Hiển thị các bài đăng có nhãn buồng trứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn buồng trứng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Biện pháp tránh thai cho phụ nữ trên 40 tuổi

Nếu không nghiện thuốc lá, phụ nữ tuổi tứ tuần có thể tiếp tục sử dụng thuốc tránh thai như trước đó. Tuy nhiên, nếu nghiện, cần chuyển sang biện pháp khác để tránh tai biến. Trường hợp chưa bao giờ dùng thuốc thì không nên bắt đầu sử dụng ở tuổi này.

Về mặt sinh học, hoạt động nội tiết sinh dục của trục dưới đồi – tuyến yên – buồng trứng vẫn tồn tại, song “quỹ trứng” giảm nhiều. Khả năng thụ thai cũng hạn chế, nếu có thì đó là trứng già, thai nghén thường kèm theo nhiều biến cố và thai nhi có nguy cơ bị dị tật cao. Độ tuổi 40 là giai đoạn ham muốn quan hệ vợ chồng vẫn như trước đây, thậm chí tăng cao khi người phụ nữ hồi xuân. Do đó, cần áp dụng một số biện pháp tránh thai dưới đây:

1. Dựa vào vòng kinh và cách tính ngày an toàn trước và sau khi rụng trứng. Tránh quan hệ vợ chồng trong những ngày “ẩm ướt”, do dịch tiết ở cổ tử cung tăng lên vào những ngày sắp rụng trứng. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của biện pháp này không cao do:

- Kinh nguyệt của phụ nữ ở tuổi 40 không đều đặn.

- Có kỳ kinh không rụng trứng.

- Khả năng tiết dịch của các tế bào tuyến thường giảm sút nhiều, nhất là ở những người sinh đẻ nhiều.

2. Biện pháp xuất tinh ngoài âm đạo: nếu vợ chồng đã áp dụng biện pháp này có kết quả từ trước thì có thể duy trì. Tuy nhiên, cần lưu ý là người chồng cùng tuổi đã bị giảm sút về khả năng chủ động phóng tinh nên rất dễ xuất tinh sớm, khó tránh thai.

3. Đình sản: hai vợ chồng cùng trên tuổi 40 rất thích hợp với biện pháp tránh thai vĩnh viễn này. Sức khỏe và khả năng hoạt động tình dục sau đình sản không giảm sút, không bị béo phì…

Ngoài ra, biện pháp tránh thai bằng bao cao su, các loại màng ngăn, thuốc diệt tinh trùng…đều có thể áp dụng cho vợ chồng trên tuổi 40.

Bác sĩ Phó Đức Nhuận (nguồn: KH&ĐS)

Các bệnh ngoài da thường gặp trong kỳ kinh nguyệt

Ảnh minh họa

Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.

Kinh nguyệt: Thời kỳ đặc biệt

Thời kỳ kinh nguyệt là đặc điểm sinh lý đặc biệt quan trọng trong cuộc sống của người phụ nữ. Mỗi người có chu kỳ khác nhau, có chu kỳ từ: khoảng 25-32 ngày, trung bình 28 ngày.

Do sự biến đổi của niêm mạc tử cung dưới tác động của các hormon buồng trứng estrogene và progesterone. Hiện tượng hành kinh kéo dài khoảng 3-5 ngày, lượng máu mất trung bình khoảng 80ml.

Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng. Ảnh minh họa (Nguồn:Tuổi trẻ)

Cơ thể phụ nữ thay đổi trong thời kỳ hành kinh làm cho tử cung sung huyết, dễ chảy máu. Máu hành kinh là môi trường cấy thích hợp cho các loại vi khuẩn, do đó vùng kín rất dễ bị viêm nhiễm nếu vệ sinh không tốt.

Tâm lý bứt rứt, khó chịu, không thoải mái kèm theo môi trường tại chỗ lúc hành kinh ẩm ướt là điều kiện thuận lợi làm nấm da phát triển một cách dễ dàng.

Bên cạnh đó băng vệ sinh không thích hợp, quần lót dày, thô ráp dễ gây dị ứng, ngứa vùng kín.

Các bệnh ngoài da trong thời kỳ kinh nguyệt sẽ gây ảnh hưởng đến người phụ nữ.

- Tâm lý khó chịu, mệt mỏi, lại thêm tình trạng đau, ngứa, rát làm chị em dễ bị kích động, bứt rứt, lo lắng, mất tập trung, ảnh hưởng đến sinh hoạt và công việc.

- Sinh hoạt tình dục: không thoải mái.

- Sức khoẻ sinh sản: đau, viêm nhiễm nếu nặng có thể để lại di chứng.

Các bệnh ngoài da thường gặp:

Mề đay
- Xuất hiện theo chu kỳ kinh: do nguyên nhân nội tiết, hay vì dùng thuốc kháng viêm để giảm đau bụng, hoặc do dị ứng sản phẩm vệ sinh sử dụng trong kỳ kinh.

- Triệu chứng: hồng ban, sẩn phù hình tròn hay bầu dục lan rộng dần, ngứa.

- Tiến triển có chu kỳ: Sau khoảng vài giờ sẩn mờ dần, xẹp và biến mất, sau đó xuất hiện trở lại.

Viêm da tiếp xúc
Gồm viêm da dị ứng và viêm da kích thích.

Viêm da tiếp xúc (chàm tiếp xúc): do tiếp xúc trực tiếp với các tác nhân gây dị ứng.

Ở vùng sinh dục, trong thời kỳ kinh nguyệt, viêm da tiếp xúc do: băng vệ sinh (dày hoặc thô nhám, chất liệu dễ gây kích ứng), bao cao su, màng tránh thai ở nữ, nước hoa…

Phân biệt viêm da kích thích và viêm da dị ứng.

- Viêm da dị ứng: Có tính di truyền; chỉ xảy ra trên một số người có cơ địa đặc biệt. Viêm da bộc phát khi tiếp xúc với dị ứng nguyên: quần lót, băng vệ sinh, kem thoa, màng tránh thai, nước hoa… Triệu chứng xảy ra nhanh, 12-48 giờ sau tiếp xúc; gồm: hồng ban, sưng phù, mụn nước, mài, ngứa… Các tổn thương giới hạn rõ, mang hình ảnh vật tiếp xúc.

- Viêm da kích thích: Mọi người đều có nguy cơ bị viêm da kích thích. Nguyên nhân do thay đổi tính chất sinh lý, sinh hóa của thượng bì, không liên quan cơ chế miễn dịch.

Tác nhân gây bệnh: chất kích thích da (dung môi hữu cơ, hoạt chất tẩy rửa, các loại xà phòng mạnh, chất liệu bông, giấy thấm trong băng vệ sinh…) Khi da tổn thương, dù tiếp xúc với một chất kích thích yếu cũng gây ra viêm. Độ nặng nhẹ của viêm da liên quan đến nồng độ chất kích thích và thời gian tiếp xúc.

Triệu chứng của viêm da kích thích khởi phát chậm, khi lớp thượng bì tổn thương. Da khô, nứt, có hồng ban. Tiếp xúc lâu dài có thể gây chàm: hồng ban, mụn nước, mài, trợt, dày da, ngứa.

Chất kích thích mạnh có thể gây phản ứng viêm da cấp tính: hồng ban, trợt, chảy nước, rất ngứa.

Nấm da
- Nấm bẹn, nấm mông là những loại nấm rất thường gặp. Tác nhân gây bệnh là nấm sợi tơ, dễ phát triển trong điều kiện môi trường nóng và ẩm.

Tổn thương thường tạo thành một mảng có viền bờ rõ rệt, có vảy, phần giữa có xu hướng lành, có mụn nhỏ lấm tấm ở bờ viền. Đám tổn thương có màu sẫm, đường kính vài cm, bờ mép có ranh giới rõ rệt và hơi gồ lên.

Tổn thương thường xuất hiện ở cả hai bên bẹn, lan lên xương mu, ra kẽ mông, xuống đùi, lên thắt lưng,… gây ngứa.

Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida. Trong ảnh: Nấm Candida (Ảnh: medicinfo.hu)

- Nấm Candida: Ký sinh ở một số cơ quan tiêu hoá, hô hấp và trên da, nấm Candida khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ trở thành tác nhân gây bệnh, đặc biệt loài Candida albicans.

Trong thời kỳ kinh nguyệt, nhất là phụ nữ bị tiểu đường đang dùng kháng sinh, dễ viêm âm hộ hoặc âm đạo do Candida.

Nấm Candida có thể gây ra các tổn thương như:Cảm giác ngứa, rát bỏng; âm hộ đỏ, bóng, phủ chất nhầy trắng đục. Tiểu buốt, giao hợp đau; âm đạo đỏ tươi, có chất nhầy màu kem, có huyết trắng lẫn mủ

Nhiễm trùng da
- Do ngứa gây khó chịu nên cào gãi hoặc tiếp xúc với quần , băng vệ sinh thô ráp làm trầy xước da.

- Lớp thượng bì tổn thương gây nhiễm khuẩn.

- Vi khuẩn gây bệnh: vi trùng thường sinh mủ như Streptococci, Staphylococci, …

- Triệu chứng: đau, rát. Da viêm đỏ vùng đùi, bẹn 2 bên.

- Có khi nặng thấy sưng, có mụn mủ làm khó đi lại.

Viêm nhiễm phụ khoa do vi trùng, siêu vi
- Viêm âm hộ do tạp khuẩn không đặc hiệu: Tác nhân gây bệnh đa dạng như   Streptococci, Staphylococci, Escherichia, Diphteroid… Triệu chứng viêm tại chỗ và huyết trắng khó nhận biết  Đôi khi có viêm âm đạo.

- Herpes sinh dục: do siêu vi, hay tái phát khi có điều kiện thuận lợi. Ở một số phụ nữ, kinh nguyệt là yếu tố khởi phát. Triệu chứng: vùng sinh dục xuất hiện một hay một nhóm mụn nước nhỏ, nhanh chóng vỡ thành vết loét sau 2-4 ngày.

Phòng ngừa

- Sạch sẽ, giữ vệ sinh, tắm rửa thường xuyên. Rửa và thay băng vệ sinh thường xuyên mỗi 4 giờ – 6 giờ.

- Chọn loại băng vệ sinh có độ thấm hút cao, chất liệu mềm mại, thông thoáng, ít gây kích ứng

- Quần áo phải thay giặt, phơi khô ráo, sạch sẽ. Nên dùng loại mềm, mát, rút mồ hôi.

- Khi có triệu chứng ngứa, đau cần tránh cào gãi hay tự ý thoa, uống thuốc vì dễ làm bệnh nặng thêm.

- Tránh giao hợp trong những ngày này vì người phụ nữ thường mệt mỏi, đồng thời dễ gây xuất huyết hay nhiễm trùng.

Thời kỳ kinh nguyệt: giai đoạn nhạy cảm của người phụ nữ. Do những thay đổi về sinh lý đặc biệt nên cần quan tâm bảo vệ sức khoẻ để phòng tránh những bệnh lý ngoài da có thể gây nguy hiểm.

ThS.BS Trần Ngọc Anh

Chứng đau bụng kinh ở phụ nữ

Khái niệm đau bụng hành kinh được dùng để chỉ một loạt triệu chứng của phụ nữ trước, sau hoặc đang trong kỳ kinh nguyệt…

Bao gồm đau bụng dưới (có khi đau quằn quại và kéo dài), đau thắt lưng, bụng có cảm giác đầy hơi, hậu môn có những biểu hiện khó chịu như buồn đi ngoài… Người bị đau bụng kinh ở mức nhẹ thường không quan tâm lắm đến chứng này. Nhưng ở mức độ nghiêm trọng, chứng đau bụng kinh sẽ ảnh hưởng đến công việc và sinh hoạt. Ngoài đau bụng, một số người còn có các hiện tượng đau ngực, buồn nôn, ỉa chảy. Nếu hiện tượng này kéo dài, bệnh nhân phải uống thuốc điều trị. Khi đó, có thể coi nó là một triệu chứng bệnh.

1. Phân loại đau bụng hành kinh như thế nào?

Đau bụng hành kinh nhìn chung được phân làm hai loại: loại nguyên phát và loại thứ phát.

Loại nguyên phát (còn gọi là đau bụng hành kinh mang tính cơ năng): Người bệnh không phát hiện ra ở cơ quan sinh dục bất cứ biển đổi bệnh lý gì, nhưng vẫn bị đau bụng hành kinh. Hiện tượng này thường gặp ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn và chưa sinh con. Đau bụng kinh xuất hiện sau chu kỳ rụng trứng.

Ở loại đau bụng kinh thứ phát (còn gọi là đau bụng kinh mang tính khí chất), cơ quan sinh dục của người bệnh có nhiều thay đổi. Bệnh thường gặp ở những người bị bệnh phụ khoa như: lạc nội mạc tử cung, u dưới niêm mạc tử cung, tuyến cơ tử cung, cổ tử cung hẹp, dính khoang tử cung…

Chúng ta rất khó phân biệt rõ ràng hai loại đau bụng kể trên. Ví dụ như người bị đau bụng kinh nguyên phát sau nhiều năm sẽ có những thay đổi của cơ quan sinh dục, khiến cho hiện tượng đau bụng kinh ngày càng nặng; khi đó rất khó để phán đoán. Có trường hợp người bệnh được chẩn đoán là đau bụng kinh nguyên phát, nhưng thực tế họ bị mắc chứng lạc nội mạc tử cung ở mức nhẹ, khi kiểm tra soi ổ bụng mới phát hiện được là bị đau bụng kinh thứ phát.

Nói tóm lại, đau bụng kinh nguyên phát và thứ phát chỉ là hai dạng của thống kinh, giữa hai loại này nhiều lúc rất khó xác định chính xác bằng các biểu hiện lâm sàng.

2. Đau bụng hành kinh có phải là hiện tượng thường xảy ra không?

Đau bụng hành kinh đúng là một loại bệnh phụ khoa tương đối phổ biến. Từ trước đến nay, do cảm giác đau của mỗi người khác nhau, mức độ chịu đựng của mỗi người cũng khác nhau, hơn nữa lại thiếu phương pháp định lượng khách quan, chuẩn xác về mức độ của bệnh, nên tỷ lệ đau bụng hành kinh được thống kê của phụ nữ ở các nước có sự chênh lệch khá lớn.

Theo một số điều tra, năm 1980 ở Trung Quốc có 33% người bị đau bụng hành kinh trong số 72.000 phụ nữ được điều tra. Trong đó:

- 36% đau bụng kinh nguyên phát.

- 32% bị đau thứ phát.

- 32% không rõ nguyên nhân.

- 13,6% người bị ảnh hưởng đến công tác và sinh hoạt.

Năm 1982, Andersch và Milsom đưa ra báo cáo: Có đến 72% nữ thanh niên lứa tuổi 19 ở Thụy Điển bị đau bụng hành kinh, trong đó 15% dùng thuốc giảm đau. Năm 1985, ở Mỹ 50% phụ nữ sau tuổi dậy thì bị đau bụng kinh ở mức độ khác nhau, 10% vì đau bụng kinh mà mỗi tháng phải nghỉ một đến ba ngày. Từ đó có thể thấy, đau bụng kinh là chứng bệnh rất phổ biến, đặc biệt là ở phụ nữ trẻ dưới 19 tuổi.

3. Chứng đau bụng hành kinh liên quan đến những yếu tố gì?

Những nhân tố liên quan đến đau bụng hành kinh nguyên phát gồm:
- Thấy kinh lần đầu sớm hoặc muộn: Có điều tra cho thấy mức độ đau và tuổi thấy kinh lần đầu có liên quan đến nhau. Ở người thấy kinh lần đầu sớm, tỷ lệ đau bụng kinh cao, đồng thời mức độ đau cũng nghiêm trọng hơn.

- Hôn nhân và sinh đẻ: Giữa đau bụng kinh và việc kết hôn có liên quan với nhau hay không, hiện còn tồn tại hai quan điểm. Đại đa số cho rằng đau bụng hành kinh không liên quan gì đến hôn nhân. Nhưng không ít người cho rằng sau khi kết hôn, mức độ đau bụng hành kinh ở nhiều phụ nữ giảm hẳn. Điều này đang cần được nghiên cứu lâm sàng để đưa ra kết luận chính xác.

- Đau bụng hành kinh còn liên quan đến những nhân tố mệt mỏi kéo dài, căng thẳng, thời tiết lạnh hoặc cơ thể quá mẫn cảm.

Những nhân tố liên quan đến hiện tượng đau bụng hành kinh thứ phát:- Giữ vệ sinh không tốt trong thời kỳ kinh nguyệt, mang thai và sau khi sinh, sinh hoạt tình dục quá sớm, quá nhiều dẫn đến chứng viêm tử cung.

- Nạo phá thai hay tác động vào khoang tử cung nhiều lần gây viêm dính nội mạc.

- Tránh thai: Đau bụng hành kinh và các phương pháp tránh thai có ảnh hưởng nhất định với nhau. Đặc biệt, phương pháp đặt vòng thường làm tăng mức độ đau bụng hành kinh. Thuốc tránh thai chứa progestagen có tác dụng làm lỏng cơ nhẵn của tử cung, giảm nhẹ triệu chứng đau bụng do co bóp. Uống thuốc tránh thai có thể giảm tỷ lệ và độ đau của đau bụng hành kinh.

- Ảnh hưởng của chu kỳ kinh nguyệt và độ dài ngắn của từng chu kỳ: Nhìn chung, độ nghiêm trọng của đau bụng hành kinh và độ dài ngắn của chu kỳ kinh nguyệt không có ảnh hưởng gì đến nhau. Nhưng do đau bụng kinh biểu hiện trong thời kỳ kinh nguyệt nên nếu thời gian hành kinh kéo dài thì thời gian đau bụng kinh cũng bị kéo dài theo.

- Một số nhân tố khác: Có ý kiến cho rằng người béo mập thường dễ bị đau bụng hành kinh; thói quen hút thuốc lá và đau bụng hành kinh luôn có tỷ lệ thuận.

4. Nguyên nhân và cơ chế gây đau bụng hành kinh:

Đây là một bệnh phụ khoa mà biểu hiện lâm sàng là đau bụng. Thực ra, nó là một chứng bệnh độc lập, nhưng do sự đau đớn có những biểu hiện đặc biệt nên người ta liệt nó vào hàng các bệnh phụ khoa.

Có rất nhiều nguyên nhân gây ra đau bụng hành kinh, biểu hiện của chúng rất khác nhau. Người bị u cơ dưới niêm mạc tử cung, người có cơ quan sinh dục cấu tạo không bình thường như cổ tử cung hẹp… đều có thể bị đau bụng hành kinh. Sự tồn tại của những vật lạ trong tử cung (như vòng tránh thai) cũng có thể kích thích tử cung, phát sinh sự đau đớn.

Nguyên nhân cơ bản dẫn đến đau bụng hành kinh có thể quy về mấy phương diện sau:

- Sự co thắt quá độ của tử cung: Áp lực co thắt tử cung của người đau bụng hành kinh và người bình thường cơ bản là giống nhau. Nhưng do sự co thắt của tử cung duy trì trong thời gian khá dài, lại không dễ thả lỏng hoàn toàn, nên tử cung bị co thắt quá độ dẫn đến đau bụng hành kinh.

- Tử cung co thắt không bình thường, khiến cơ nhẵn tử cung bị thiếu máu, gây đến co thắt, thậm chí co rút cơ tử cung, từ đó xuất hiện đau bụng hành kinh. Nghiên cứu thực nghiệm gần đây cho thấy, huyết áp cao là nhân tố quan trọng tạo thành sự co thắt không bình thường của tử cung.

- Hàm lượng chất prostaglandin (PG) trong máu kinh nguyệt và nội mạc tử cung tăng cao. Chất Prostaglandin E2 (PGE2) làm co thắt cơ tử cung. Nhiều thí nghiệm đã chứng minh hàm lượng PG trong máu người đau bụng kinh cao hơn người bình thường. Trong một cơ thể, hàm lượng PGE2 và PGF2a cũng khác nhau, tỷ lệ GPF2a/PGE2 không tương đồng ở những khoảng thời gian khác nhau của chu kỳ kinh nguyệt. Những kích thích đó có thể dẫn đến sự co thắt không bình thường của cơ tử cung, gây đau đớn.

Ở người bị chứng lạc nội mạc tử cung, quan hệ giữa chứng đau bụng hành kinh và hàm lượng PG càng rõ ràng. Hàm lượng PGF2a trong huyết thanh và dịch khoang bụng của họ cao hơn người không đau bụng hành kinh.

5. Đau bụng hành kinh nguyên phát có những đặc điểm lâm sàng nào?

Đau bụng hành kinh nguyên phát thường thấy ở những phụ nữ dưới 25 tuổi, chưa kết hôn, chưa sinh con. Bệnh thường phát vào khoảng 1-2 năm sau khi có kinh lần đầu.

Hiện tượng đau bụng xuất hiện một thời gian ngắn trước ngày hành kinh hoặc trong ngày đầu tiên của chu kỳ kinh nguyệt, kéo dài trong nhiều giờ, thậm chí 1-2 ngày. Cơn đau thường xảy ra ở bụng dưới và thắt lưng; hậu môn có cảm giác khó chịu. 50% người bệnh có một hoặc nhiều triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, mệt mỏi, đau đầu, tiêu chảy, đi tiểu nhiều lần… Nếu đau nhiều, bệnh nhân sẽ toát mồ hôi, mặt mũi tái nhợt, tay chân lạnh ngắt, hạ đường huyết.

Sau khi người phụ nữ kết hôn, sinh nở hoặc khi tuổi đời nhiều lên, chứng đau bụng hành kinh có thể tự nhiên giảm đi hoặc mất hẳn.
Chẩn đoán và điều trị đau bụng hành kinh như thế nào?
Phụ nữ trước, trong hoặc sau chu kỳ kinh nguyệt xuất hiện đau bụng thì nên làm gì?

Trước tiên, nên đến bệnh viện kiểm tra phụ khoa một cách tỉ mỉ. Căn cứ vào lý lịch bệnh do người bệnh cung cấp, vào những triệu chứng lâm sàng và kiểm tra, bác sĩ sẽ có chẩn đoán chính xác nhất.

Bệnh nhân cần được giám định để xác định triệu chứng đau bụng là do các chứng bệnh khác (như u nang buồng trứng, chửa ngoài tử cung, viêm tiểu khung cấp tính, đẻ non…) gây nên hay do đau bụng hành kinh gây nên. Việc các chứng bệnh trên bị chẩn đoán nhầm thành đau bụng kinh sẽ dẫn đến điều trị sai, gây những hậu quả không tốt.

Phương pháp trị đau bụng hành kinh chủ yếu là uống thuốc; nhưng tác dụng của tâm lý trị liệu và sự nghỉ ngơi cũng không thể coi nhẹ, đặc biệt là với phụ nữ trẻ tuổi bị đau bụng hành kinh nguyên phát. Khi bắt đầu có kinh, họ thường có những thay đổi về tâm lý như sợ hãi, lo lắng, u uất… Những phản ứng tâm lý này cũng làm tăng thêm mức độ đau bụng hành kinh.

Uống thuốc để điều trị đau bụng hành kinh là phương pháp không thể thiếu:

- Thuốc có progestagen: Progestagen có tác dụng làm giãn cơ nhẵn của tử cung, ức chế sự co bóp của tử cung, nhờ đó giảm nguy cơ đau đớn. Ngoài ra, việc dùng progestagen vừa phải còn ức chế rụng trứng, giảm tỷ lệ sản sinh prostaglandin.

Cần uống thuốc chứa progestagen trong thời gian ngắn hoặc theo chu kỳ.

+ Uống thuốc trong thời gian ngắn: Bắt đầu khi hết hành kinh được 5-7 ngày, liên tục trong 5-7 ngày’

+ Uống theo chu kỳ: Tương tự như dùng thuốc tránh thai, bắt đầu vào ngày thứ 5 của chu kỳ kinh nguyệt, uống trong khoảng 20 ngày, sau khi dừng thuốc cần chú ý hiện tượng đau bụng kinh. Có thể uống thuốc liền trong 3 chu kỳ.

- Thuốc kháng viêm: Thông qua ức chế quá trình hợp thành các prostaglandin, loại thuốc này làm giảm việc sản sinh prostaglandin; hoặc gián đoạn sự kết hợp giữa prostaglandin với các chất khác. Từ đó, nó trực tiếp kháng lại tác dụng của prostaglandin, đạt đến hiệu quả ngừng đau. Loại thuốc này có thể dùng trong thời gian tương đối dài. Người bị viêm loét dạ dày, có bệnh hô hấp phải thận trọng khi dùng thuốc.

- Thuốc tễ chống lắng đọng canxi: Sự ngưng đọng canxi khi xâm nhập vào tế bào sẽ làm ức chế sự co bóp tử cung. Loại thuốc này có tác dụng phụ như: làm giảm huyết áp, cản trở hô hấp.

- Thuốc Bắc: Làm khí huyết lưu thông, giảm nhẹ cơn đau.

- Phẫu thuật: Nên hạn chế, chỉ dùng khi các loại thuốc trên không có hiệu quả.

Nếu bị đau bụng hành kinh kéo dài, ngoài việc điều trị bằng các loại thuốc kể trên, bạn nên tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh như: chứng lạc nội mạc tử cung, chứng bệnh ở tuyến cơ tử cung.

6 Làm thế nào để phòng tránh đau bụng hành kinh?

Do cơ chế phát bệnh của đau bụng kinh nguyên phát còn chưa rõ ràng nên ta chỉ có thể dự phòng bằng cách tránh lạnh, không làm việc quá sức, quá căng thẳng. Đau bụng kinh kéo dài do các chứng bệnh ở cơ quan sinh dục gây nên, vì vậy nên sớm kiểm tra phát hiện bệnh phụ khoa, kịp thời điều trị. Ngoài ra, bạn cần lưu ý:

- Giữ vệ sinh trong thời kỳ kinh nguyệt, tránh lao động thể lực hoặc vận động quá sức. Tuyệt đối không sinh hoạt vợ chồng trong thời kỳ kinh nguyệt và tránh những kiểm tra phụ khoa không cần thiết.

- Làm tốt công tác tránh thai. Tránh nạo thai và phẫu thuật buồng tử cung (có thể dẫn đến dính niêm mạc tử cung và phát sinh chứng bệnh khác.

- Giữ vệ sinh cá nhân, nhất là trong thời kỳ mang thai và sinh con. Tuyệt đối không sinh hoạt tình dục bừa bãi, tránh phát sinh chứng viêm tiểu khung và các chứng phụ khoa khác.

Theo SK&ĐS

Chế độ dinh dưỡng của mẹ giúp bé thông minh

Chế độ ăn uống của mẹ thời kỳ bầu bí liên quan mật thiết đến sự phát triển não bộ của bé. Bởi vậy mẹ nhất định phải nắm bắt thời cơ này mà bồi bổ cho hợp lý. Tám nguyên tắc dinh dưỡng sau đây sẽ giúp mẹ bé.

Chú trọng thực phẩm chính, trạm năng lượng phát triển não bộ cho bé

Đường Glucose là chất dinh dưỡng duy nhất cung cấp năng lượng cho não mà hợp chất carbohydrate chính là nguồn cung cấp đường glucose chủ yếu. Bởi vậy những thực phẩm giàu carboydrate như gạo, bột mì, ngô hay các loại đậu, khoai tây, trái cây nên chiếm tỉ lệ khoảng 60% (thậm chí có thể nhiều hơn) trong bữa ăn của người mẹ. Mẹ cũng nên hạn chế nạp những thực phẩm có chứa hàm lượng đường đơn giản cao như đường mía, đường đỏ.

Bổ sung protein, vật chất nền móng để phát triển não bộ của bé.

Cần phải có 35% protein để duy trì và phát triển chức năng của bộ não, tăng cường khả năng tư duy, phân tích và lý giải của não. Nhưng bổ sung protein cần phải được tiến hành dưới tiền đề năng lượng và hợp chất carbohydrate cũng được cung cấp đầy đủ. Nếu nhiệt lượng chưa được bổ sung đầy đủ mà đã bổ sung hàm lượng lớn protein thì protein không những không dự trữ và chuyển cho bào thai mà ngược lại sẽ bị đốt cháy để cung cấp năng lượng cho mẹ. Hơn thế nữa, hàm lượng lớn axit uric sản sinh trong quá trình phân giải protein sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho thận.

Vậy nên tiền đề của việc ăn ngon chính là ăn no, đặc biệt đối với thai phụ ở thai kỳ thứ hai, bởi việc mang thai cộng với gánh nặng công việc sẽ khiến năng lượng của người mẹ bị tiêu hao nhiều hơn. Một bà mẹ 55-60kg, làm công việc lao động tương đối nhẹ nhàng một ngày ngoài 6 lạng tinh bột cần phải bổ sung 500ml sữa, 1 quả trứng, 3 lạng thịt nạc (thịt gia súc, gia cầm hay tôm cá) và lượng hoa quả rau xanh phù hợp. Đặc biệt nên cố gắng đảm bảo lượng thực phẩm động vật vì hàm lượng protein trong động vật cao hơn nhiều so với thực vật.

Chú trọng đến axit béo – vũ khí bí mật giúp bé thông minh

Chất béo chiếm khoảng 50-60% trọng lượng não bé. Những loại chất béo có chất lượng cao đặc biệt là axit béo tổng hợp không no (polyunsaturated fatty acid) và chất béo lecithin có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển tế bào não và hình thành myelin (chất béo bao bọc xung quanh dây thần kinh). Dầu bắp, dầu oliu, dầu mè, dầu đậu nành, dầu thực vật và các loại cá biển nước sâu, tôm đều là những thực phẩm có nguồn axit béo rất tốt.

Tăng cường vitamin B, axit folic – giải pháp ngừa khuyết tật ống thần kinh

Vitamin nhóm B có tác dụng duy trì chức năng bình thường của hệ thần kinh, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Phụ nữ trước khi mang thai khoảng một tháng và trong suốt thời gian đầu của thai kỳ mỗi ngày nên bổ sung 400mg axit folic để ngăn chặn khuyết tật ở ống thần kinh. Ngũ cốc, gan, thịt, đậu và rau sẫm màu chính là nguồn vitamin nhóm B rất phong phú.

Bổ sung DHA và Cholin – thúc đẩy sự phát triển của tế bào não của thai nhi

DHA là một loại axit béo tổng hợp không no tồn tại trong thiên nhiên rất cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh, nó có liên quan trực tiếp đến sự phát triển tế bào thần kinh ở não thai nhi và võng mạc. Phụ nữ mang thai mặc dù có thể bổ sung DHA thông qua axit linolenic có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật chuyển hóa thành DHA, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có khoảng 3% axit linolenic loại này chuyển hóa thành DHA, do đó bổ sung DHA thông qua thực phẩm có nguồn gốc từ động vật vẫn là sự lựa chọn thích hợp cho thai phụ.

Trong mỡ của tôm, cá biển (đặc biệt là cá nước sâu như cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá chích, cá chình, tôm sú…) có chứa hàm lượng lớn DHA, do đó mỗi tuần bạn hãy ăn 3-4 lần tôm cá để cung cấp DHA cho thai nhi.

Hàm lượng DHA của động vật trên cạn tương đối nhỏ, do đó nếu không ăn được cá tôm bạn có thể lựa chọn các sản phẩm có chứa DHA (từ sữa, trứng, đậu tương…) để hỗ trợ cho việc hấp thụ DHA.

Cholin là dưỡng chất thiết yếu của cơ thể, có vai trò tăng cường trí nhớ nhưng lượng Cholin tích lũy trong cơ thể khó có thể thỏa mãn nhu cầu khi mang thai, do đó bổ sung lượng cholin thích hợp từ các thực phẩm như tim gan động vật, trứng, thịt, sữa, đậu lạc, khoai tây sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các tế bào não của thai nhi.

Không quên kẽm. Thiếu kẽm, não bé kém phát triển

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể, nó có vai trò tác động chọn lọc lên quá trình phân giải axit nucleic và protein – những thành phần quan trọng nhất của sự sống. Kẽm có độ tập trung cao trong não đặc biệt ở thùy hải mã, ở vỏ não. Nếu thiếu kẽm có thể dẫn đến rối loạn thần kinh và cơ thể phát sinh bệnh tâm phần phân liệt. Để bổ sung lượng kẽm thích hợp cho thai nhi, mẹ cần phải ăn các loại thực phẩm có hàm lượng kẽm cao như thịt, gan, trứng, sữa, cá tôm, rau củ quả có màu vàng hoặc màu xanh đậm.

Đừng bỏ qua iốt – nguyên liệu cần thiết cho phát triển não và hệ thần kinh

Iốt tập trung chủ yếu ở tuyến giáp để tổng hợp hoócmôn giáp trạng, nó cũng là nguyên liệu thiết yếu phát triển não và hệ thống thần kinh ở thai nhi. Thông thường muối ăn có chứa iốt, nhưng mẹ cần biết cách sử dụng muối cho đúng: dù chiên xào hay nấu cũng nên bỏ muối sau khi đã nấu kỹ hoặc trước khi bắc nồi ra để tránh mất iốt trong quá trình nấu nướng lâu. Ngoài ra, rong biển, cá biển cũng rất giàu iốt.

Cảnh giác với thực phẩm có chứa kim loại nặng. Không ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá có kích thước lớn

Ăn cá tất nhiên rất có lợi, nhưng không nên ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá lớn vì trong cơ thể chúng có chứa thủy ngân. Chất này sẽ đi qua nhau thai để vào bào thai và tích lũy trong cơ thể bé lâu dần có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ bé và rất có thể sẽ khiến trí lực của bé chậm phát triển.

Cuối cùng xin nhắc các bà mẹ rằng vitamin và các nguyên tố vi lượng như canxi, phốt pho, natri, kali, iốt, sắt, kẽm, mangan đều là những dưỡng chất không thể thiếu cho hoạt động của não bé. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ giúp não bé phát triển thông minh vượt trội.

Theo – Mẹ & Bé

Dấu hiệu phát hiện sớm ung thư âm đạo

Khi có dấu hiệu bất thường cần đi khám chuyên khoa sớm.

Ung thư âm đạo là một loại ung thư hiếm gặp, hình thành trong các tế bào âm đạo của phụ nữ. Trong giai đoạn đầu, bệnh này thường không có bất kỳ triệu chứng gì đáng chú ý nên rất khó chẩn đoán. Khi bệnh tiến triển, các triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Cần chú ý phát hiện sớm để có biện pháp điều trị kịp thời, tránh những hậu quả nguy hiểm cho sức khỏe.

Các triệu chứng ung thư âm đạo bao gồm
- Chảy máu âm đạo bất thường: Chảy máu âm đạo bất thường sau khi quan hệ tình dục hoặc ở những phụ nữ đã mãn kinh là triệu chứng đầu tiên và thường gặp nhất của bệnh ung thư âm đạo. Tuy nhiên, chảy máu sau mãn kinh và sau khi quan hệ cũng có thể là triệu chứng của các bệnh phụ khoa khác.
- Tiết dịch âm đạo: Mặc dù dịch âm đạo là hiện tượng phổ biến thường gặp ở nhiều chị em và cũng không cần quá quan tâm, nhưng dịch âm đạo bất thường, có mùi khó chịu hoặc có màu máu, lẫn với máu lại có thể là triệu chứng của ung thư âm đạo. Điều này là cực kỳ hiếm, và có nhiều khả năng do sự bất thường đáng lo ngại nào đó. Vậy nên, tốt nhất nếu thấy triệu chứng này, chị em cần đi khám bác sĩ càng sớm càng tốt.
- Thay đổi thói quen đi tiểu: Nếu nhận thấy là mình đi tiểu nhiều hơn bình thường thì chị em cần tìm hiểu nguyên nhân của nó. Hiện tượng này có thể do uống nhiều nước, uống đồ uống có caffein, hoặc do nhiễm trùng đường tiểu.

Tuy nhiên, cũng không thể loại trừ khả năng những bệnh trầm trọng hơn. Nếu cảm thấy đau khi đi tiểu hoặc tiểu ra máu, chị em cần hết sức chú ý, bởi đây cũng có thể là biểu hiện của ung thư âm đạo. Mặc dù bằng mắt thường có thể rất khó phát hiện nước tiểu có lẫn máu, nhưng chị em có thể để ý nếu thấy nước tiểu màu hồng hồng hoặc có vệt máu ở đáy quần lót.
- Đau vùng chậu: Khung chậu đau thường là khi bệnh ung thư âm đạo đã bắt đầu lây lan. Đau vùng chậu có thể là đau hay cảm thấy áp lực và tức ở vùng bụng dưới rốn. Bạn có thể cảm thấy đau liên tục hoặc thi thoảng mới đau. Nhiều phụ nữ bị đau vùng chậu một cách âm ỉ, có lúc đau quặn lên.
- Rối loạn tiêu hóa: Là nguyên nhân của nhiều bệnh trong đó có ung thư âm đạo. Khi ung thư âm đạo tiến triển, phụ nữ có thể bị táo bón mạn tính, phân đen mùi khó chịu và có cảm giác như thể ruột chưa được hoàn toàn thông sau khi đi ngoài.

Phòng ngừa ung thư âm đạo
- Thực hành tình dục an toàn có thể làm giảm nguy cơ ung thư âm đạo. Nên sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục để bảo vệ chống lại các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
- Tiêm vaccin phòng ung thư cổ tử cung có thể giúp ngăn ngừa các bệnh ung thư khác liên quan đến cổ tử cung như ung thư âm đạo. Bạn nên tiêm vaccin này trước 26 tuổi vì sẽ phát huy được cao nhất hiệu quả phòng bệnh của vaccin.
- Kiểm tra khung xương chậu có thể giúp chẩn đoán âm đạo và ung thư khác.

BS.Hồng Hạnh (SK&DS)

Xơ vữa động mạch tuổi mãn kinh

Mãn kinh là một giai đoạn tất yếu trong đời sống sinh dục của người phụ nữ. Nó liên quan tới sự già hóa dần của buồng trứng và sự giảm sút của số lượng trứng. Đi cùng những chuyển hóa về lipid, người ta nhận thấy xơ vữa động mạch có xu hướng gia tăng ở phụ nữ mãn kinh.

Những chuyển hóa về lipid khi mãn kinh
Về phương diện sinh lý quá trình mãn kinh có hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất kéo dài 5-10 năm(Tùy thuộc từng trường hợp) gọi là giai đoạn tiền mãn kinh. Giai đoạn này lượng Progesteron giảm một cách tương đối hay tuyệt đối. Giai đoạn thứ hai được gọi là mãn kinh thực sự đặc trưng bởi sự thiếu hụt estrogen. Ngày càng có nhiều bằng chứng khoa học cho thấy estrogen có ảnh hưởng tới chuyển hóa lipid và gián tiếp qua trung gian chuyển hóa này tác động lên hệ mạch máu. Trong số người bình thương, nữ giới trong độ tuổi hoạt động sinh dục có tỷ lệ triglycerit thấp hơn so với nam giới.Sau khi mãn kinh sự khác biệt này dần dần mất đi:lượng triglycerid và lipoprotein tỷ trọng thấp trong huyết tương của phụ nữ tăng dần và tiến tới giá trị bình thường của nam giới.Người ta cho rằng ostradiol gây tác động lên quá trình tổng hợp triglycerid của gan và làm cho lượng triglycerid của phụ nữ thấp.Ngược lại,khi dùng estrogen tổng hợp theo đường uống lại làm tăng triglycerid máu.Cách thức estrogen được vận chuyển vào gan(theo đường tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch dưới gan) và cấu trúc hóa của Estrogen (tổng hợp hay tự nhiên) dường như gây ảnh hưởng rất khác nhau đối với chuyển hóa triglycerid.

Vữa xơ động mạch có xu hướng tăng lên
Đi cùng những thay đổi về chuyển hóa lipid người ta nhận thấy Vữa xơ động mạch có xu hướng tăng lên ở phụ nữ mãn kinh và vữa xơ động mạch vành là loại vữa xơ động mạch nguy hiểm nhất.Trước tuổi 45 người ta thấy nam giới bị vữa xơ động mạch vành nhiều hơn, nhưng sự vượt trội này cũng dần giảm xuống; mãn kinh hình như đã làm mất đi sự miễn dịch tương đối của nữ giới đối với vữa xơ động mạch vành.Một số nhà nghiên cứu còn cho thấy bệnh động mạch vành phát triển nhiều ở những phụ nữ vai to, da dày,có hệ lông phát triển kiểu nam giơí. Thể tạng này có thể do tăng bài tiết lượng hormon nam giới

Hậu quả của vữa xơ động mạch là làm hẹp lòng động mạch.Đối với động mạch vành, khi lòng mạch hẹp từ 50% trở lên thì cơ tim thiếu máu nuôi dưỡng, biểu hiện lâm sàng thường gặp của thiếu máu cơ tim là đau thắt ngực.Cơn đau có thể xuất hiện khi gắng sức hoặc ngay cả khi nghỉ ngơi, kéo dài từ 3- 10 phút.Vị trí đau thường ở phần cao của lồng ngực,sau xương ức, lan lên cổ hoặc vai,lan xuống cánh tay trái,thậm chí đau lan xuống cả ngón tay.Khi gặp cơn đau như vậy người bệnh nên đến khám chuyên khoa tim mạch để tránh một số biến cố tim mạch nặng nề là nhồi máu cơ tim.

Đối với các động mạch chi dưới, hẹp lòng động mạch do vữa xơ cũng gây thiếu máu các cơ bắp được chi phối bởi động mạch liên quan.Lâm sàng xuất hiện một dạng đau gọi là “đau cách hồi”.Khi đi bộ một quãng đường từ vài mét đến vài trăm mét người bệnh buộc phải dừng lại vì đau.Cơn đau kiểu chuột rút, bắp cơ co cứng và hết sau vài phút nghỉ ngơi,sau đó lại xuất hiện nếu cứ tiếp tục đi… Lúc này sự thăm khám chuyên khoa cũng là việc nên làm.

Có nên sử dụng Hormon thay thế?
Vào giai đoạn mãn kinh, điều trị bằng hormon thay thế là một biện pháp hợp lý, vì phương pháp điều trị này giúp cho cơ thể có thêm các hormon buồng trứng ngoại sinh, lượng hormon này có tác dụng bù lại những khiếm khuyết, những hậu quả về sinh hóa, về lâm sàng do thiếu hụt các hormon sinh dục steroid nội sinh gây ra.Nó có thể làm bớt đi những rối loạn của hệ thần kinh giao cảm,các cơn bốc hỏa nóng bừng, vã mồ hôi có thể thuyên giảm và chất lượng cuộc sống của người phụ nữ được cải thiện tốt hơn.Thế nhưng trị liệu này có làm giảm tai biến mạch do xơ vữa động mạch( nhất là xơ vữa động mạch vành) hay không, cho đến nay vẫn chưa được khẳng định.

TS Tạ Cường

Những rối loạn hay gặp trong giai đoạn mãn kinh ở phụ nữ u50

Mãn kinh là một hiện tượng sinh lý bình thường xảy ra cho tất cả phụ nữ ở độ tuổi 45-50. Quan niệm xưa cho rằng mãn kinh là giai đoạn chót của cuộc sống, giai đoạn đi vào sự già nua.

Nhưng quan niệm ngày nay tiến bộ hơn rất nhiều, mãn kinh không phải là giai đoạn cuối của cuộc đời người phụ nữ mà chỉ là giai đoạn chuyển tiếp trong đời sống tình dục của người phụ nữ, không còn phải đảm nhận chức năng sinh sản nữ trong khi đời sống tình dục vẫn bình thường mà không sợ có thai. Tuy nhiên có một số rối loạn nội tiết làm chị em lo lắng, mặc dù các rối loạn này có thể điều trị dễ dàng.

Mãn kinh gồm hai giai đoạn:

- Thời kỳ tiền mãn kinh: Trước tiên là ngưng rụng trứng, thời kỳ này kéo dài nhiều tháng, có khi nhiều năm. Do không rụng trứng nên nội tiết tố progesteron của buồng trứng không được tiết ra, gây rối loạn kinh nguyệt, chu kỳ kinh thay đổi khi dài, khi ngắn, kinh không đều.

- Thời kỳ mãn kinh thực sự: Người phụ nữ không còn thấy kinh nữa và thỉnh thoảng có những cơn bốc hoả, cảm giác nóng bừng, đỏ mặt, hay túa mồ hôi, cảm giác nặng chân, hay bị chuột rút về đêm…

Những rối loạn hay gặp trong giai đoạn này là:

- Thay đổi tính tình: Người phụ nữ cảm thấy đôi lúc buồn vui vô cớ, trầm cảm hoặc dễ cáu gắt vì nội tiết tố buồng trứng giảm, biểu hiện này cũng thường gặp trong một chu kỳ kinh nguyệt, do nội tiết tố buồng trứng lúc tăng lúc giảm.

- Niêm mạc ở bộ phận sinh dục dần dần teo mỏng, do đó âm hộ âm đạo dễ bị xây xát, nhiễm khuẩn, khô, ngứa rát;

- Sa sinh dục cũng dễ gặp vì các cơ, dây chằng vùng chậu hông bị nhão ra.

- Cơ thể hay bị béo ra trong giai đoạn này cũng là do nguyên nhân nội tiết tố buồng trứng. Ngoài ra còn do dinh dưỡng không hợp lý làm năng lượng cung cấp cho cơ thể mất cân đối, vì vậy trong giai đoạn này phụ nữ cần chú ý đến cân đối dinh dưỡng trong bữa ăn hằng ngày, chăm tập thể dục.

- Da dẻ trở nên kém mềm mại, khô, xuất hiện nhiều nếp nhăn, da có nhiều đám đồi mồi trên mu bàn tay, da mặt có nhiều vết rám da, lông tóc móng khô xơ dễ rụng và bạc.

- Hay gặp các bệnh tiết niệu như tiểu buốt, tiểu són, thường hay mắc tiểu không tự chủ do niêm mạc bàng quang, niệu đạo bị ảnh hưởng, hay bị viêm nhiễm, kích ứng gây ra.

- Các biến chứng của xương khớp: Do thiếu nội tiết tố nên xương không hấp thu tốt chất canxi trở nên giòn, dễ gãy, hay gặp gãy cổ xương đùi, ngoài ra còn hay bị đau cột sống thắt lưng, thoái hoá đốt sống cổ, lưng… đau dây thần kinh toạ.

- Hiện tượng rối loạn tim mạch, tăng huyết áp, xơ cứng động mạch cũng dễ xảy ra ở phụ nữ tuổi mãn kinh. Ngoài ra, thiểu năng nội tiết tố sinh dục nữ ở giai đoạn sau mãn kinh là yếu tố khơi dậy một vài ung thư sinh dục sẵn có tiềm tàng.

BS. THANH QUI

Thông minh tính dục

Tôi có một gia đình êm ấm nhưng thường cảm thấy không thỏa mãn với bạn đời. Gần đây, cứ nhìn thấy người đàn ông xa lạ nào đó, tôi lại tưởng tượng đến cảnh họ gần gũi phụ nữ. Tôi sợ hãi và căm ghét chính mình. Làm sao đây?

Một nỗi niềm có vẻ như nghịch lý: thừa nhận có gia đình êm ấm nhưng lại không thỏa mãn với bạn đời. Luôn có huyễn tưởng về tình dục nhưng lại sợ hãi và căm ghét chính mình. Với tâm trạng đó thì một chuyên gia tâm lý hay phân tâm học có lẽ sẽ giúp được nhiều nhưng cũng nên bàn đến một nguyên nhân khác có thể dẫn đến sự mâu thuẫn nội tâm nói trên.

Người ta nhận thấy rằng, những người thành đạt có chỉ số thông minh cao chỉ chiếm tỷ lệ dưới 20%, 80% trường hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác quan trọng hơn trí thông minh khái quát và xử lý linh hoạt. Vì trong muôn mặt của cuộc sống, có nhiều kiểu thông minh, ví dụ thiên tài Mozart có trí thông minh siêu việt về âm nhạc, Rodin về hình khối, Michael Jordan (danh thủ bóng rổ Mỹ) về cảm giác thân thể trong không gian… và thông minh tính dục là kiểu thông minh liên quan đến sự hiểu rõ và biết kiểm soát các cảm xúc. Chính sự thông minh cảm xúc này xem ra mới lý giải được một cách hợp lý hơn nhiều nghịch lý trong cuộc sống, kể cả khi phân tích về sự thành đạt cũng như phân tích về thất bại trong đời sống tình dục.

Điều ngạc nhiên là không ít người có học (từ trình độ đại học trở lên) vẫn nhìn nhận sai lệch về tình dục (là hành vi dung tục, thấp kém), trong khi chính Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại thừa nhận chức năng tình dục người là một thực thể sức khỏe và để có sức khỏe tình dục và để thành công trong cuộc sống, mỗi người không chỉ cần đến chỉ số thông minh cao mà cũng cần đạt đến mức độ cần thiết của thông minh tính dục.

Tâm trí luôn bị ám ảnh về chuyện tình dục… nhưng một sức mạnh có nguồn gốc từ nền văn hóa truyền thống, từ phong cách giáo dục gia đình… khiến người phụ nữ có thái độ xấu hổ, căm ghét chính mình nhưng thực chất là sự giấu giếm hay dồn nén “cái tôi tính dục thầm kín”. Ảnh hưởng của văn hóa và giáo dục có thể có sức mạnh đến mức các chuyên gia tâm lý cho rằng khi lên giường, không chỉ có đôi bạn tình mà có đến 6 người (ý nói ảnh hưởng tâm lý đến từ cha mẹ, ông bà của mỗi bên).

Điều gì sẽ xảy ra nếu như người phụ nữ không thể chịu đựng nổi sự dồn nén?

Người có thông minh tính dục không chỉ có hiểu biết các yếu tố sinh học, nội tiết chi phối ứng xử tình dục mà chủ yếu nhất là sự biết rõ về bản thân mình, hiểu rõ “cái tôi tính dục thầm kín”, dám bộc lộ những ham muốn chân chính, biết phát triển cảm xúc để chia sẻ với bạn tình thì mới có thể tiến đến một đời sống tình dục phong phú và hạnh phúc.

Thông minh tính dục còn là sự khôn ngoan biết nhận ra những gì có thể làm hỏng mối quan hệ: mặc cảm tội lỗi khi cảm thấy có ham muốn tình dục, những hổ thẹn sai lầm, những ám ảnh tâm lý trong quá khứ để lại hậu quả tiêu cực cho cuộc sống tình dục hiện tại, những nỗi sợ hãi có nguồn gốc từ môi trường văn hóa hay từ những trải nghiệm thất bại… Những bất cập trong đời sống tình dục vợ chồng thường có nguyên nhân sâu xa nhưng lại hay bị che giấu hay ngụy trang dưới cái vẻ ngoài cao đạo để phải sống trong sự cam chịu cho cả hai người.

Sự bộc lộ mạnh dạn nói trên có thể có ý nghĩa như một cách giải tỏa và cho thấy có sự không thỏa mãn trong đời sống vợ chồng. Nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến nhiều bất lợi cho sức khỏe (rối nhiễu tâm trí, trầm cảm, kể cả lãnh cảm…) thậm chí rạn nứt, tan vỡ gia đình.

Nếu không thể tự giải quyết giữa vợ chồng hãy tìm đến các chuyên gia tâm lý và tình dục để được tư vấn, khám phá “cái tôi tính dục thầm kín” và những giải pháp phải lựa chọn.

BS.Đào Hồng Anh