Hiển thị các bài đăng có nhãn tiêu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiêu hóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 31 tháng 1, 2012

Tác dụng phụ của thuốc ở người cao tuổi

Do hệ miễn dịch suy yếu nên khả năng gặp tác dụng phụ của người cao tuổi khi dùng thuốc thường cao hơn và mức độ trầm trọng hơn. Những tác dụng không mong muốn đó nhiều khi có biểu hiện lâm sàng dễ bị nhầm lẫn với các rối loạn do bệnh gây ra.

Có nhiều nguyên nhân làm tăng tỷ lệ tai biến do thuốc ở người cao tuổi. Trước hết, người già hay đau ốm nên thường dùng nhiều thuốc hơn so với người trẻ. Sự lo lắng về sức khỏe khiến họ dễ tự ý dùng thêm thuốc, ngay cả khi chưa có bệnh với mục đích “dự phòng”. Người cao tuổi cũng hay nhầm lẫn trong sử dụng thuốc, đặc biệt về liều lượng và số lần.

Các bệnh mạn tính ở họ đòi hỏi sử dụng thuốc có tác dụng mạnh, khoảng cách an toàn hẹp. Mặt khác, ở tuổi già, quá trình dược động học của thuốc cũng thay đổi (tức ảnh hưởng đến quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, bài tiết để tạo nên tác dụng). Vì thế, họ dễ gặp những phản ứng bất ngờ và không có lợi của thuốc.

Khi có tác dụng phụ của thuốc, người cao tuổi thường gặp các biểu hiện như:

Buồn ngủ: Nói chung, các thuốc có tác dụng ức chế hệ thần kinh trung ương đều gây ngủ gà ngủ gật. Không chỉ thuốc an thần thuộc nhóm benzodiazepin mà cả thuốc chống dị ứng cũng có thể gây buồn ngủ (thuốc trị cảm, sổ mũi thường chứa chất này. Các thuốc chống trầm cảm, trị tăng huyết áp, đái tháo đường dạng uống… cũng vậy.

Rối loạn giấc ngủ: Thuốc giãn phế quản trị hen suyễn gây khó ngủ, thuốc lợi tiểu gây mất ngủ do tiểu tiện đêm, thuốc trị tăng huyết áp gây ác mộng; thuốc corticoid dùng lâu ngày có thể gây chứng ngừng thở khi ngủ. Thậm chí thuốc an thần loại benzodiazepin được dùng để trị khó ngủ cũng có thể gây tác dụng phụ là không ngủ được sâu.

Rối loạn nhận thức: Thuốc hướng thần, chống co giật, co thắt, trị tăng huyết áp, suy tim và một số thuốc kháng sinh gây lú lẫn, mất trí nhớ. Ở người cao tuổi, rối loạn này rất dễ nhầm lẫn với hiện tượng sa sút trí tuệ do lão suy.

Táo bón: Có khá nhiều thuốc gây táo bón ở mọi lứa tuổi như thuốc chống co thắt, an thần, chống trầm cảm…

Rối loạn tiểu tiện: Các thuốc chống trầm cảm, chống co thắt, dị ứng, an thần kinh, thuốc trị bệnh Parkinson… có thể hoặc gây khó tiểu hoặc tiểu tiện không kiểm soát (không nín tiểu theo ý muốn được).

Té ngã: Thuốc trị tăng huyết áp dễ khiến người cao tuổi bị hạ huyết áp tư thế đứng. Thuốc an thần nhóm benzodiazin, thuốc chống trầm cảm làm rối loạn thăng bằng, làm cho người cao tuổi dễ bị ngã. Người cao tuổi thường bị loãng xương (cả nam và nữ) nên sẽ rất nguy hiểm nếu bị ngã.

Rối loạn hoạt động tình dục: Nhiều loại thuốc ảnh hưởng đến hoạt động tình dục của người cao tuổi. Đó là các thuốc thuốc chống trầm cảm, thuốc trị rối loạn tâm thần, an thần, tăng huyết áp… Chúng có thể làm giảm ham muốn, gây “bất lực” ở nam giới.

Để hạn chế các tác dụng phụ khi dùng thuốc, người cao tuổi cần lưu ý:

- Không tự ý sử dụng thuốc bừa bãi, tốt nhất là dùng thuốc theo sự chỉ định của bác sĩ và hướng dẫn của dược sĩ.

- Khi đang dùng thuốc, nếu thấy có những rối loạn, những phản ứng bất thường, không nên tự ý bỏ hoặc thay thế thuốc khác mà nên trở lại bác sĩ đã kê đơn kể rõ sự việc để có hướng xử trí.

- Đối với các tác dụng phụ thuộc loại gây khó chịu, có thể áp dụng các biện pháp điều chỉnh sinh hoạt, ăn uống để khắc phục như: không làm việc đòi hỏi sự tỉnh táo nếu dùng thuốc gây buồn ngủ; ăn nhiều rau cải, uống nhiều nước nếu thuốc gây táo bón. Có thể tham khảo ý kiến với bác sĩ, dược sĩ về các biện pháp khắc phục này.

nguồn: SK&ĐS

Cây thuốc và vị thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

Các chứng bệnh đường tiêu hóa thường gặp
Người khó chịu buồn nôn, nôn; ỉa chảy, táo bón; Chán ăn, chậm tiêu; đau bụng vùng trên rốn, ợ hơi, ợ chua; đau bụng vùng dưới rốn kèm theo táo hoặc ỉa lỏng; đau bụng quanh rốn hay chảy dãi; Đau bụng vùng hố chậu phải, táo bón hay ỉa chảy; đau bụng vùng hố chậu trái, ỉa chảy hay táo bón
Mỗi  triệu chứng, mỗi vị trí đau biểu hiện bệnh cảnh khác nhau nên cách xử lý cũng khác nhau tất nhiên nếu dùng thuốc thì các vị thuốc cũng khác nhau. Đông y quy các chứng bệnh trên vào bệnh lý ở tỳ vị là chính, ngoài ra theo lý luận tạng phủ còn liên quan đến các cơ quan khác như: Phế – đại  tràng, Tâm – tiểu trường, Can – đởm. Nói như vậy để thấy tính phức tạp của những bệnh lý đường tiêu hóa. Trong phạm vi bài này  xin giới thiệu các vị thuốc theo sách vở hoặc kinh nghiệm dân gian thường truyền miệng nhau để đọc giả suy ngẫm và tham khảo.

Một số cây thuốc, vị thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

- Để chữa đau trên rốn, ợ chua dùng một trong các vị sau: lá khôi bánh tẻ lấy từ 7 – 10 lá rửa sạch giã lấy nước uống . Hoặc dạ cẩm dùng cả  cây và lá (bỏ rễ) rửa sạch giã một chét lấy nước uống, hoặc phơi khô sắc uống mỗi lần 12g. Hoặc củ nghệ con (củ nghệ cái có các củ nghệ con mọc ra xung quanh) đông y gọi là uất kim, giã 12 g lấy nước uống. Hoặc dạ dầy nhím -  thái nhỏ, rang khô  tán bột uống, mỗi lần 6 – 8 g ngày uống 2 lần. Hoặc màng trong mề gà ( đông y gọi là kê nội kim ) phơi khô, tán bột mịn uống mỗi lần 6-8 g. Hoặc mật ong ngày uống hai lần , mỗi lần 20g .
- Để chữa chán ăn , chậm tiêu có thể dùng một trong các vị sau: củ mài tán bột ngày uống 2 lần , mỗi lần 8g. Hoặc ý dĩ  tán bột ngày uống 2 lần, mỗi lần 20g. Hoặc bạch truật  tán bột ngày uống 2 lần, mỗi lần 15 g.
- Nếu bệnh nhân bị ỉa chảy số lần dưới 5 lần/ngày, sức khỏe toàn thân ít ảnh hưởng  dùng lá ổi hoặc lá sim một chét rửa sạch, giã lấy nước uống. Hoặc tô mộc 30g đun uống hoặc vỏ quả măng cụt tháI mỏng đun nước uống.
- Nếu phân nát có chất nhầy hay có cơn đau quặn vùng hố chậu và mót rặn dùng: lá mơ tam thể – mơ lông, lấy loại lá bánh tẻ, rửa sạch thái nhỏ, xào trứng không cho mỡ, ăn vào ngày 1- 2 lần, mỗi lần 1 quả trứng gà.
- Trường hợp bị táo bón, hay có cơn đau vùng hố chậu dùng: hạt muồng trâu 10 lá, rửa sạch giã lấy nước uống. Hạt thảo quyết minh (hạt muồng trâu) 20g đun uống Hoặc vừng đen rang chín tới trộn mật ong , ngày uống 2 lần , mỗi lần lấy 20g vừng + 20g mật ong  pha trong một cốc 200ml nước nóng để uống.

Các bài thuốc chữa bệnh đường tiêu hóa

- Nếu đau bụng trên rốn (thượng vị) ợ chua – đầy bụng, đói đau tăng, có thể kèm táo bón thì dùng: mộc hương 12g, hoàng liên 12g, cam thảo 8g, mẫu lệ 12g sắc uống.
- Nếu đau vùng thượng vị ợ hơi, đầy bụng đễ ỉa chảy hoặc phân thường nát, gặp lạnh đau tăng dùng: mộc hương 12g, sa nhân 12g, bạch truật 20g, cam thảo 8g sắc uống.
- Người bệnh đau bụng, buồn nôn, phân nát, đầy bụng, ăn chậm tiêu dùng: mộc hương 12g, bạch linh 12g, sa nhân 12g, kê nội kim 12g, đinh hương 6g, bán hạ chế 10g, cam thảo 6g sắc uống.
- Nếu bệnh để lâu người yếu, chán ăn, chậm tiêu dùng: đẳng sâm 20g, mộc hương 12g, thần khúc 12g, cam thảo 6g, bạch truật 16g, sa nhân 12g, hoài sơn 16g sắc uống.
- Nếu người bệnh đau bụng dưới, ỉa lỏng, không sốt, không nôn dùng: phá cố chỉ 12g, thương truật 16g, bình lang 10g, ngũ vị 8g, can khương 8g, bạch truật 16g sắc uống.
- Nếu người bệnh đau bụng dưới, táo bón, phân không có máu, mũi dùng: sinh địa 12g, đan bì 12g, chỉ thực 12g, đại hoàn 6g sắc uống.
- Nếu người bệnh ho lâu ngày, táo bón, da khô dùng: mạch môn 12g, ngũ vị 6g, sinh địa 12g, huyền sâm 12g, chỉ thực 12g, thục địa 16g sắc uống.
Rối loạn tiêu hóa thông thường ta tự chữa . Nhưng thấy nôn nhiều, ỉa chảy nhiều, người mệt mỏi, dấu hiệu mất nước nhiều, hoặc có sốt kèm theo cần cho đi khám để thầy thuốc chuyên khoa giải quyết, đừng tự chữa đề phòng hậu quả xấu.

GS. TS Dương Trọng Hiếu

Muối ăn và sức khỏe người cao tuổi

Người cao tuổi (NCT) thận yếu, các cơ quan như: hệ tiêu hóa, thận, tim… mang tính biến hóa suy thoái thấy rõ, sức đề kháng yếu, suy giảm chức năng… nên không thích hợp ăn mặn. Bởi lẽ, trong cơ thể nhiều muối thì cần lượng nước tương ứng để điều tiết, nước bài tiết không thông, tích tụ vào cơ bắp, làm cho cơ thể giữ nước thì hình thành thủy thũng.

NCT ăn muối quá nhiều càng dễ tạo thành cao huyết áp, ảnh hưởng chức năng tim, thận. Bởi vì, muối làm cho động mạch nhỏ co thắt, huyết áp tăng cao, cũng như thúc đẩy tăng nhanh quá trình xơ hóa của các động mạch tại thận, gây ra tăng huyết áp, tổn hại chức năng thận.

Bên cạnh đó, NCT cũng nên ít ăn cà muối, dưa muối, bởi đó là những thức ăn chứa nhiều muối, hơn nữa hàm lượng vitamin cực thấp, vì thế không thích hợp cho NCT ăn thường xuyên. Ăn muối nhiều sẽ gây ra rất nhiều bệnh, chẳng hạn như: bệnh tim, não, cao huyết áp, bệnh thận và xơ gan…

Cũng cần lưu ý, NCT do vị giác “lão hóa”, nhạy cảm với vị mặn kém, phản ứng kém với món ăn mặn, do vậy, cần đặc biệt quan tâm hơn, không nên chỉ khi miệng nếm thấy mặn mới cho là mặn, nhiều khi không cảm thấy mặn,  thì lượng natri đã quá nhiều rồi.

Theo bee.net

Bất thường đường huyết ở người cao tuổi

Đối với người cao tuổi (NCT), những bất thường xảy ra ở bất kỳ một cơ quan nào cũng là những yếu tố nguy cơ ảnh hưởng lớn đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng. Tăng hay giảm đường huyết (ĐH) là một trong những bệnh lý cần đặc biệt chú ý. Bài viết sau đây sẽ giúp độc giả, nhất là NCT có những hướng xử trí cần thiết nếu rơi vào tình trạng này.

Đường huyết bình thường (đo khi cơ thể nghỉ, xa bữa ăn) là 4,4-6,6 mmol/l. Khi ĐH nằm ngoài ngưỡng bình thường này được xem là tăng hay hạ. Về già, hệ thống điều hòa ĐH kém nhạy bén, do vậy dễ dẫn đến triệu chứng tăng hoặc hạ ĐH. Những biểu hiện bất thường này có thể gây ra những hậu quả xấu cho NCT.

Tăng Đường Huyết xảy ra khi nào?
Tình trạng tăng ĐH ở NCT (ngoại trừ người có bệnh đái tháo đường) trong hầu hết trường hợp là tạm thời (khi vận động, khi ở trạng thái tâm lý quá phấn khích: cáu giận, hoảng sợ, bực tức, lo phiền…). Với NCT, chỉ cần nhớ rằng nếu tình trạng trên kéo dài và xảy ra thường xuyên, có thể làm tiết nhiều adrenalin, gan cạn kiệt glucid – đe dọa chuyển sang hạ ĐH. Thêm nữa, những trạng thái tâm lý trên còn ảnh hưởng xấu tới tim mạch, huyết áp. Hình thức tập luyện khí công và thiền tỏ ra có tác dụng tốt.
Trường hợp tăng ĐH kéo dài gặp trong bệnh đái tháo đường. Ở NCT, bệnh này không do thiếu insulin mà do các tế bào sử dụng kém hiệu quả chất này, do vậy nói chung những năm đầu tiên chưa cần chữa bằng insulin (như với người trẻ). Hiện đã có rất nhiều loại thuốc chữa, dùng lâu dài, nhưng chọn loại nào thích hợp thì cần được thầy thuốc hướng dẫn và bệnh nhân tự theo dõi. Phát hiện sớm bệnh đái tháo đường ở NCT không dễ, vì ĐH tăng thường không gây ra triệu chứng mà bệnh được phát hiện do tình cờ.
Do vậy, ở tuổi trên 60 rất nên đo ĐH định kỳ. Không nên đo trong nước tiểu (vì có đường trong nước tiểu là bệnh đã tiến triển một thời gian dài). Đái tháo đường ở NCT thường đi liền với các bệnh khác như: xơ vữa động mạch vành, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, do vậy những yếu tố này cần được kiểm soát chặt chẽ, NCT cần có một chế độ ăn uống và tập luyện sau khi đã đi thăm khám và có ý kiến của bác sĩ.

Xử trí đúng khi bị hạ Đường huyết
Hạ ĐH do đột ngột tăng lượng sử dụng, trong khi kho dự trữ đường ở gan không còn dồi dào, hoặc không huy động kịp. Nói chung, gan NCT giảm khả năng dự trữ glucid, nhất là khi xa bữa ăn (một số cụ già cần ăn nhiều bữa).
Khi tiếp cận môi trường lạnh (do đột ngột ra lạnh mà không mặc đủ ấm, hoặc do ở lâu ngoài trời lạnh), người trẻ dễ thích nghi, còn NCT rất dễ hạ ĐH. Nếu NCT dùng sức đột ngột mà thiếu sự khởi động cho cơ thể kịp thích nghi, cũng dẫn đến hạ ĐH. Ví dụ, đột ngột thực hiện một loạt động tác thể dục tương đối mạnh, hoặc tập khi bụng đói…

Khi có cơn nóng giận kéo dài, không tự kiềm chế được…
Hạ ĐH do gan giảm dự trữ. Ở NCT, ngay sau khi ăn, tổng lượng đường ở gan vẫn thấp. Tình trạng này càng rõ nếu mắc các bệnh gan mạn tính (xơ gan, suy gan), đáng chú ý là gan của người nghiện rượu… Nhiều người nghiện từ thời trẻ, dần dần có thói quen uống mà quên ăn. Một dấu hiệu nói lên tình trạng hạ ĐH ban đêm là ngủ mê mệt, trong giấc mơ thấy mình ăn rất nhiều và ngon lành. Một nguy cơ là dự trữ protein của cơ thể có thể cạn kiệt dần, do biến thành glucose để chống hạ ĐH. Hậu quả là suy dinh dưỡng (khó phục hồi).

Hạ ĐH do sử dụng quá mức các biện pháp chữa bệnh đái tháo đường.
Có thể do người bệnh sử dụng một chế độ ăn quá nghèo glucid với mục đích tích cực chữa bệnh, phòng biến chứng. Nên nhớ rằng, dù mắc bệnh đái tháo đường, bệnh nhân vẫn cần một khẩu phần glucid đủ mức cần thiết, chủ yếu là loại glucid nguyên hạt. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân đái tháo đường bị hạ ĐH thường do sử dụng quá mức các thuốc hạ ĐH (hy vọng kiềm chế bệnh tốt hơn), mà không theo chỉ dẫn của thấy thuốc và không tự theo dõi định kỳ mức ĐH.
Tế bào não duy nhất chỉ sử dụng glucose làm thức ăn, mà không sử dụng mỡ, protein như mọi tế bào khác. Do vậy, nếu ĐH hạ đột ngột xuống dưới 4mmol/l sẽ có ngay các triệu chứng thần kinh: run rẩy, mắt hoa, xây xẩm; nếu giảm tới 3mmol/l sẽ có bủn rủn, choáng váng, vã mồ hôi lạnh, tim đập nhanh, mạch yếu… Nếu còn hạ tiếp sẽ co cứng hàm, lú lẫn, mất hẳn trương lực các cơ (ngã vật), hôn mê. Cùng một mức độ giảm ĐH, NCT thường có bệnh cảnh nặng hơn, khó cứu chữa hơn (so với người trẻ). Nếu hạ ĐH từ từ, thoạt tiên thấy đói cồn cào, bộ máy tiêu hóa co bóp mạnh. Sau đó cũng là run rẩy, mắt hoa, vã mồ hôi lạnh, tứ chi bủn rủn; do diễn biến kéo dài nên cơ thể trẻ đủ thời gian để kịp điều chỉnh (huy động protein); trái lại, NCT sự huy động này tỏ ra chậm chạp và kém hiệu lực, do vậy hậu quả thường nặng nề: có thể hôn mê, có thể thiểu lực kéo dài, có thể suy cạn kho protein khó hồi phục.
Trong tình trạng này, NCT cần ăn ngay các loại glucid dễ hấp thu: kẹo, bánh ngọt, khẩn cấp hơn có thể dùng nước đường (không dùng đường hóa học), nước quả cây, sữa… Trường hợp khẩn cấp phải truyền glucose vào máu.

GS. Nguyễn Ngọc Lanh (SKNCT/8-2011)

Nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.

Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết acid dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ acid đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều acid dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Tăng cường sức khỏe cho người già

Các thực phẩm dinh dưỡng cho người cao tuổi

[123Suckhoe] – Tuổi già đoạn cuối của cuộc đời, người già grain có nguy cơ mắc nhiều bệnh tật. Làm thế nào để người già sống vui, sống khỏe mỗi ngày?

Khi về già, chức năng hoạt động của hệ tiêu hóa kém hiệu quả, cường độ trao đổi chất trong cơ thể người cao tuổi cũng diễn ra chậm. Tuổi già grain thường xuyên mắc các bệnh như cao huyết áp, loãng xương, tai biến mạch máu não.

Vì thế, việc bổ sung một chế độ dinh dưỡng khoa học, phù hợp là điều rất quan trọng. Ngoài ra, nếu được nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí hợp lý cũng là bí quyết sống vui – sống khỏe cho người cao tuổi.

Với những thay đổi của cơ thể trước thời gian người già cần có những điều chỉnh về chế độ ăn uống để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng. Theo các chuyên gia bác sĩ khuyên rằng điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đầy đủ lượng vitamin và khoáng chất cần thiết. Người cao tuổi, nhất là những người bị bệnh tim mạch không nên ăn quá nhiều chất béo như thịt, trứng, bơ…mà cần ăn nhiều các loại củ quả và đặc biệt là rau xanh để đảm bảo sức khỏe và tránh béo phì và nguy cơ đột qụy.

Cùng với đó, sữa là nguồn thực phẩm giàu dinh dưỡng không những giúp cung cấp lượng canxi cần thiết, giàu đạm quý để nuôi hệ xương chắc khỏe mà còn bổ sung các vi dưỡng chất bị thiếu hụt một cách an toàn. Đây là một thức uống không thể thiếu cho người cao tuổi.

Bên cạnh chế độ ăn uống đầy đủ và hợp lý. Người già không nên ngồi nhiều một chỗ như thế không tốt cho sức khỏe. Mà thay vào đó là nên thường xuyên vận động nhẹ, hoặc tham gia các câu lạc bộ thể dục dưỡng sinh dành cho người cao tuổi giúp thư giãn gân cốt, cho xương chắc khỏe, và giúp cho máu lưu thông tuần hoàn.

Tập thể dục giúp cơ thể khỏe mạnh hơn

Ông Phạm Việt 73 tuổi (G3- Thành Công- Ba Đình- Hà Nội) chia sẻ, ông bị mắc căn biến mạch máu não cách đây gần 2 năm đi lại rất khó khăn nhưng nhờ thói quen đi bộ nên bây giờ đi lại dễ dàng và nhanh nhẹn hơn. ông cũng cho biết mỗi một ngày bỏ ra một tiếng cho việc đi bộ vào cả buổi sáng và buổi chiều sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh hơn và đặc biệt là tư tưởng thoải mái hơn rất nhiều.

Như vậy, việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cần phải kết hợp đúng cách và bản thân mỗi người già phải tự biết tạo lập cho mình một thói quen tốt, lành mạnh và tích cực để mỗi ngày khi về với tuổi già là một ngày sống vui, sống khỏe và sống có ích.

Người cao tuổi nên ăn mật ong thay đường

Ăn nhiều đường mía cũng như ăn nhiều muối, nhiều chất béo đều dẫn đến bệnh béo phì, xơ cứng động mạch, huyết áp cao, đái tháo đường, làm giảm sức đề kháng của cơ thể, khiến cơ thể dễ bị cảm cúm, loãng xương và bệnh mắt. Chính vì vậy, người cao tuổi không nên ăn nhiều đường mía. Khi cần ăn ngọt, có thể dùng mật ong thay thế, và như vậy vừa có thể ăn ngọt lại vừa có thể bảo vệ sức khỏe.


Bệnh dạ dày

Những người trung niên và lớn tuổi bị các bệnh về dạ dày nên thường xuyên uống mật ong, bởi vì mật ong có tác dụng điều tiết poison dạ dày, có thể dần dần điều tiết độ poison đạt đến mức bình thường.

Cách dùng: những người dạ dày ít acid, trước bữa ăn có thể ăn một ít mật ong, cũng có thể pha một ít nước nguội vào để uống. Những người có nhiều poison dạ dày thì nên pha mật ong với nước ấm để uống trước bữa ăn một giờ rưỡi hoặc sau bữa ăn 3 giờ.

Bệnh hô hấp

Mật ong có tác dụng giảm viêm, giảm đờm, mát phổi, trị ho. Cách điều trị ho tốt nhất là ăn lê cùng với mật ong.

Cách làm: thái lát mỏng một quả lê rồi trộn với mật ong, một ngày ăn vài lần.

Bệnh tim mạch

Thường xuyên ăn mật ong có tác dụng bảo vệ mạch máu, hạ huyết áp, tăng cường tiêu hóa, dễ đại tiện.

Cách dùng: trước khi ăn sáng uống một cốc nước mật ong, và buổi tối trước khi đi ngủ lại uống một cốc nữa.

Bệnh đường ruột

Mật ong còn có tác dụng tăng cường sức co bóp của đường ruột, có thể rút ngắn rõ rệt thời gian đại tiện.

Cách dùng: uống khoảng 25g mật ong vào trước bữa ăn sáng và tối.

Giải rượu

Chất đường hoa quả trong mật ong có thể phân giải việc hấp thụ chất cồn, vì vậy có thể giúp tỉnh rượu nhanh hơn và không bị nhức đầu sau khi uống rượu. Ngoài ra, mật ong còn có tác dụng hỗ trợ cho việc điều trị các bệnh mạn tính như: viêm gan B, gan nhiễm mỡ, xơ gan…

Cách dùng: trước khi uống rượu nên ăn khoảng 50g mật ong hoặc mấy chiếc bánh quy phết mật ong. Sau khi uống rượu cũng nên uống nước mật ong. Mật ong sẽ nhanh chóng bổ sung nhu cầu năng lượng của não.

Cung cấp năng lượng

Cơ thể có thể nhanh chóng hấp thụ chất đường hoa quả và glucoza của mật ong, cải thiện tình hình dinh dưỡng trong máu.

Cách dùng: uống một cốc nước mật ong vào buổi trưa.

Giúp dễ ngủ

Glucoza, các vitamin, magiê, photpho trong mật ong có thể điều tiết chức năng của hệ thần kinh, khiến cho thần kinh đỡ căng thẳng và ngủ được ngon giấc.

Mật ong không có tác dụng phụ như những loại thuốc khác. Mật ong hoa táo có tác dụng hỗ trợ thần kinh tốt nhất.

Cách dùng: trước khi đi ngủ uống một thìa mật ong.

Theo SKDS

Sử dụng thực phẩm hợp lý cho người cao tuổi

Con người tạo ra thức ăn, nhưng cũng có thể nói thức ăn tạo ra criminal người. “Hãy nói cho tôi biết anh ăn gì, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai!”. Khi được biết cụ thể về tình hình ăn uống của một người, ta có thể biết những điều khá cơ bản về người ấy như sức khỏe, nề nếp sinh hoạt, tính tình, khả năng lao động, triển vọng sức khỏe, bệnh tật. Sống lâu grain chết sớm.

Gạo: tốt nhất là ăn loại gạo lứt, gạo toàn phần nhưng đã loại cám riêng ra cho gạo mềm, dễ nhai. Khi nấu, có thể trộn với cám. Cơm cám ăn với muối vừng rất béo và rất ngon. Đây là cách ăn thông minh của nhân dân vùng biển Giao Thủy – Nam Định trước đây. Gạo lứt là gạo đặc biệt dành cho các cụ có điều kiện, có nhiều thời giờ, còn bình thường chỉ cần chọn gạo dẻo, không mốc và không xát quá trắng.

Khoai củ các loại: người cao tuổi thường ăn bớt cơm và thay vào đó nên ăn nhiều loại khoai. Khoai có khối lượng lớn, gây cảm giác no, nhưng cho ít năng lượng, không gây béo mà lại có nhiều chất xơ giúp chống táo bón, giúp thải cholesterol thừa và đề phòng ung thư đại tràng.

Đậu tương hoặc đậu nành: đậu các loại có giá trị dinh dưỡng rất cao, giàu chất đạm. Riêng đậu tương còn có thêm nhiều poison béo không no rất quý, cần khuyến khích trồng ở mọi vùng và chế biến đậu tương ra nhiều loại thức ăn.

Lạc, vừng: giàu chất đạm, chất béo, nhiều poison béo không no. Nên chế biến sẵn một lọ nhỏ vừng, lạc để ăn dần bổ sung vào bữa ăn trong vòng một tuần.

Rau: bữa ăn nào cũng cần có món rau, đặc biệt là rau xanh có chứa nhiều bêta-caroten.

Quả chín: rất quý, nhất là đối với người cao tuổi. Nguồn cung cấp nhiều vitamin và chất khoáng, nhiều chất chống oxy hóa (AO). Cần gây thành tập tục có quả tráng miệng sau bữa ăn.

Thịt, cá: mỗi tuần lễ tối thiểu có ba bữa cá, thịt tùy theo khả năng. Bình quân đầu người cao tuổi 1kg/tháng.

Trứng: là món ăn có giá trị dinh dưỡng cao nhưng không phải cứ ăn nhiều trứng là tốt. Đối với người khỏe mạnh, một tuần cũng không nên ăn quá 6 quả trứng vì trong trứng có nhiều cholesterol. Đối với người cao tuổi vừa trải qua những bệnh làm cơ thể gầy sút nhiều nếu không có chống chỉ định của thầy thuốc có thể ăn 3 quả trứng một tuần. Không nên cho những người có triệu chứng của bệnh thiếu máu, rối loạn tuần hoàn não ăn trứng. Tốt nhất khi ăn trứng nên kèm theo ăn sữa vì trong sữa có nhiều lecithin có thể trung hòa tác dụng của cholesterol.

Sữa: đối với người cao tuổi, ăn sữa rất bổ và dễ tiêu. Đặc biệt sữa chua vừa bổ vừa có tác dụng điều hòa hoạt động của bộ máy tiêu hóa. Nếu có điều kiện, mỗi ngày các cụ nên uống một cốc sữa chua.

Mật ong: mật ong có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể. Trong điều trị học, mật ong được sử dụng có kết quả tốt trong các bệnh viêm, loét dạ dày, tá tràng, đại tràng, các trạng thái suy yếu gan, thần kinh. Người cao tuổi có đặc điểm giảm mức chịu đựng đối với chất ngọt, vì thế không được ăn quá 20g đường mỗi ngày, trong đó có tính cả mật ong.

Mắm: đối với người cao tuổi, tuy mắm rất ngon nhưng không nên ăn thường xuyên và mỗi lần ăn cũng nên ăn ít vì lượng muối NaCl trong mắm rất cao, không thích hợp với cơ thể người cao tuổi.

Muối: đã có nhiều công trình nghiên cứu và các cuộc điều tra dịch tễ học dinh dưỡng ở thực địa về mối liên quan không thể chối cãi giữa mức tiêu thụ muối ăn với mức độ thường gặp ở bệnh tăng huyết áp. Vì vậy nên ăn giảm muối 6g/ngày.

Rượu: đối với người trẻ, khỏe mạnh, cơ thể có thể chuyển hóa rượu tạo ra năng lượng, 1g rượu nguyên chất cho 7 calo, 24 giờ không nên uống rượu quá 100g và uống rải ra nhiều lần trong ngày. Khác với thức ăn thường, rượu được hấp thụ rất nhanh. Ở đoạn đầu của ruột non, 80% lượng rượu được hấp thu vào máu và từ đó đến tất cả tổ chức, nhiều nhất và lâu nhất ở não và ở gan. Người cao tuổi thường có nhiều nhược điểm về sức khỏe, tăng huyết áp, vữa xơ động mạch, thiếu máu cơ tim, rối loạn tuần hoàn não, chức năng thận, gan bị suy yếu, thường mắc bệnh đái tháo đường. Những nhược điểm này là tiền đề cho nhiều tai biến như tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim. Cho nên với người cao tuổi, rượu kể cả rượu thuốc là một đồ uống nên tránh sử dụng đều đặn hàng ngày. Đối với người cao tuổi khỏe mạnh, rượu nhẹ loại lên group như rượu vang, bia dùng trong những ngày vui có thể cho phép dùng với liều nhỏ.

Theo SKDS

Bệnh khớp ở người cao tuổi

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện anathema đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, grain gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, grain di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng poison uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một grain hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý grain gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc group thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Thứ Hai, 30 tháng 1, 2012

Cấp cứu người cao tuổi bị nghẹn

Người già, niêm mạc của ống tiêu hóa teo dần, thành biểu mô của niêm mạc miệng cũng mỏng hơn, lợi co rút lại, khiến khả năng nhai giảm nên dễ bị nghẹn, nhất là khi lơ đãng.

Thức ăn dễ rơi nhầm vào khí quản, gây ho sặc sụa và nghẹt thở, sắc mặt đỏ tía rồi tím ngắt, thần sắc lờ đờ, nấc cụt, có thể tử vong trong vài phút nếu không được cấp cứu kịp. Vì vậy, xử lý anathema đầu rất quan trọng. Trường hợp, bệnh nhân vẫn tỉnh táo, để nạn nhân ngồi, hơi cúi nửa người ra phía trước.

Động viên họ gắng sức ho mạnh nhằm đẩy thức ăn ra ngoài hoặc ít ra cũng tạo được khe hở để thở. Người cấp cứu đứng ở phía sau, dùng khuỷu tay đập mạnh 4 cái vào vùng lưng giữa hai xương bả vai.

Nếu tình huống cho phép, để nạn nhân hơi cúi về phía trước, người cấp cứu đứng phía sau, 2 tay ôm chặt ngang bụng nạn nhân, dùng ngón cái xiết mạnh vào bụng trên 4 lần theo chiều dưới lên.

Trường hợp bệnh nhân bất tỉnh, để nằm nghiêng, người cấp cứu một mặt lấy ngón tay ấn lưỡi nạn nhân xuống, một mặt dùng khuỷu tay đánh mạnh 4 cái vào vùng lưng, giữa hai xương bả vai. Hoặc để nạn nhân nằm ngửa, đầu ngả ra sau, người cấp cứu tỳ chặt khuỷu tay vào bụng trên nạn nhân, hích 4 cái hướng vào trong và lên trên…

Ngoài các cách cấp cứu nêu trên, có thể để nạn nhân nằm nghiêng, dùng hai ngón tay móc hoặc kẹp thức ăn bị tắc ra. Khi đã dùng hết mọi cách mà vẫn chưa cứu được, phải tích cực ép ngực, làm hô hấp nhân tạo. Khi tình trạng tắc nghẹn không thể giải quyết được thì phải dùng loại kim tiêm lớn chọc thẳng vào khí quản, chỗ trên hõm cổ khoảng 1cm, mở đường thông khí, duy trì sự sống. Song strain với việc cấp cứu, cần kịp thời gọi bác sĩ ngay.

 

 

Đề phòng té ngã ở người già

Những vật dụng nhà bếp có thể gây hại cho người già, đặc biệt những người mắc bệnh về rối loạn nhận thức như Alzheimer hoặc mất trí nhớ. Vì vậy, chúng ta nên:

- Dọn dẹp những tấm thảm nhỏ trên sàn nhà bếp, vì chúng là nguyên nhân thường gây té ngã ở người già.

- Không cất trữ những chất lỏng dễ cháy trong nhà bếp, hãy để chúng vào nơi an toàn bên ngoài nhà bếp. Kiểm tra đồng thời bên dưới bồn rửa chén và phòng chứa vật dụng để bảo đảm không cất giữ những thứ dễ gây cháy.

- Vất bỏ những vật dụng không cần dùng nữa, đề phòng nguy hiểm.

- Cất giữ cẩn thận những vật dụng sắc nhọn trong hộc tủ đề phòng có thể gây thương tích.

- Thiết kế chiếu sáng cho nhà bếp vào ban đêm.

- Nếu cần thiết, hãy cất gọn những vật dụng làm bếp như máy xay, máy trộn, lò nướng, máy pha cà phê đề phòng tai nạn tiềm ẩn. Nhớ tháo dây điện ra khỏi vật dụng và cất giữ nơi an toàn.

Phòng tắm là nơi thường xảy ra tai nạn ở người già nhất, vì thế cần chú ý:

- Hãy đặt những tấm lót bằng cao su, không trơn trượt trên sàn phòng tắm và thảm chùi chân không trơn trượt trong bồn tắm và/hoặc vòi hoa sen.

- Thiết kế tay vịn ở mỗi cạnh của bồn vệ sinh và chỗ ngồi cao của bồn vệ sinh. Đồng thời thiết kế những thanh nắm trong bồn tắm và/hoặc vòi hoa sen.

- Cần bảo đảm nhiệt độ nước tắm an toàn, vì nhiều người già thường mất cảm nhận về nhiệt độ và có thể gây phỏng.

- Kiểm tra cẩn thận vòi nước nóng đang ở nhiệt độ nóng hoặc lạnh. Thống nhất quy ước nhiệt độ nước chẳng hạn như màu đỏ là nước nóng, màu xanh là nước lạnh.

- Sắp xếp những vật dụng nhỏ trong phòng tắm tránh xa bồn rửa hoặc bồn tắm và lắp ráp các giá để đựng chúng.

- Làm dính vật chứa xà bông trên tường chỗ vòi hoa sen để tránh trơn trượt và té ngã khi người già gắng sức lấy cục xà bông bị đánh rơi dưới sàn.

Thực phẩm duy trì sức khỏe cho người cao tuổi

Ở người cao tuổi có sự giảm chế tiết dịch dạ dày, giảm diện tích hấp thu ở ruột, giảm khối lượng gan và chức năng chế tiết ở gan. Ðiều này dẫn tới sự giảm hấp thu xảy ra với hầu hết các chất dinh dưỡng mà chúng ta sử dụng. Vì thế, chúng ta cần có những giải pháp mang tính bù trừ.

Tuổi tăng nhưng hấp thu không tăng

Ảnh: minh họa.

Sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng được thực hiện nhất quán và duy nhất bởi hệ thống tiêu hóa, một hệ thống cơ quan từ miệng tới hậu môn. Chúng ta cần biết là song hành cùng với tuổi, hệ thống tiêu hóa của người cao tuổi có sự suy giảm đáng kể ở một số chức năng. Tuy người ta vẫn coi sự thay đổi này là nhỏ, nhưng những gì đang diễn ra liên tục hằng ngày như tiêu hóa, ăn uống thì lại có những thay đổi tích luỹ mang tính chất cộng hưởng lớn.

Chẳng hạn như lượng axit do dạ dày chế tiết, lượng axit này bị giảm xuống khi tuổi cao. Người ta thấy, axit dạ dày bị giảm 31% ở độ tuổi 60. Sự giảm sút về lượng axit dạ dày sẽ ảnh hưởng không nhỏ tới việc tiêu hóa thức ăn.

Bên cạnh đó người ta còn thấy, các cơ ruột non giảm vận động tương đối. Lưu lượng máu tuần hoàn qua hệ tiêu hóa cũng bị suy giảm khi chúng ta bước sang tuổi về già. Thực hiện những nghiên cứu đo đạc, người ta ước lượng được rằng tổng lượng máu tuần hoàn qua hệ tiêu hóa này giảm tới 30% so với khối lượng máu tuần hoàn ở thời trẻ.

Cũng từ những nghiên cứu dinh dưỡng, người ta thấy có sự giảm diện tích hấp thu ở ruột, giảm khối lượng và chức năng chế tiết ở gan. Điều này dẫn tới sự giảm hấp thu xảy ra với hầu hết các chất dinh dưỡng (đạm, đường, mỡ đến các vi chất).

Ăn để dễ hấp thu

Với những thay đổi ở người cao tuổi, chúng ta nên có những sự điều chỉnh phù hợp về mặt nuôi dưỡng để đảm bảo mục tiêu dinh dưỡng.

- Điều đầu tiên cần nhớ đó là đảm bảo một chế độ dinh dưỡng đầy đủ và cân bằng. Đủ về mặt thành phần và cân bằng về tỷ lệ. Chúng ta cần ăn đủ về lượng và đa chất như bột đường, đạm, mỡ, các vi chất dinh dưỡng…

Nên biết, chất bột đường có nhiều trong các thực phẩm ngũ cốc, cơm, cháo, phở, miến, mỳ. Các chất đạm có nhiều trong các thực phẩm có nguồn gốc động vật như thịt lợn, thịt gà, thịt bò, cá, tôm, trứng, sữa và các loại thực phẩm thực vật giàu đạm khác như đậu, lạc, vừng. Chất béo có nhiều trong dầu thực vật các loại như dầu vừng, dầu đậu nành, dầu dừa, hướng dương…

Các vi chất dinh dưỡng được tìm thấy rất nhiều trong rau củ quả như rau bắp cải, rau muống, rau ngót, su su, su hào, cam, quýt, dưa hấu, xoài. Điều lưu ý: vì vận động của hệ tiêu hóa giảm ở người cao tuổi nên cần thêm lượng chất xơ vào chế độ ăn bằng cách thêm lượng rau củ quả. Với người bình thường lượng rau củ quả khoảng 500g, thì với người già, lượng này nên duy trì và có thể tăng thêm. Ngoài ra, cần giảm lượng đạm động vật trong các loại thịt mà thay thế vào đó là các loại tôm, cá, sữa. Chỉ nên ăn dưới 150g thịt các loại trong 1 ngày.

- Điều thứ hai nên quan tâm là thực phẩm cần được nấu nhừ và nếu có thể nên được cắt nhỏ. Điều này là rất quan trọng vì hoạt động cơ học nghiền nát thức ăn ở người cao tuổi giảm, lượng nước bọt giảm. Nếu không làm tốt những điều này, người cao tuổi không những không thích ăn mà còn khó đưa thức ăn vào dạ dày. Mà giả sử có đưa vào trong dạ dày thì lượng axit dạ dày giảm khó phân cắt thức ăn thành những mảnh nhỏ để thực hiện hấp thu.

Vì thế để dễ hấp thu và ngấm men tiêu hóa, chúng ta nên nấu nhừ và cắt nhỏ thức ăn. Chẳng hạn như món thịt hầm thường để từng miếng thịt như bao diêm nhưng với những người cao tuổi chỉ nên để cỡ 1/6 hay 1/8 là vừa. Kích cỡ này dễ ăn và dễ ngấm men tiêu hóa hơn.

- Điều thứ ba là người cao tuổi bị giảm hấp thu một số vi chất dinh dưỡng quan trọng như vitamin D, vitamin B12 và axit folic. Những vi chất dinh dưỡng này có tác dụng tốt với hệ xương và cơ quan tạo máu. Thế nên khi cung cấp chất dinh dưỡng, chúng ta cần lưu tâm về những thực phẩm giàu chúng để tăng cường thêm những vi chất này cho cơ thể. Súp lơ, nấm cũng là những thực phẩm khuyên dùng.

Cũng đừng quên giúp người cao tuổi tắm nắng vì điều này sẽ nâng cao sức khoẻ một cách đáng kể. Vừa tốt cho xương, vừa tốt cho hệ miễn dịch lại thêm thoải mái về tinh thần. Những tia nắng đầu tiên trong ngày và những giờ nắng cuối cùng là tốt nhất.

(Theo: BS.Yên Lâm Phúc (Học viện Quân y)- Báo Sức khỏe Đời sống)

Những bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

Khi thời tiết thay đổi, nhất là từ nóng sang lạnh, đây là lúc bắt đầu xuất hiện các bệnh lý về khớp như: viêm khớp, thoái hóa khớp tiến triển mà thường gặp nhất là ở người cao tuổi.

Gút là bệnh khớp thường gặp ở người cao tuổi

 

Khi trời trở lạnh kèm theo độ ẩm tăng cao từ đó cơ thể sẽ tạo ra phản ứng để đối phó bằng cách làm co các mạch máu ngoại vi, cho nên sẽ giảm cung cấp máu cho các cơ quan ngoại biên trong đó có da, cơ, khớp, vì vậy sẽ gây ra các triệu chứng như đau mỏi cơ xương khớp, co cứng cơ vùng vai gáy, thắt lưng.

Bệnh thấp khớp cấp

Bệnh xuất hiện sau khi nhiễm khuẩn đường hô hấp trên, đặc biệt là viêm họng do nhiễm liên cầu khuẩn beta nhóm A. Những biểu hiện ban đầu như: viêm họng, sốt cao, rồi sau đó vài tuần kể từ khi bị viêm họng, người bệnh có thể xuất hiện các triệu chứng của bệnh thấp khớp cấp. Trong bệnh lý thấp khớp cấp, tình trạng viêm khớp có tính chất đột ngột, hay gặp ở các khớp như: khớp gối, cổ chân, khuỷu tay, cổ tay, ít gặp viêm các khớp nhỏ ở bàn tay, bàn chân hoặc viêm một khớp đơn độc. Các khớp bị viêm sưng to, nóng, đỏ, đau, có thể có dịch nhưng không bao giờ bị hóa mủ. Khớp viêm thường không đối xứng, hay di chuyển từ khớp này sang khớp khác. Viêm khớp có thể tự khỏi nhưng nếu có dùng thuốc chống viêm thì chúng sẽ khỏi rất nhanh.

Viêm đa khớp dạng thấp

Bệnh chủ yếu gặp ở nữ giới, là tình trạng viêm khớp kéo dài với các đợt sưng, nóng, đỏ, đau ở nhiều khớp, thường gặp nhất là các khớp nhỏ ở bàn tay, khớp cổ tay, khuỷu, gối, cổ chân, bàn ngón chân, cả 2 bên. Nếu không được điều trị, các khớp nhanh chóng bị biến dạng, dính khớp. Khi bệnh ở vào giai đoạn muộn thường gặp ở các khớp như: vai, háng, cột sống cổ với các biểu hiện như vào buổi sáng, sau khi mới ngủ dậy, người bệnh thấy có cảm giác đau và cứng tại các khớp bị viêm, khó vận động. Dấu hiệu này thường gặp ở các khớp cổ tay và bàn tay, khiến người bệnh phải làm các động tác như: gấp, xoay cổ tay… trong một thời gian dài các khớp mới có thể hoạt động trở lại bình thường. Sau những đợt sưng đau khớp kéo dài có thể vài tháng đến vài năm, các khớp này sẽ bị biến dạng như: bàn tay bị vẹo, cổ tay sưng, các ngón tay ngón chân cũng bị biến dạng, các cơ teo; từ đó làm cho người bệnh rất khó khăn trong việc vận động, thậm chí ở giai đoạn muộn, bệnh nhân trở thành tàn phế.

Bệnh gút

Đây là một bệnh do rối loạn chuyển hóa, trong đó có tình trạng tăng acid uric máu và là đặc điểm chính của bệnh. Bệnh thường gặp ở nam giới, bệnh có mối liên quan đến chế độ ăn uống của người bệnh như: ăn quá nhiều chất đạm, uống quá nhiều bia, rượu… Trong cơn gút cấp và điển hình, bệnh có một số đặc điểm như cơn đau thường khởi phát đột ngột vào nửa đêm với các dấu hiệu như: sưng khớp ngón chân cái, đau dữ dội có cảm giác bỏng rát, đôi khi sốt cao, da trên chỗ khớp bị tổn thương, bị hồng hoặc đỏ tím.

Đau vai gáy, đau thắt lưng

Đây là tình trạng viêm các điểm bám tận của các gân vào đầu xương, thường gặp trong chứng bệnh đau cân cơ. Bệnh thường gặp ở những nhân viên văn phòng, đánh máy tính. Bệnh thường xảy ra vào mùa lạnh vì khi đó các cơ thường co lại trong tư thế rút vai, rụt cổ để chống lạnh, để hạn chế sự tỏa nhiệt của cơ thể. Vì tư thế này là một phản xạ tự nhiên của cơ thể cho nên nó được duy trì trong thời gian dài, từ đó làm cho các cơ cạnh cột sống bị giữ ở một tư thế lâu, gây ra mỏi cơ. Bệnh có thể gây đau một hay hai bên bả vai, làm hạn chế các hoạt động như: cúi, ưỡn, nghiêng.

Co thắt các mạch máu đầu chi

Đây là một bệnh rất thường gặp, nhất là khi tiếp xúc với lạnh, khi đó đầu ngón tay, ngón chân bị trắng bệch, tê buốt do thiếu máu đầu chi, rồi sau đó chúng trở nên tím ngắt, căng tức. Đây là một bệnh hệ thống, do bất thường về hệ thống miễn dịch, có biểu hiện ở tất cả các cơ quan trong cơ thể nhưng thường thấy nhất như da dày lên, mờ hoặc mất các nếp nhăn trên mặt, khó há miệng, lắng đọng canxi ở tổ chức dưới da, giảm tiết dịch các tuyến ngoại tiết như: tuyến nước bọt, tuyến nước mắt, dịch tiêu hóa…

Thoái hóa khớp

Là bệnh lý hay gặp ở người cao tuổi, do quá trình lão hóa của sụn khớp, sụn bị mất tính đàn hồi, mỏng dần đi, làm lộ tổ chức xương dưới sụn, gây đau và hạn chế vận động. Khi trời lạnh, các gân cơ bị co rút lại, dịch khớp đông quánh hơn làm cho các khớp trở nên cứng hơn, khó cử động hơn. Hơn nữa khi trời lạnh, các thói quen tập luyện hàng ngày cũng bị giảm đi, cũng góp phần làm bệnh nặng thêm. Để bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các bệnh lý nhất là ở người cao tuổi, ngoài các biện pháp bảo vệ sức khỏe chung như dinh dưỡng hợp lý, sinh hoạt điều độ, tuân thủ chế độ thuốc men thường xuyên của mình. Khi đã mắc phải các bệnh về khớp, người bệnh cần lưu ý nhất là khi trời lạnh cần phải giữ ấm toàn thân, nhất là bàn tay, bàn chân, cần thiết phải đội mũ, đeo găng tay, quàng khăn ấm, đeo khẩu trang khi ra ngoài đường. Có thể ngâm bàn tay, bàn chân trong nước muối ấm hoặc dùng túi chườm nóng, lò sưởi. Một điều vô cùng quan trọng trong điều trị các bệnh khớp mạn tính là phải dùng thuốc trong thời gian dài, hàng năm, có khi suốt đời chứ không điều trị qua loa rồi ngưng thuốc.

Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi

Người cao tuổi nên dùng nhiều rau xanh và trái cây để hệ tiêu hóa hoạt động tốt Rối loạn tiêu hóa ở người cao tuổi (NCT) có nhiều dạng khác nhau, trong đó dạng mạn tính hay gặp nhất, gây không ít phiền toái trong cuộc sống hàng ngày của họ.

Các dạng rối loạn tiêu hóa

Khi tuổi đã cao, sức đề kháng đã yếu thì nhiều loại bệnh có thể tấn công, trong đó các bệnh về đường tiêu hóa rất dễ gặp. Nhiều NCT than phiền mệt mỏi, không thèm ăn, không muốn ăn. Nhiều người bệnh cho biết, họ không có cảm giác đói và cũng không có cảm giác thèm ăn như những năm về trước. Đây là một trong những nguyên nhân vì sự suy thoái dần dần của hệ tiêu hóa do tuổi tác nhất là sự giảm đáng kể bài tiết dịch vị (nước bọt, dịch vị, dịch ruột, dịch mật…).

Có không ít NCT khi ăn bị nghẹn cho dù ăn và nhai rất chậm, không vội vàng gì. Có trường hợp để đề phòng nghẹn người ta cho canh vào cơm cho dễ nuốt nhưng cũng khó khắc phục được hơn nữa nếu làm như vậy thức ăn không được nhào trộn kỹ lại càng làm cho dễ nghẹn hơn. Lý do gây nghẹn ở NCT tuổi có thể do các loại cơ ở bộ phận tiêu hóa dần dần bị xơ teo theo năm tháng và vì vậy sự co bóp của đường tiêu hóa cũng sẽ bị giảm đi, nhất là các cơ ở thực quản.

Do cơ của hệ tiêu hóa suy giảm chức năng và các men tiêu hóa của hệ đường ruột cũng bị suy giảm một cách đáng kể cho nên NCT cũng rất dễ bị sôi bụng, đầy hơi, đi ngoài phân không thành khuôn (phân nát), nhất là mỗi lần ăn một số thức ăn nhiều mơ nhiều đạm. Đây cũng là một trong các lý do làm cho NCT ngại ăn, khi có các loại thức ăn bổ dưỡng như bữa cơm có thịt, có cá hoặc rất ngại uống sữa.

NCT cũng có thể mắc một số bệnh mạn tính từ trước do không được điều trị dứt điểm khi tuổi cao bệnh càng nặng thêm như bệnh về dạ dày – tá tràng (viêm, loét hoặc sa dạ dày).

Bệnh sa dạ dày ở NCT có thể xảy ra lúc tuổi đã cao mà lúc còn trai tráng hoặc trung niên không gặp phải, lý do cũng có thể là do các cơ của thành dạ dày bị yếu dần đi theo tuổi tác. Mặt khác do NCT ít vận động, cơ dạ dày và cơ thành bụng đã bị suy giảm đáng kể làm cho người bệnh lúc nào cũng thấy đầy bụng, chướng hơi, ăn không tiêu và chán ăn. Sa dạ dày ở NCT làm cho họ lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc, ngủ không sâu hoặc rất ít ngủ).

Các bệnh rối loạn tiêu hóa và rối loạn giấc ngủ ở NCT có liên quan mật thiết với nhau và thường trở thành một vòng luẩn quẩn, tức là rối loạn tiêu hóa làm cho giấc ngủ không tốt, giấc ngủ không tốt lại làm cho rối loạn tiêu hóa tăng lên.

Bệnh về gan mật cũng là một trong các bệnh thuộc hệ tiêu hóa, vì chức năng gan tốt và bài tiết dịch mật ổn định làm cho việc tiêu hóa thức ăn tốt. Khi hệ thống gan mật không tốt, ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu hóa. Một số NCT mắc một số bệnh về gan hoặc một số bệnh về mật cũng làm cho hệ tiêu hóa bị ảnh hưởng, thậm chí ảnh hưởng rất lớn, ví dụ như bệnh viêm gan mạn tính, bệnh xơ gan, viêm đường mật mạn tính hoặc sỏi mật.

Táo bón là một bệnh gây nên nhiều hậu quả xấu, đặc biệt táo bón ở NCT và cũng rất được quan tâm. Người ta tổng kết thấy NCT bị bệnh táo bón cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể. Có nhiều nguyên nhân khác nhau gây táo bón cho NCT nhưng có một số lý do thường gặp nhất là do chức năng và hệ men tiêu hóa của đường ruột giảm sút, do ít vận động và đặc biệt là do NCT trong các bữa ăn chính ăn ít rau, quả hoặc không ăn, thêm vào đó lại uống ít nước. Càng ăn ít rau, uống ít nước kèm theo ít vận động, hiện tượng táo bón càng dễ xảy ra và nếu để táo bón kéo dài thì gây nên nhiều biến chứng bất lợi cho NCT. Hay gặp nhất trong hậu quả của táo bón ở NCT là người lúc nào cũng cảm thấy mệt mỏi do các chất độc tố có trong phân, trong đó rất nhiều độc tố của vi khuẩn ngấm vào máu. Táo bón rất dễ gây nên bệnh trĩ, nứt kẽ hậu môn cho nên mỗi lần đi ngoài NCT rất sợ vì phải rặn mạnh mà rặn mạnh thì đau, chảy máu. Chính vì vậy, táo bón lại càng tăng lên, thỉnh thoảng lại xuất hiện cơn đau quặn bụng, nhất là đau bụng dưới mà hay gặp nhất là đau vùng hố chậu bên phải làm cho dễ nhầm với viêm ruột thừa. Lý do NCT ngại uống nước cũng làm cho táo bón tăng lên bởi vì uống nước sẽ phải đi tiểu nhiều lần nhất là tiểu đêm. Với những NCT có sức khỏe yếu, đi lại khó khăn và nhất là có sa sút trí tuệ thì đó là điều bất lợi.

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa như thế nào?

Phòng bệnh rối loạn tiêu hóa ở NCT là một vấn đề hết sức quan trọng, bởi vì một số bệnh gây rối loạn tiêu hóa ở NCT nhiều khi không cần dùng thuốc mà bệnh cũng có thể khỏi hoặc giảm. Điều quan trọng nhất để phòng bệnh rối loạn tiêu hóa cho NCT là có chế độ ăn hợp lý, kết hợp với vận động cơ thể và có đời sống tinh thần thoải mái.

Một số NCT chán ăn, không thèm ăn, người nhà cần động viên và nếu cần bón giúp trong các bữa ăn, nhất là khi NCT sức yếu, sa sút trí tuệ để làm sao làm cho họ không bỏ bữa. Nên động viên và tìm cách chế biến các loại rau hợp khẩu vị để cho NCT ăn được nhiều rau và các loại hoa quả có nhiều chất xơ. Những người đã bị táo bón thì nên cho ăn thêm củ khoai lang luộc, ăn canh rau mồng tơi, rau đay và cần uống đủ lượng nước hàng ngày (khoảng 2 lít trong một ngày đêm). Nếu bị bệnh về dạ dày thì nên đi khám bệnh định kỳ để được điều trị và tư vấn của bác sĩ làm sao cho bệnh chóng khỏi.

Trong các bệnh về rối loạn tiêu hóa ở NCT, vận động cơ thể là điều rất cần thiết. Vận động cơ thể ở NCT không có nghĩa là phải tập luyện các động tác mạnh mẽ, khó mà chỉ cần vận động nhẹ nhàng, ví dụ như xoa bóp vùng bụng, xoa bóp các cơ bắp hoặc đi bộ (nếu có thể). Nếu sức khỏe yếu có thể chỉ đi bộ trong nhà, trong sân nhưng khi sức khỏe còn tốt thì đi bộ xa hơn hoặc có thể chơi thể thao như cầu lông, bơi… Thời gian vận động cơ thể trong ngày cũng chỉ nên khoảng 60 phút là vừa và chia thành từ 2 – 3 lần tập. Ngoài vật chất và vận động cơ thể cũng nên có hoạt động về tinh thần như: đọc báo, xem vô tuyến, nghe đài… Nếu có câu lạc bộ cho NCT thì nên tham gia, nếu không có thể sinh hoạt theo nhóm.

Theo: SKĐS