp phải, lý do cũng có thể là do các cơ của thành dạ dày bị yếu dần đi theo tuổi tác. Mặt khác do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể làm cho người bệnh lúc nào cũng thấy đầy bụng, chướng hơi, ăn không tiêu và chán ăn. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ).
Các bệnh rối loạn tiêu hóa và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là rối loạn tiêu hóa làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt lại làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên.
Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa, vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định làm cho việc tiêu hóa thức ăn tốt. Khi hệ thống gan mật không tốt, ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, viêm đường mật mạn tính hoặc sỏi mật.
Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu, đặc biệt táo bón ở NCT và cũng rất được quan tâm. Người ta tổng kết thấy NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây táo bón cho NCT nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ăn ít rau, quả hoặc không ăn, thêm vào đó lại uống ít nước. Càng ăn ít rau, uống ít nước kèm theo ít vận động, hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra và nếu để táo bón kéo dài thì gây nên nhiều biến chứng bất lợi cho NCT. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu. Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh mà rặn mạnh thì đau, chảy máu. Chính vì vậy, táo bón lại càng tăng lên, thỉnh thoảng lại xuất hiện cơn đau quặn bụng, nhất là đau bụng dưới mà hay gặp nhất là đau vùng hố chậu bên phải làm cho dễ nhầm với viêm ruột thừa. Lý do NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần nhất là tiểu đêm. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và nhất là có sa sút trí tuệ thì đó là điều bất lợi.
Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa như thế nào?
Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số bệnh gây rối loạn tiêu hóa ở NCT nhiều khi không cần dùng thuốc mà bệnh cũng có thể khỏi hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng bệnh rối loạn tiêu hóa cho NCT là có chế độ ăn hợp lý, kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái.
Một số NCT chán ăn, không thèm ăn, người nhà cần động viên và nếu cần bón giúp trong các bữa ăn, nhất là khi NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để làm sao làm cho họ không bỏ bữa. Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thì nên cho ăn thêm củ khoai lang luộc, ăn canh rau mồng tơi, rau đay và cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 2 lít trong một ngày đêm). Nếu bị bệnh về dạ dày thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi.
Trong các bệnh về rối loạn tiêu hóa ở NCT, vận động cơ thể là điều rất cần thiết. Vận động cơ thể ở NCT không có nghĩa là phải tập luyện các động tác mạnh mẽ, khó mà chỉ cần vận động nhẹ nhàng, ví dụ như xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ bắp hoặc đi bộ (nếu có thể). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân nhưng khi sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn hoặc có thể chơi thể thao như cầu lông, bơi… Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 – 3 lần tập. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như: đọc báo, xem vô tuyến, nghe đài… Nếu có câu lạc bộ cho NCT thì nên tham gia, nếu không có thể sinh hoạt theo nhóm.
Theo: SKĐS