Hiển thị các bài đăng có nhãn thai phụ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thai phụ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 7 tháng 2, 2012

Những thức ăn không an toàn cho bà bầu

Ảnh minh họa

Ăn những thức ăn an toàn là một vấn đề rất quan trọng trong thời gian bạn mang thai. Nhưng có một số loại thức ăn đang ẩn chứa những nguy cơ có thể làm ảnh hưởng đến bạn và thai nhi. Sau đây là một số nguy cơ đang tìm ẩn trong thức ăn mà bạn nên biết và có cách phòng tránh.

Một số loại vi khuẩn

Một số loại vi khuẩn có thể là nguyên nhân gây ra chứng cảm ho cho bạn. Nhưng nguy hiểm hơn, nó còn là nguyên nhân dấn đến nguy cơ bị sẩy thai và sinh non ở thai phụ
“Trên thế giới có 20 ngàn phụ nữ mang thai bị nhiễm vi khuẩn thì có đến 50 phần trăm trong số này bị ảnh hưởng đến thai nhi” Fiona Ford – một chuyên gia về dinh dưỡng của Sainsbury’s cho biết. “Loại vi khuẩn này chỉ xuất hiện trong một số loại thức ăn không an toàn. Nhưng không có nghĩa là cứ bạn ăn những loại thức ăn không an toàn thì sẽ bị nhiễm loại vi khuẩn này. Vì vậy đừng tỏ ra quá lo lắng” Ông nói thêm.

Các món ăn nên tránh

Phó mát kết hợp với lòng trắng trứng gà, chẳng hạn như: phó mát camembe, phó mát của Pháp
Pâ te được làm từ thịt, cá hoặc rau xanh, trừ khi chúng đã được đóng hộp hoặc được kiểm nghiệm qua phương pháp Pax tơ (tránh ăn pâ te có chứa gan)

Khuẩn Salmonella

Khuẩn Salmonella là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất gây ra ngộ độc thực phẩm.
Salmonella không gây hại ngay tức khắc đối với thai nhi, nhưng nó là nguyên nhân làm cho bạn bị nôn mửa, tiêu chảy và dẫn đến mất nước trầm trọng.
“Phụ nữ hay lo ngại về việc ăn trứng, nhưng sự nguy hiểm chính lại xuất phát từ việc bạn ăn thịt gà” Fiona Ford nói.

Những thức ăn nên tránh

Không nên ăn thịt gà sống hoặc chưa chín tới
Không nên ăn trứng sống hoặc trứng còn quá lỏng, hoặc những món ăn được làm từ trứng sống

Một số thức ăn khác mà bạn nên tránh

Ngoài các thức ăn kể trên. Còn có một số loại thức ăn khác bạn cũng cần nên tránh trong suốt thời kì mang thai, vì nó có thể gây ra nhiều vấn đề rắc rối cho bạn.

Gan

Tránh ăn gan và những thức ăn có chứa gan vì chúng có chứa hàm lượng vitamin A quá cao. Nếu cơ thể bạn hấp thụ quá nhiều viwtamin A sẽ dễ dẫn đến nguy cơ bị thai dị dạng hoặc khó sinh.

Đậu phụng

Nếu tiểu sử bạn bị mắc các chứng bệnh kinh niên như: hen suyễn, ho theo mùa, chàm bội nhiễm… thì tổ chức chăm sóc sức khỏe khuyên bạn nên tránh xa đậu phụng. Điều này sẽ giúp bạn tránh được những dị ứng từ đậu. Ngoài ra, bạn cũng nên tránh ăn những thức ăn như cua, tôm, sò.

Theo Young Parents

Chế độ dinh dưỡng của mẹ giúp bé thông minh

Chế độ ăn uống của mẹ thời kỳ bầu bí liên quan mật thiết đến sự phát triển não bộ của bé. Bởi vậy mẹ nhất định phải nắm bắt thời cơ này mà bồi bổ cho hợp lý. Tám nguyên tắc dinh dưỡng sau đây sẽ giúp mẹ bé.

Chú trọng thực phẩm chính, trạm năng lượng phát triển não bộ cho bé

Đường Glucose là chất dinh dưỡng duy nhất cung cấp năng lượng cho não mà hợp chất carbohydrate chính là nguồn cung cấp đường glucose chủ yếu. Bởi vậy những thực phẩm giàu carboydrate như gạo, bột mì, ngô hay các loại đậu, khoai tây, trái cây nên chiếm tỉ lệ khoảng 60% (thậm chí có thể nhiều hơn) trong bữa ăn của người mẹ. Mẹ cũng nên hạn chế nạp những thực phẩm có chứa hàm lượng đường đơn giản cao như đường mía, đường đỏ.

Bổ sung protein, vật chất nền móng để phát triển não bộ của bé.

Cần phải có 35% protein để duy trì và phát triển chức năng của bộ não, tăng cường khả năng tư duy, phân tích và lý giải của não. Nhưng bổ sung protein cần phải được tiến hành dưới tiền đề năng lượng và hợp chất carbohydrate cũng được cung cấp đầy đủ. Nếu nhiệt lượng chưa được bổ sung đầy đủ mà đã bổ sung hàm lượng lớn protein thì protein không những không dự trữ và chuyển cho bào thai mà ngược lại sẽ bị đốt cháy để cung cấp năng lượng cho mẹ. Hơn thế nữa, hàm lượng lớn axit uric sản sinh trong quá trình phân giải protein sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho thận.

Vậy nên tiền đề của việc ăn ngon chính là ăn no, đặc biệt đối với thai phụ ở thai kỳ thứ hai, bởi việc mang thai cộng với gánh nặng công việc sẽ khiến năng lượng của người mẹ bị tiêu hao nhiều hơn. Một bà mẹ 55-60kg, làm công việc lao động tương đối nhẹ nhàng một ngày ngoài 6 lạng tinh bột cần phải bổ sung 500ml sữa, 1 quả trứng, 3 lạng thịt nạc (thịt gia súc, gia cầm hay tôm cá) và lượng hoa quả rau xanh phù hợp. Đặc biệt nên cố gắng đảm bảo lượng thực phẩm động vật vì hàm lượng protein trong động vật cao hơn nhiều so với thực vật.

Chú trọng đến axit béo – vũ khí bí mật giúp bé thông minh

Chất béo chiếm khoảng 50-60% trọng lượng não bé. Những loại chất béo có chất lượng cao đặc biệt là axit béo tổng hợp không no (polyunsaturated fatty acid) và chất béo lecithin có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển tế bào não và hình thành myelin (chất béo bao bọc xung quanh dây thần kinh). Dầu bắp, dầu oliu, dầu mè, dầu đậu nành, dầu thực vật và các loại cá biển nước sâu, tôm đều là những thực phẩm có nguồn axit béo rất tốt.

Tăng cường vitamin B, axit folic – giải pháp ngừa khuyết tật ống thần kinh

Vitamin nhóm B có tác dụng duy trì chức năng bình thường của hệ thần kinh, thúc đẩy hoạt động trí tuệ. Phụ nữ trước khi mang thai khoảng một tháng và trong suốt thời gian đầu của thai kỳ mỗi ngày nên bổ sung 400mg axit folic để ngăn chặn khuyết tật ở ống thần kinh. Ngũ cốc, gan, thịt, đậu và rau sẫm màu chính là nguồn vitamin nhóm B rất phong phú.

Bổ sung DHA và Cholin – thúc đẩy sự phát triển của tế bào não của thai nhi

DHA là một loại axit béo tổng hợp không no tồn tại trong thiên nhiên rất cần thiết cho sự phát triển hoàn hảo của hệ thần kinh, nó có liên quan trực tiếp đến sự phát triển tế bào thần kinh ở não thai nhi và võng mạc. Phụ nữ mang thai mặc dù có thể bổ sung DHA thông qua axit linolenic có trong thực phẩm có nguồn gốc thực vật chuyển hóa thành DHA, nhưng nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy chỉ có khoảng 3% axit linolenic loại này chuyển hóa thành DHA, do đó bổ sung DHA thông qua thực phẩm có nguồn gốc từ động vật vẫn là sự lựa chọn thích hợp cho thai phụ.

Trong mỡ của tôm, cá biển (đặc biệt là cá nước sâu như cá thu, cá ngừ, cá hồi, cá chích, cá chình, tôm sú…) có chứa hàm lượng lớn DHA, do đó mỗi tuần bạn hãy ăn 3-4 lần tôm cá để cung cấp DHA cho thai nhi.

Hàm lượng DHA của động vật trên cạn tương đối nhỏ, do đó nếu không ăn được cá tôm bạn có thể lựa chọn các sản phẩm có chứa DHA (từ sữa, trứng, đậu tương…) để hỗ trợ cho việc hấp thụ DHA.

Cholin là dưỡng chất thiết yếu của cơ thể, có vai trò tăng cường trí nhớ nhưng lượng Cholin tích lũy trong cơ thể khó có thể thỏa mãn nhu cầu khi mang thai, do đó bổ sung lượng cholin thích hợp từ các thực phẩm như tim gan động vật, trứng, thịt, sữa, đậu lạc, khoai tây sẽ thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng các tế bào não của thai nhi.

Không quên kẽm. Thiếu kẽm, não bé kém phát triển

Kẽm là một trong những nguyên tố vi lượng thiết yếu của cơ thể, nó có vai trò tác động chọn lọc lên quá trình phân giải axit nucleic và protein – những thành phần quan trọng nhất của sự sống. Kẽm có độ tập trung cao trong não đặc biệt ở thùy hải mã, ở vỏ não. Nếu thiếu kẽm có thể dẫn đến rối loạn thần kinh và cơ thể phát sinh bệnh tâm phần phân liệt. Để bổ sung lượng kẽm thích hợp cho thai nhi, mẹ cần phải ăn các loại thực phẩm có hàm lượng kẽm cao như thịt, gan, trứng, sữa, cá tôm, rau củ quả có màu vàng hoặc màu xanh đậm.

Đừng bỏ qua iốt – nguyên liệu cần thiết cho phát triển não và hệ thần kinh

Iốt tập trung chủ yếu ở tuyến giáp để tổng hợp hoócmôn giáp trạng, nó cũng là nguyên liệu thiết yếu phát triển não và hệ thống thần kinh ở thai nhi. Thông thường muối ăn có chứa iốt, nhưng mẹ cần biết cách sử dụng muối cho đúng: dù chiên xào hay nấu cũng nên bỏ muối sau khi đã nấu kỹ hoặc trước khi bắc nồi ra để tránh mất iốt trong quá trình nấu nướng lâu. Ngoài ra, rong biển, cá biển cũng rất giàu iốt.

Cảnh giác với thực phẩm có chứa kim loại nặng. Không ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá có kích thước lớn

Ăn cá tất nhiên rất có lợi, nhưng không nên ăn quá nhiều cá đặc biệt là các loại cá lớn vì trong cơ thể chúng có chứa thủy ngân. Chất này sẽ đi qua nhau thai để vào bào thai và tích lũy trong cơ thể bé lâu dần có thể ảnh hưởng đến sự phát triển của não bộ bé và rất có thể sẽ khiến trí lực của bé chậm phát triển.

Cuối cùng xin nhắc các bà mẹ rằng vitamin và các nguyên tố vi lượng như canxi, phốt pho, natri, kali, iốt, sắt, kẽm, mangan đều là những dưỡng chất không thể thiếu cho hoạt động của não bé. Chế độ dinh dưỡng đầy đủ, cân bằng sẽ giúp não bé phát triển thông minh vượt trội.

Theo – Mẹ & Bé

Có nên chọn ngày, giờ để sinh con?

Sinh mổ mang lại nhiều nguy cơ cho mẹ và con.

Ngày càng có nhiều sản phụ chọn phương pháp sinh mổ, họ quan niệm rằng việc phẫu thuật giúp họ lựa chọn được ngày sinh, tháng đẻ, giờ sinh và cả bác sĩ mát tay và số giường, số phòng… để sinh con quý tử, hợp với bố mẹ… Yếu tố tâm linh là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều sản phụ chọn phương pháp phẫu thuật thay vì sinh đẻ tự nhiên. Nhưng có thật sự là ai sinh vào ngày, giờ “vàng” cũng tốt không? Và việc chọn ngày, giờ để sinh con có những ảnh hưởng như thế nào đến thai phụ và thai nhi?

Những con số đáng báo động
Theo nghiên cứu mới đây của nhóm bác sĩ Bệnh viện phụ sản TƯ và Trường Đại học Y Hà Nội, tỷ lệ mổ lấy thai ở nước ta đang có xu hướng tăng dần. Hiện, tỷ lệ này ở Bệnh viện phụ sản TƯ là gần 41%, Bệnh viện phụ sản Hà Nội là hơn 43%. Trong số 423 bà mẹ (ở hai quận Hoàn Kiếm, Gia Lâm) tham gia nghiên cứu, có 30,3% bà mẹ mổ lấy thai, trong đó, 14% muốn mổ lấy thai để chọn được ngày, giờ sinh tốt cho đứa trẻ và 16,7% là do chịu sự tác động từ phía gia đình…

Tại khu vực đồng bằng sông Cửu Long có nhiều thời điểm tỷ lệ mổ đẻ chiếm tới 60% các ca sinh nở.
Con số thấp hơn, như ở Bệnh viện TP Hồ Chí Minh các ca mổ đẻ cũng chiếm trên 30%. Tại Bệnh viện Đà Nẵng, tỷ lệ này cũng trên 40% ca mổ đẻ. Trong khi đó, mức trung bình trên thế giới chỉ chiếm trên 10% tổng số các ca sinh.

Nhiều nguy cơ cho mẹ và con
Theo các bác sĩ, có thể tiến hành các ca mổ đẻ trước từ mấy tuần tuổi, miễn sao đảm bảo theo tiêu chuẩn, chỉ định của ngành y tế. Nhưng việc can thiệp thai nhi sớm, chắc chắn làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của bào thai cũng như đứa trẻ sau này và cả người mẹ nữa.Theo đó, dù nguyên nhân nào thì việc đứa trẻ chào đời do không được ra bằng đường tự nhiên (trẻ không đi qua ống âm đạo, phổi không bị ép để tống xuất các chất dịch) nên dạ dày và phổi có thể vẫn còn nước ối. Sự tồn ứ dịch trong phổi trẻ làm tăng nguy cơ suy hô hấp, gây bệnh màng trong.

Đây là các bệnh lý rất nặng ở trẻ sơ sinh, việc điều trị đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Ngoài ra, sự chuyển dạ của người mẹ sẽ sản sinh ra nhiều hormon giúp trẻ đề kháng tốt. Những trẻ sinh mổ không trải qua quá trình này sẽ thiếu những hormon cần thiết nên thường yếu hơn những trẻ sinh thường.
Việc sinh mổ còn có thể dẫn đến những biến chứng cho người mẹ trong lần mang thai sau, nhất là nguy cơ chửa ngoài dạ con, vỡ tử cung ở mẹ, nhau thai bám vào vết mổ cũ… rồi lần sinh con sau hầu như đều phải mổ, quá trình mang thai sau cũng phải theo dõi sát sao, căng thẳng hơn.

Vì vậy, trước khi đề nghị chọn ngày giờ sinh mổ, sản phụ cần tìm hiểu kỹ những ích lợi và tác hại của nó, lắng nghe những tư vấn của bác sĩ. Nếu bác sĩ không chỉ định mổ lấy thai, sản phụ nên sinh con theo cách tự nhiên. Bác sĩ sẽ chỉ định cho sinh mổ trong một số trường hợp như: thai quá to, người mẹ có bệnh nhiễm khuẩn có thể gây lây nhiễm cho bé trong khi sinh thường hay dị tật về cơ thể, mẹ mang thai nhiều bé cùng một lúc, trẻ bị tràng hoa quấn cổ có nguy cơ tử vong, thai ngược…

Hoài Phương (SK&ĐS)

Khi mang thai có nên dùng thuốc bổ Đông y?

Nhiều phụ nữ khi mang thai muốn tăng cường sức khỏe đã sử dụng thuốc bổ Đông y bởi cho rằng, thuốc bổ Đông y rất “lành” nên có thể dùng cho bất kỳ ai. Tuy nhiên, các chuyên gia y tế khuyến cáo, Đông y có nhiều loại thuốc bổ nhưng không phải bất cứ ai cũng có thể dùng được đặc biệt là phụ nữ mang thai. Việc tự ý dùng thuốc Đông y để bồi bổ có thể gây nguy hại cho thai nhi.

Trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ nên tham khảo ý kiến bác sĩ.

Bác sĩ Nguyễn Xuân Hướng, Chủ tịch Hội Đông y cho biết, việc dùng thuốc bổ nói chung phải được xem xét một cách thận trọng và tuân thủ những nguyên tắc nhất định, đặc biệt là với phụ nữ mang thai. Cũng vì thế, các dược thư cổ luôn ghi rõ những vị thuốc cấm dùng cho phụ nữ có thai, trong đó có cả những vị thuốc thuộc nhóm bổ dưỡng. Hơn nữa, các vị thuốc được coi là bổ trong Đông y có thể bổ với người này nhưng lại gây hại với người kia. Do vậy, phụ nữ có thai nếu ăn uống tốt, đầy đủ, làm việc và nghỉ ngơi hợp lý, thai nhi phát triển bình thường, mẹ khỏe thì không cần dùng thuốc. Chỉ nên tìm đến sự hỗ trợ của Đông y khi thai phụ bị nôn nhiều, ăn uống kém, làm ảnh hưởng tới sự phát triển của thai nhi. Tuy nhiên, trước khi dùng thuốc bổ Đông y các thai phụ cần tham khảo ý kiến bác sĩ để được tư vấn về sức khỏe, tuổi, tiền sử bệnh tật… để quyết định có nên sử dụng hay không.

 

Theo Thạc sỹ Hoàng Khánh Toàn, Chủ nhiệm khoa Y học cổ truyền, Bệnh viện Trung ương quân đội 108, khi mang thai, trạng thái sinh lý của cơ thể thai phụ biến đổi rất lớn. Người mẹ rất dễ mắc một số bệnh như ốm nghén, phù, đi tiểu khó, động thai, băng huyết, trụy thai (sảy thai, đẻ non…) Ngoài ra, trong thời kỳ này, phụ nữ cũng cần lượng dinh dưỡng và huyết lớn để nuôi con. Vì vậy nếu việc bồi bổ bằng thức ăn không đảm bảo thì nên dùng thuốc. Trước hết, nên trọng dụng các món ăn – bài thuốc vì đây là phương thức bồi bổ đơn giản, có hiệu quả, dễ dùng, dễ chế và dễ được chấp nhận. Việc bồi bổ bằng thuốc phải tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ. Và khi mua thuốc nên mua tại các cơ sở tin cậy, không mua thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Nguyễn Hoàng Linh (SK&ĐS)

Vì sao “bà bầu” hay bị chóng mặt?

Khi mang thai, cơ thể người phụ nữ có nhiều thay đổi lớn. Chóng mặt thời kỳ thai nghén là một biểu hiện thường thấy, cũng có thể do bệnh lý hoặc có thể do cơ thể phản ứng lại với một mầm sống mới đang hình thành trong cơ thể.

Ảnh minh họa

Trong thời kỳ đầu mang thai, một loạt các triệu chứng xuất hiện như váng đầu, buồn nôn, nôn, kiệt sức… Nguyên nhân phát bệnh có thể là do trạng thái tinh thần và cơ chế tác động của hormon trong cơ thể. Ngoài ra chức năng của tuyến vỏ thượng thận bị suy giảm, thiếu vitamin B 6 , và tâm lý sợ hãi có thể thúc đẩy phát sinh các phản ứng thời kỳ đầu mang thai làm xuất hiện chóng mặt.

Vào cuối thời kỳ mang thai, thai phụ có thể xuất hiện tăng huyết áp, nước tiểu có abumin và có phù, tăng huyết áp có thể dẫn đến chóng mặt, nặng đầu. Khi xuất hiện những triệu chứng này cần chú ý đến  khả năng chảy máu cuống rốn, tình trạng đông máu trong mạch máu. Khi bị phù chân voi, chóng mặt, váng đầu ở thời kỳ cuối của quá trình thai nghén cần phải đi khám ngay ở các cơ sở sản khoa tin cậy và không được tự ý uống bất kỳ loại thuốc nào dù là Đông hay Tây y.

Chóng mặt khi mang thai cũng có thể do thiếu máu, đây là tình trạng phổ biến nhất là đối với những phụ nữ cơ thể gầy yếu, khi mang thai không được uống bổ sung sắt. Vào cuối thời kỳ mang thai, dung lượng huyết tương tăng nhanh hơn tổng hợp gia tăng của huyết sắc tố và hồng cầu khiến máu bị loãng, tỉ lệ hồng cầu bị hạ thấp làm thai phụ xuất hiện hiện tượng thiếu máu do thiếu sắt. Khi thiếu máu nặng sẽ khiến đại não và tai trong bị trở ngại do không được cung cấp đủ máu và xuất hiện các triệu chứng như váng đầu, ù tai, mất thăng bằng, mất sức, sắc mặt tái xanh…

Chóng mặt trong thời kỳ mang thai là tình trạng thường gặp và có thể điều trị được. Để khắc phục tình trạng này, trước khi mang thai người phụ nữ cần bồi dưỡng sức khoẻ, nhất là đối với người có thể trạng gầy yếu. Khi có thai cần ăn đầy đủ các chất dinh dưỡng, không dùng các chất kích thích như rượu, bia, cà phê. Ngủ đủ 8 tiếng một ngày, không làm công việc nặng nhọc, nên luyện tập bằng hình thức đi bộ thư giãn. Tránh những nơi ồn ào, kích động. Cần uống viên sắt mỗi ngày, sau khi đẻ một số người do mất máu nhiều cũng có thể gây thiếu máu, váng đầu, ù tai. Thực hiện tốt những lưu ý trên, thai phụ có thể tránh được chứng chóng mặt, váng đầu. Nếu đột nhiên xảy ra tình trạng chóng mặt dữ dội, cần đến ngay bác sĩ để bảo vệ cả mẹ và thai nhi an toàn.

BS. Nguyễn Tiến Dũng (SK&DS)

Thông minh tính dục

Tôi có một gia đình êm ấm nhưng thường cảm thấy không thỏa mãn với bạn đời. Gần đây, cứ nhìn thấy người đàn ông xa lạ nào đó, tôi lại tưởng tượng đến cảnh họ gần gũi phụ nữ. Tôi sợ hãi và căm ghét chính mình. Làm sao đây?

Một nỗi niềm có vẻ như nghịch lý: thừa nhận có gia đình êm ấm nhưng lại không thỏa mãn với bạn đời. Luôn có huyễn tưởng về tình dục nhưng lại sợ hãi và căm ghét chính mình. Với tâm trạng đó thì một chuyên gia tâm lý hay phân tâm học có lẽ sẽ giúp được nhiều nhưng cũng nên bàn đến một nguyên nhân khác có thể dẫn đến sự mâu thuẫn nội tâm nói trên.

Người ta nhận thấy rằng, những người thành đạt có chỉ số thông minh cao chỉ chiếm tỷ lệ dưới 20%, 80% trường hợp còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác quan trọng hơn trí thông minh khái quát và xử lý linh hoạt. Vì trong muôn mặt của cuộc sống, có nhiều kiểu thông minh, ví dụ thiên tài Mozart có trí thông minh siêu việt về âm nhạc, Rodin về hình khối, Michael Jordan (danh thủ bóng rổ Mỹ) về cảm giác thân thể trong không gian… và thông minh tính dục là kiểu thông minh liên quan đến sự hiểu rõ và biết kiểm soát các cảm xúc. Chính sự thông minh cảm xúc này xem ra mới lý giải được một cách hợp lý hơn nhiều nghịch lý trong cuộc sống, kể cả khi phân tích về sự thành đạt cũng như phân tích về thất bại trong đời sống tình dục.

Điều ngạc nhiên là không ít người có học (từ trình độ đại học trở lên) vẫn nhìn nhận sai lệch về tình dục (là hành vi dung tục, thấp kém), trong khi chính Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) lại thừa nhận chức năng tình dục người là một thực thể sức khỏe và để có sức khỏe tình dục và để thành công trong cuộc sống, mỗi người không chỉ cần đến chỉ số thông minh cao mà cũng cần đạt đến mức độ cần thiết của thông minh tính dục.

Tâm trí luôn bị ám ảnh về chuyện tình dục… nhưng một sức mạnh có nguồn gốc từ nền văn hóa truyền thống, từ phong cách giáo dục gia đình… khiến người phụ nữ có thái độ xấu hổ, căm ghét chính mình nhưng thực chất là sự giấu giếm hay dồn nén “cái tôi tính dục thầm kín”. Ảnh hưởng của văn hóa và giáo dục có thể có sức mạnh đến mức các chuyên gia tâm lý cho rằng khi lên giường, không chỉ có đôi bạn tình mà có đến 6 người (ý nói ảnh hưởng tâm lý đến từ cha mẹ, ông bà của mỗi bên).

Điều gì sẽ xảy ra nếu như người phụ nữ không thể chịu đựng nổi sự dồn nén?

Người có thông minh tính dục không chỉ có hiểu biết các yếu tố sinh học, nội tiết chi phối ứng xử tình dục mà chủ yếu nhất là sự biết rõ về bản thân mình, hiểu rõ “cái tôi tính dục thầm kín”, dám bộc lộ những ham muốn chân chính, biết phát triển cảm xúc để chia sẻ với bạn tình thì mới có thể tiến đến một đời sống tình dục phong phú và hạnh phúc.

Thông minh tính dục còn là sự khôn ngoan biết nhận ra những gì có thể làm hỏng mối quan hệ: mặc cảm tội lỗi khi cảm thấy có ham muốn tình dục, những hổ thẹn sai lầm, những ám ảnh tâm lý trong quá khứ để lại hậu quả tiêu cực cho cuộc sống tình dục hiện tại, những nỗi sợ hãi có nguồn gốc từ môi trường văn hóa hay từ những trải nghiệm thất bại… Những bất cập trong đời sống tình dục vợ chồng thường có nguyên nhân sâu xa nhưng lại hay bị che giấu hay ngụy trang dưới cái vẻ ngoài cao đạo để phải sống trong sự cam chịu cho cả hai người.

Sự bộc lộ mạnh dạn nói trên có thể có ý nghĩa như một cách giải tỏa và cho thấy có sự không thỏa mãn trong đời sống vợ chồng. Nếu tình trạng này kéo dài có thể dẫn đến nhiều bất lợi cho sức khỏe (rối nhiễu tâm trí, trầm cảm, kể cả lãnh cảm…) thậm chí rạn nứt, tan vỡ gia đình.

Nếu không thể tự giải quyết giữa vợ chồng hãy tìm đến các chuyên gia tâm lý và tình dục để được tư vấn, khám phá “cái tôi tính dục thầm kín” và những giải pháp phải lựa chọn.

BS.Đào Hồng Anh

Có cần thiết phải kiêng quan hệ khi vợ mang thai?

Theo quan niệm cũ, để bảo đảm sức khỏe cho bà mẹ và thai nhi, các ông chồng phải “ăn nhạt” trong suốt thời gian người vợ có thai, thậm chí, việc kiêng cữ vẫn tiếp tục cho đến khi em bé trong 3 tháng.

Điều đó đã dẫn đến những chuyện dở khóc dở cười, thậm chí gây bệnh cả thể chất và tinh thần cho những cặp vợ chồng trẻ sung sức. Ngày nay, sau nhiều nghiên cứu, khoa học đã chứng minh, việc quan hệ tình dục khi mang thai không ảnh hưởng đến sức khoẻ của bà mẹ và em bé. Em bé được bảo vệ rất kín trong túi ối, cổ tử cung được đóng kín bằng chất nhầy đặc (gọi là nút cổ tử cung), nên các tác động của quá trình yêu đương của bố mẹ không thể gây hại cho thai nhi. Không những không có hại, mà trạng thái cực khoái của người mẹ còn có tác dụng ru thai nhi vì nó làm giải phóng một loại hormon kích thích co bóp dạ con. Trong nhiều trường hợp, “chuyện ấy” còn giúp tinh thần người mẹ phấn chấn hơn, việc sinh nở cũng dễ dàng hơn.

Việc vẫn tiếp tục quan hệ tình dục khi có thai không phản khoa học, nhưng các cặp vợ chồng cần lưu ý để bảo đảm an toàn cho sức khoẻ tinh thần cũng như thể chất của cả mẹ và thai nhi: Những phụ nữ đã sảy thai vài lần, nhau thai bám thấp, có vấn đề bất thường cổ tử cung… nên tránh sinh hoạt tình dục trong những tháng đầu mang thai. Có tiền sử sảy thai, đẻ non ở lần có thai trước nên cẩn thận khi quan hệ tình dục trong giai đoạn 3 tháng đầu hoặc 3 tháng cuối vì sẽ kích thích làm tử cung co bóp đẩy thai ra ngoài. Trường hợp nhau tiền đạo không nên quan hệ tình dục ở 3 tháng cuối thai kỳ vì dễ bị chảy máu. Nếu thấy đau bụng hoặc ra huyết sau khi quan hệ thì phải dừng chuyện ấy lại ít nhất 2 tuần sau đó và đi tư vấn bác sĩ. Thai phụ mắc bệnh tăng huyết áp, mang thai đôi, người chồng có bệnh lây qua đường tình dục, gần đến ngày sinh… nếu muốn quan hệ vợ chồng cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Với các trường hợp mẹ bị suy dinh dưỡng nặng, tăng cân ít, da xanh, thai bị suy dinh dưỡng cần cân nhắc khi quan hệ tình dục. Do tinh trùng có chứa hormon prostaglandin kích thích sự co bóp nên muốn thực sự an toàn, khi sinh hoạt vợ chồng nên dùng bao cao su.

Có một điều các bà bầu cần đặc biệt chú ý đến việc theo dõi xem sau quan hệ tình dục cơ thể có những phản ứng đặc biệt không. Nếu có bất thường như đau bụng, ra huyết… phải đến khám bác sĩ sản khoa để được theo dõi và điều trị kịp thời.

BS. Phương Thu

Uống nước trị mụn, cho làn da sáng đẹp

Gần 60% đến 70% của cơ thể chúng ta là nước, vì vậy bạn cũng có thể tưởng tượng tầm quan trọng của nước đối với hệ thống cơ thể chúng ta. Cơ thể chúng ta cần một lượng nước nhất định hàng ngày cho các hoạt động, thiếu nước có thể gây ra các vấn đề sức khỏe, từ nhỏ đến nghiêm trọng.

Mụn trứng cá là một nguyên nhân gây ra mối quan tâm cho hàng triệu cá nhân trên toàn thế giới, không phân biệt tuổi tác và giới tính, và nó là một trong những vấn đề xuất phát từ chuyện cơ thể không đủ nước. Trong bài viết này, chúng ta sẽ tìm hiểu làm sao để giảm mụn trứng cá nhờ uống.

Mụn trứng cá có thể được gây ra do bất kỳ một trong những lý do sau đây:

• Cơ thể trải qua những thay đổi và mất cân bằng hormone
• Căng thẳng
• Khi các tế bào da chết tích tụ trên da và làm tắc nghẽn các lỗ của tuyến bã nhờn
• Do một số bệnh về da
• Lối sống
• Liên tục dùng tay cọ xát trên mặt
• Tích tụ chất độc trong cơ thể
• Vi khuẩn
• Thói quen ăn uống không lành mạnh
• Rối loạn tiêu hóa
• Không giữ vệ sinh cá nhân
• Đôi khi nó có thể được di truyền

Tất cả những nguyên nhân này đều cần điều trị tích cực. Có một giải pháp đơn giản để làm cho mụn trứng cá giảm đi, đó là nước.

Uống nước giúp giảm mụn thế nào?

Cơ thể của chúng ta có một hệ thống xử lý chất độc hại, bao gồm thận và ruột. Khi hai cơ quan này bị quá tải, cơ thể phổi và da sẽ phải nhận nhiệm vụ xả các độc tố. Thận và ruột không hoạt động đúng nếu cơ thể của chúng ta không nhận được đủ nước, và do đó, những chất độc này cố gắng trốn thoát qua các lỗ chân lông của da, và các lỗ chân lông bị chặn lại, gây ra mụn. Uống đủ nước là cách tốt nhất để thận làm việc tốt, cơ thể được bài độc tốt hơn. Cơ thể thiếu nước có thể dẫn đến rối loạn chức năng ruột – nguyên nhân hàng đầu khiến các độc tố bị ứ đọng , gây ra mụn trứng cá. Do vậy, uống nước thực sự sẽ giúp giảm mụn trứng cá.

Mỗi tế bào trong cơ thể của chúng ta có chứa nước, và điều này giúp cơ thể giữ nước để khỏe mạnh. Nếu thiếu nước, các tế bào sẽ bị khô, dẫn đến quá trình khử nước trong da, làm cho da bị nứt và khô, dễ bị vi khuẩn hơn so với da giữ nước và dưỡng ẩm. Từ đó làm gia tăng mụn trứng một cách nhanh chóng. Uống đủ nước cũng làm cho làn da bạn sáng hơn và mịn màng hơn, giảm mụn trứng cá.

Căng thẳng cơ thể tiết ra một số hormone kích thích mụn phát triển. Uống nước làm loãng các hormone đó ở một mức độ không gây ra mụn trứng cá, do vậy mụn trứng cá giảm đáng kể. Bên cạnh đó nước, uống trà thảo dược cũng sẽ giúp đỡ trong việc làm giảm hiệu quả của cortisol, nhưng nước là lựa chọn an toàn nhất vì không có tác dụng phụ grain ảnh hưởng tiêu cực.

Uống bao nhiêu nước mỗi ngày?

Các tiêu chuẩn trước đây luôn cho rằng uống 8 ly nước mỗi ngày là thích hợp với mỗi cá nhân. Nhưng không phải mọi người đều cần uống 8 ly nước mỗi ngày. Cơ thể của chúng ta là một máy có khả năng đáng kinh ngạc là chăm sóc bản thân và đưa ra dấu hiệu khi có cái gì đó sai. Ví dụ như màu sắc nước tiểu là dấu hiệu cảnh báo cơ thể bạn thiếu nước grain không. Chỉ khi nào nước tiểu có màu trong thì mới dám chắc cơ thể tạm thời đủ nước. Một số người đòi hỏi ít nước hơn, trong khi những người khác đòi hỏi nhiều.

Theo afamily