Hiển thị các bài đăng có nhãn sảy thai. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn sảy thai. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Biện pháp tránh thai cho phụ nữ trên 40 tuổi

Nếu không nghiện thuốc lá, phụ nữ tuổi tứ tuần có thể tiếp tục sử dụng thuốc tránh thai như trước đó. Tuy nhiên, nếu nghiện, cần chuyển sang biện pháp khác để tránh tai biến. Trường hợp chưa bao giờ dùng thuốc thì không nên bắt đầu sử dụng ở tuổi này.

Về mặt sinh học, hoạt động nội tiết sinh dục của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng vẫn tồn tại, song “quỹ trứng” giảm nhiều. Khả năng thụ thai cũng hạn chế, nếu có thì đó là trứng già, thai nghén thường kèm theo nhiều biến cố và thai nhi có nguy cơ bị dị tật cao. Độ tuổi 40 là giai đoạn ham muốn quan hệ vợ chồng vẫn như trước đây, thậm chí tăng cao khi người phụ nữ hồi xuân. Do đó, cần áp dụng một số biện pháp tránh thai dưới đây:

1. Dựa vào vòng kinh và cách tính ngày an toàn trước và sau khi rụng trứng. Tránh quan hệ vợ chồng trong những ngày “ẩm ướt”, do dịch tiết ở cổ tử cung tăng lên vào những ngày sắp rụng trứng. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của biện pháp này không cao do:

- Kinh nguyệt của phụ nữ ở tuổi 40 không đều đặn.

- Có kỳ kinh không rụng trứng.

- Khả năng tiết dịch của các tế bào tuyến thường giảm sút nhiều, nhất là ở những người sinh đẻ nhiều.

2. Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo: nếu vợ chồng đã áp dụng biện pháp này có kết quả từ trước thì có thể duy trì. Tuy nhiên, cần lưu ý là người chồng cùng tuổi đã bị giảm sút về khả năng chủ động phóng tinh nên rất dễ xuất tinh sớm, khó tránh thai.

3. Đình sản: hai vợ chồng cùng trên tuổi 40 rất thích hợp với biện pháp tránh thai vĩnh viễn này. Sức khỏe và khả năng hoạt động tình dục sau đình sản không giảm sút, không bị béo phì…

Ngoài ra, biện pháp tránh thai bằng bao cao su, các loại màng ngăn, thuốc diệt tinh trùng…đều có thể áp dụng cho vợ chồng trên tuổi 40.

Bác sĩ Phó Đức Nhuận (nguồn: KH&ĐS)

Chứng đau bụng kinh ở phụ nữ

Khái niệm đau bụng hành kinh được dùng để chỉ một loạt triệu chứng của phụ nữ trước, sau hoặc đang trong kỳ kinh nguyệt…

Bao gồm đau bụng dưới (có khi đau quằn quại và kéo dài), đau thắt lưng, bụng có cảm giác đầy hơi, hậu môn có những biểu hiện khó chịu như buồn đi ngoài… Người bị đau bụng kinh ở mức nhẹ thường không quan tâm lắm đến chứng này. Nhưng ở mức độ nghiêm trọng, chứng đau bụng kinh sẽ ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Ngoài đau bụng, một số người còn có các hiện tượng đau ngực, buồn nôn, ỉa chảy. Nếu hiện tượng này kéo dài, bệnh nhân phải uống thuốc điều trị. Khi đó, có thể coi nó là một triệu chứng bệnh.

1. Phân loại đau bụng hành kinh như thế nào?

Đau bụng hành kinh nhìn chung được phân làm hai loại: loại nguyên phát và loại thứ phát.

Loại nguyên phát (còn gọi là đau bụng hành kinh mang tính cơ năng): Người bệnh không phát hiện ra ở cơ quan sinh dục bất cứ biển đổi bệnh lý gì, nhưng vẫn bị đau bụng hành kinh. Hiện tượng này thường gặp ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn và chưa sinh con. Đau bụng kinh xuất hiện sau chu kỳ rụng trứng.

Ở loại đau bụng kinh thứ phát (còn gọi là đau bụng kinh mang tính khí chất), cơ quan sinh dục của người bệnh có nhiều thay đổi. Bệnh thường gặp ở những người bị bệnh phụ khoa như: lạc nội mạc tử cung, u dưới niêm mạc tử cung, tuyến cơ tử cung, cổ tử cung hẹp, dính khoang tử cung…

Chúng ta rất khó phân biệt rõ ràng hai loại đau bụng kể trên. Ví dụ như người bị đau bụng kinh nguyên phát sau nhiều năm sẽ có những thay đổi của cơ quan sinh dục, khiến cho hiện tượng đau bụng kinh ngày càng nặng; khi đó rất khó để phán đoán. Có trường hợp người bệnh được chẩn đoán là đau bụng kinh nguyên phát, nhưng thực tế họ bị mắc chứng lạc nội mạc tử cung ở mức nhẹ, khi kiểm tra soi ổ bụng mới phát hiện được là bị đau bụng kinh thứ phát.

Nói tóm lại, đau bụng kinh nguyên phát và thứ phát chỉ là hai dạng của thống kinh, giữa hai loại này nhiều lúc rất khó xác định chính xác bằng các biểu hiện lâm sàng.

2. Đau bụng hành kinh có phải là hiện tượng thường xảy ra không?

Đau bụng hành kinh đúng là một loại bệnh phụ khoa tương đối phổ biến. Từ trước đến nay, do cảm giác đau của mỗi người khác nhau, mức độ chịu đựng của mỗi người cũng khác nhau, hơn nữa lại thiếu phương pháp định lượng khách quan, chuẩn xác về mức độ của bệnh, nên tỷ lệ đau bụng hành kinh được thống kê của phụ nữ ở các nước có sự chênh lệch khá lớn.

Theo một số điều tra, năm 1980 ở Trung Quốc có 33% người bị đau bụng hành kinh trong số 72.000 phụ nữ được điều tra. Trong đó:

- 36% đau bụng kinh nguyên phát.

- 32% bị đau thứ phát.

- 32% không rõ nguyên nhân.

- 13,6% người bị ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt.

Năm 1982, Andersch và Milsom đưa ra báo cáo: Có đến 72% nữ thanh niên lứa tuổi 19 ở Thụy Điển bị đau bụng hành kinh, trong đó 15% dùng thuốc giảm đau. Năm 1985, ở Mỹ 50% phụ nữ sau tuổi dậy thì bị đau bụng kinh ở mức độ khác nhau, 10% vì đau bụng kinh mà mỗi tháng phải nghỉ một đến ba ngày. Từ đó có thể thấy, đau bụng kinh là chứng bệnh rất phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ dưới 19 tuổi.

3. Chứng đau bụng hành kinh liên quan đến những yếu tố gì?

Những nhân tố liên quan đến đau bụng hành kinh nguyên phát gồm:
- Thấy kinh lần đầu sớm hoặc muộn: Có điều tra cho thấy mức độ đau và tuổi thấy kinh lần đầu có liên quan đến nhau. Ở người thấy kinh lần đầu sớm, tỷ lệ đau bụng kinh cao, đồng thời mức độ đau cũng nghiêm trọng hơn.

- Hôn nhân và sinh đẻ: Giữa đau bụng kinh và việc kết hôn có liên quan với nhau hay không, hiện còn tồn tại hai quan điểm. Đại đa số cho rằng đau bụng hành kinh không liên quan gì đến hôn nhân. Nhưng không ít người cho rằng sau khi kết hôn, mức độ đau bụng hành kinh ở nhiều phụ nữ giảm hẳn. Điều này đang cần được nghiên cứu lâm sàng để đưa ra kết luận chính xác.

- Đau bụng hành kinh còn liên quan đến những nhân tố mệt mỏi kéo dài, căng thẳng, thời tiết lạnh hoặc cơ thể quá mẫn cảm.

Những nhân tố liên quan đến hiện tượng đau bụng hành kinh thứ phát:- Giữ vệ sinh không tốt trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và sau khi sinh, sinh hoạt tình dục quá sớm, quá nhiều dẫn đến chứng viêm tử cung.

- Nạo phá thai hay tác động vào khoang tử cung nhiều lần gây viêm dính nội mạc.

- Tránh thai: Đau bụng hành kinh và các phương pháp tránh thai có ảnh hưởng nhất định với nhau. Đặc biệt, phương pháp đặt vòng thường làm tăng mức độ đau bụng hành kinh. Thuốc tránh thai chứa progestagen có tác dụng làm lỏng cơ nhẵn của tử cung, giảm nhẹ triệu chứng đau bụng do co bóp. Uống thuốc tránh thai có thể giảm tỷ lệ và độ đau của đau bụng hành kinh.

- Ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt và độ dài ngắn của từng chu kỳ: Nhìn chung, độ nghiêm trọng của đau bụng hành kinh và độ dài ngắn của chu kỳ kinh nguyệt không có ảnh hưởng gì đến nhau. Nhưng do đau bụng kinh biểu hiện trong thời kỳ kinh nguyệt nên nếu thời gian hành kinh kéo dài thì thời gian đau bụng kinh cũng bị kéo dài theo.

- Một số nhân tố khác: Có ý kiến cho rằng người béo mập thường dễ bị đau bụng hành kinh; thói quen hút thuốc lá và đau bụng hành kinh luôn có tỷ lệ thuận.

4. Nguyên nhân và cơ chế gây đau bụng hành kinh:

Đây là một bệnh phụ khoa mà biểu hiện lâm sàng là đau bụng. Thực ra, nó là một chứng bệnh độc lập, nhưng do sự đau đớn có những biểu hiện đặc biệt nên người ta liệt nó vào hàng các bệnh phụ khoa.

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau bụng hành kinh, biểu hiện của chúng rất khác nhau. Người bị u cơ dưới niêm mạc tử cung, người có cơ quan sinh dục cấu tạo không bình thường như cổ tử cung hẹp… đều có thể bị đau bụng hành kinh. Sự tồn tại của những vật lạ trong tử cung (như vòng tránh thai) cũng có thể kích thích tử cung, phát sinh sự đau đớn.

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến đau bụng hành kinh có thể quy về mấy phương diện sau:

- Sự co thắt quá độ của tử cung: Áp lực co thắt tử cung của người đau bụng hành kinh và người bình thường cơ bản là giống nhau. Nhưng do sự co thắt của tử cung duy trì trong thời gian khá dài, lại không dễ thả lỏng hoàn toàn, nên tử cung bị co thắt quá độ dẫn đến đau bụng hành kinh.

- Tử cung co thắt không bình thường, khiến cơ nhẵn tử cung bị thiếu máu, gây đến co thắt, thậm chí co rút cơ tử cung, từ đó xuất hiện đau bụng hành kinh. Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy, huyết áp cao là nhân tố quan trọng tạo thành sự co thắt không bình thường của tử cung.

- Hàm lượng chất prostaglandin (PG) trong máu kinh nguyệt và nội mạc tử cung tăng cao. Chất Prostaglandin E2 (PGE2) làm co thắt cơ tử cung. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh hàm lượng PG trong máu người đau bụng kinh cao hơn người bình thường. Trong một cơ thể, hàm lượng PGE2 và PGF2a cũng khác nhau, tỷ lệ GPF2a/PGE2 không tương đồng ở những khoảng thời gian khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt. Những kích thích đó có thể dẫn đến sự co thắt không bình thường của cơ tử cung, gây đau đớn.

Ở người bị chứng lạc nội mạc tử cung, quan hệ giữa chứng đau bụng hành kinh và hàm lượng PG càng rõ ràng. Hàm lượng PGF2a trong huyết thanh và dịch khoang bụng của họ cao hơn người không đau bụng hành kinh.

5. Đau bụng hành kinh nguyên phát có những đặc điểm lâm sàng nào?

Đau bụng hành kinh nguyên phát thường thấy ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn, chưa sinh con. Bệnh thường phát vào khoảng 1-2 năm sau khi có kinh lần đầu.

Hiện tượng đau bụng xuất hiện một thời gian ngắn trước ngày hành kinh hoặc trong ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt, kéo dài trong nhiều giờ, thậm chí 1-2 ngày. Cơn đau thường xảy ra ở bụng dưới và thắt lưng; hậu môn có cảm giác khó chịu. 50% người bệnh có một hoặc nhiều triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi, đau đầu, tiêu chảy, đi tiểu nhiều lần… Nếu đau nhiều, bệnh nhân sẽ toát mồ hôi, mặt mũi tái nhợt, tay chân lạnh ngắt, hạ đường huyết.

Sau khi người phụ nữ kết hôn, sinh nở hoặc khi tuổi đời nhiều lên, chứng đau bụng hành kinh có thể tự nhiên giảm đi hoặc mất hẳn.
Chẩn đoán và điều trị đau bụng hành kinh như thế nào?
Phụ nữ trước, trong hoặc sau chu kỳ kinh nguyệt xuất hiện đau bụng thì nên làm gì?

Trước tiên, nên đến bệnh viện kiểm tra phụ khoa một cách tỉ mỉ. Căn cứ vào lý lịch bệnh do người bệnh cung cấp, vào những triệu chứng lâm sàng và kiểm tra, bác sĩ sẽ có chẩn đoán chính xác nhất.

Bệnh nhân cần được giám định để xác định triệu chứng đau bụng là do các chứng bệnh khác (như u nang buồng trứng, chửa ngoài tử cung, viêm tiểu khung cấp tính, đẻ non…) gây nên hay do đau bụng hành kinh gây nên. Việc các chứng bệnh trên bị chẩn đoán nhầm thành đau bụng kinh sẽ dẫn đến điều trị sai, gây những hậu quả không tốt.

Phương pháp trị đau bụng hành kinh chủ yếu là uống thuốc; nhưng tác dụng của tâm lý trị liệu và sự nghỉ ngơi cũng không thể coi nhẹ, đặc biệt là với phụ nữ trẻ tuổi bị đau bụng hành kinh nguyên phát. Khi bắt đầu có kinh, họ thường có những thay đổi về tâm lý như sợ hãi, lo lắng, u uất… Những phản ứng tâm lý này cũng làm tăng thêm mức độ đau bụng hành kinh.

Uống thuốc để điều trị đau bụng hành kinh là phương pháp không thể thiếu:

- Thuốc có progestagen: Progestagen có tác dụng làm giãn cơ nhẵn của tử cung, ức chế sự co bóp của tử cung, nhờ đó giảm nguy cơ đau đớn. Ngoài ra, việc dùng progestagen vừa phải còn ức chế rụng trứng, giảm tỷ lệ sản sinh prostaglandin.

Cần uống thuốc chứa progestagen trong thời gian ngắn hoặc theo chu kỳ.

+ Uống thuốc trong thời gian ngắn: Bắt đầu khi hết hành kinh được 5-7 ngày, liên tục trong 5-7 ngày’

+ Uống theo chu kỳ: Tương tự như dùng thuốc tránh thai, bắt đầu vào ngày thứ 5 của chu kỳ kinh nguyệt, uống trong khoảng 20 ngày, sau khi dừng thuốc cần chú ý hiện tượng đau bụng kinh. Có thể uống thuốc liền trong 3 chu kỳ.

- Thuốc kháng viêm: Thông qua ức chế quá trình hợp thành các prostaglandin, loại thuốc này làm giảm việc sản sinh prostaglandin; hoặc gián đoạn sự kết hợp giữa prostaglandin với các chất khác. Từ đó, nó trực tiếp kháng lại tác dụng của prostaglandin, đạt đến hiệu quả ngừng đau. Loại thuốc này có thể dùng trong thời gian tương đối dài. Người bị viêm loét dạ dày, có bệnh hô hấp phải thận trọng khi dùng thuốc.

- Thuốc tễ chống lắng đọng canxi: Sự ngưng đọng canxi khi xâm nhập vào tế bào sẽ làm ức chế sự co bóp tử cung. Loại thuốc này có tác dụng phụ như: làm giảm huyết áp, cản trở hô hấp.

- Thuốc Bắc: Làm khí huyết lưu thông, giảm nhẹ cơn đau.

- Phẫu thuật: Nên hạn chế, chỉ dùng khi các loại thuốc trên không có hiệu quả.

Nếu bị đau bụng hành kinh kéo dài, ngoài việc điều trị bằng các loại thuốc kể trên, bạn nên tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh như: chứng lạc nội mạc tử cung, chứng bệnh ở tuyến cơ tử cung.

6 Làm thế nào để phòng tránh đau bụng hành kinh?

Do cơ chế phát bệnh của đau bụng kinh nguyên phát còn chưa rõ ràng nên ta chỉ có thể dự phòng bằng cách tránh lạnh, không làm việc quá sức, quá căng thẳng. Đau bụng kinh kéo dài do các chứng bệnh ở cơ quan sinh dục gây nên, vì vậy nên sớm kiểm tra phát hiện bệnh phụ khoa, kịp thời điều trị. Ngoài ra, bạn cần lưu ý:

- Giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt, tránh lao động thể lực hoặc vận động quá sức. Tuyệt đối không sinh hoạt vợ chồng trong thời kỳ kinh nguyệt và tránh những kiểm tra phụ khoa không cần thiết.

- Làm tốt công tác tránh thai. Tránh nạo thai và phẫu thuật buồng tử cung (có thể dẫn đến dính niêm mạc tử cung và phát sinh chứng bệnh khác.

- Giữ vệ sinh cá nhân, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con. Tuyệt đối không sinh hoạt tình dục bừa bãi, tránh phát sinh chứng viêm tiểu khung và các chứng phụ khoa khác.

Theo SK&ĐS

Khi mang thai có nên dùng thuốc bổ Đông y?

Nhiều phụ nữ khi mang thai muốn tăng cường sức khỏe đã sử dụng thuốc bổ Đông y bởi cho rằng, thuốc bổ Đông y rất “lành” nên có thể dùng cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khuyến cáo, Đông y có nhiều loại thuốc bổ nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể dùng được đặc biệt là phụ nữ mang thai. Việc tự ý dùng thuốc Đông y để bồi bổ có thể gây nguy hại cho thai nhi.

Trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y cho biết, việc dùng thuốc bổ nói chung phải được xem xét một cách thận trọng và tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đặc biệt là với phụ nữ mang thai. Cũng vì thế, các dược thư cổ luôn ghi rõ những vị thuốc cấm dùng cho phụ nữ có thai, trong đó có cả những vị thuốc thuộc nhóm bổ dưỡng. Hơn nữa, các vị thuốc được coi là bổ trong Đông y có thể bổ với người này nhưng lại gây hại với người kia. Do vậy, phụ nữ có thai nếu ăn uống tốt, đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, thai nhi phát triển bình thường, mẹ khỏe thì không cần dùng thuốc. Chỉ nên tìm đến sự hỗ trợ của Đông y khi thai phụ bị nôn nhiều, ăn uống kém, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn về sức khỏe, tuổi, tiền sử bệnh tật… để quyết định có nên sử dụng hay không.

 

Theo Thạc sỹ Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Trung ương quân đội 108, khi mang thai, trạng thái sinh lý của cơ thể thai phụ biến đổi rất lớn. Người mẹ rất dễ mắc một số bệnh như ốm nghén, phù, đi tiểu khó, động thai, băng huyết, trụy thai (sảy thai, đẻ non…) Ngoài ra, trong thời kỳ này, phụ nữ cũng cần lượng dinh dưỡng và huyết lớn để nuôi con. Vì vậy nếu việc bồi bổ bằng thức ăn không đảm bảo thì nên dùng thuốc. Trước hết, nên trọng dụng các món ăn – bài thuốc vì đây là phương thức bồi bổ đơn giản, có hiệu quả, dễ dùng, dễ chế và dễ được chấp nhận. Việc bồi bổ bằng thuốc phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ. Và khi mua thuốc nên mua tại các cơ sở tin cậy, không mua thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Nguyễn Hoàng Linh (SK&ĐS)

Có cần thiết phải kiêng quan hệ khi vợ mang thai?

Theo quan niệm cũ, để bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi, các ông chồng phải “ăn nhạt” trong suốt thời gian người vợ có thai, thậm chí, việc kiêng cữ vẫn tiếp tục cho đến khi em bé trong 3 tháng.

Điều đó đã dẫn đến những chuyện dở khóc dở cười, thậm chí gây bệnh cả thể chất và tinh thần cho những cặp vợ chồng trẻ sung sức. Ngày nay, sau nhiều nghiên cứu, khoa học đã chứng minh, việc quan hệ tình dục khi mang thai không ảnh hưởng đến sức khoẻ của bà mẹ và em bé. Em bé được bảo vệ rất kín trong túi ối, cổ tử cung được đóng kín bằng chất nhầy đặc (gọi là nút cổ tử cung), nên các tác động của quá trình yêu đương của bố mẹ không thể gây hại cho thai nhi. Không những không có hại, mà trạng thái cực khoái của người mẹ còn có tác dụng ru thai nhi vì nó làm giải phóng một loại hormon kích thích co bóp dạ con. Trong nhiều trường hợp, “chuyện ấy” còn giúp tinh thần người mẹ phấn chấn hơn, việc sinh nở cũng dễ dàng hơn.

Việc vẫn tiếp tục quan hệ tình dục khi có thai không phản khoa học, nhưng các cặp vợ chồng cần lưu ý để bảo đảm an toàn cho sức khoẻ tinh thần cũng như thể chất của cả mẹ và thai nhi: Những phụ nữ đã sảy thai vài lần, nhau thai bám thấp, có vấn đề bất thường cổ tử cung… nên tránh sinh hoạt tình dục trong những tháng đầu mang thai. Có tiền sử sảy thai, đẻ non ở lần có thai trước nên cẩn thận khi quan hệ tình dục trong giai đoạn 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối vì sẽ kích thích làm tử cung co bóp đẩy thai ra ngoài. Trường hợp nhau tiền đạo không nên quan hệ tình dục ở 3 tháng cuối thai kỳ vì dễ bị chảy máu. Nếu thấy đau bụng hoặc ra huyết sau khi quan hệ thì phải dừng chuyện ấy lại ít nhất 2 tuần sau đó và đi tư vấn bác sĩ. Thai phụ mắc bệnh tăng huyết áp, mang thai đôi, người chồng có bệnh lây qua đường tình dục, gần đến ngày sinh… nếu muốn quan hệ vợ chồng cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Với các trường hợp mẹ bị suy dinh dưỡng nặng, tăng cân ít, da xanh, thai bị suy dinh dưỡng cần cân nhắc khi quan hệ tình dục. Do tinh trùng có chứa hormon prostaglandin kích thích sự co bóp nên muốn thực sự an toàn, khi sinh hoạt vợ chồng nên dùng bao cao su.

Có một điều các bà bầu cần đặc biệt chú ý đến việc theo dõi xem sau quan hệ tình dục cơ thể có những phản ứng đặc biệt không. Nếu có bất thường như đau bụng, ra huyết… phải đến khám bác sĩ sản khoa để được theo dõi và điều trị kịp thời.

BS. Phương Thu